Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 07:54 | 07/09/2026
Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.

NCS. Hồ Hồng Phúc

Công ty TNHH Thiết bị Viễn thông ANSV

Email: hongphuc.hvtc@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả cho thấy 8 trên 9 giả thuyết được chấp nhận, trong đó khả năng sinh lời (ROA), chuyển đổi số (DIG) và quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động tích cực mạnh nhất đến chất lượng tín dụng; tăng trưởng tín dụng và lạm phát có tác động tiêu cực. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và tăng cường năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Từ khóa: Chất lượng tín dụng, ngân hàng thương mại, quản trị rủi ro tín dụng, chuyển đổi số, Việt Nam

Abstract

This study examines the factors affecting the credit quality of 20 Vietnamese commercial banks during the 2020-2025 period using a balanced panel dataset of 100 observations and the fixed effects model (FEM). The empirical results indicate that eight out of nine hypotheses are supported. Among the examined factors, profitability (ROA), digital transformation (DIG), and bank size (SIZE) have the strongest positive effects on credit quality, whereas credit growth and inflation exert negative effects. The findings provide empirical evidence and managerial implications for improving credit quality and strengthening credit risk management in Vietnamese commercial banks.

Keywords: Credit quality, commercial banks, credit risk management, digital transformation, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động tín dụng là chức năng cốt lõi và nguồn thu nhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại (NHTM), đồng thời cũng là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro lớn nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và sự ổn định của hệ thống tài chính. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chịu tác động của biến động kinh tế toàn cầu, áp lực lạm phát, quá trình chuyển đổi số và yêu cầu triển khai các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế như Basel II và Basel III, việc nâng cao chất lượng tín dụng đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các NHTM nhằm tăng cường năng lực chống chịu rủi ro và phát triển bền vững.

Chất lượng tín dụng phản ánh mức độ an toàn và hiệu quả của hoạt động cấp tín dụng thông qua khả năng thu hồi nợ, kiểm soát nợ xấu và sử dụng vốn hiệu quả. Mặc dù hệ thống NHTM Việt Nam đã có nhiều cải thiện trong quản trị rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố. Các yếu tố nội tại như quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời, năng lực quản trị và quản lý rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng tín dụng và nợ xấu (Tran & Phan, 2020; Dang et al., 2024; Nguyen, 2025). Bên cạnh đó, các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế và lạm phát cũng tác động đến khả năng trả nợ và mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng (Vo et al., 2020; Nguyen, 2025). Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động ngân hàng cũng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng quản trị và kiểm soát rủi ro tín dụng.

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, tuy nhiên kết quả còn chưa thống nhất do sự khác biệt về bối cảnh nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và đặc điểm của từng hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, tại Việt Nam, các nghiên cứu tích hợp đồng thời các yếu tố nội tại, yếu tố vĩ mô và chuyển đổi số trong cùng một mô hình phân tích vẫn còn hạn chế. Đây là khoảng trống nghiên cứu cần được tiếp tục làm rõ nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ công tác quản trị và hoạch định chính sách.

Xuất phát từ đó, nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam” được thực hiện nhằm xác định và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng tín dụng. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung cơ sở lý luận mà còn đề xuất các hàm ý quản trị và khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường hiệu quả quản trị rủi ro và thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chất lượng tín dụng phản ánh mức độ an toàn, hiệu quả và khả năng thu hồi vốn của hoạt động cấp tín dụng, đồng thời là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập tài chính quốc tế và triển khai Basel III, chất lượng tín dụng không chỉ chịu tác động của các yếu tố truyền thống như quy mô ngân hàng, năng lực tài chính và khả năng sinh lời mà còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ ứng dụng công nghệ số, quản trị dữ liệu và năng lực quản trị rủi ro. Nhiều nghiên cứu gần đây khẳng định chuyển đổi số góp phần giảm bất cân xứng thông tin, nâng cao chất lượng thẩm định, giám sát tín dụng và kiểm soát nợ xấu, trong khi việc áp dụng các chuẩn mực Basel giúp tăng cường năng lực an toàn vốn và khả năng chống chịu rủi ro của ngân hàng.

Về phương diện lý luận, nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết đại diện, lý thuyết trung gian tài chính và lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng theo Basel (Bảng 1). Các lý thuyết này cho rằng chất lượng tín dụng phụ thuộc vào khả năng thu thập và xử lý thông tin, hiệu quả quản trị, năng lực tài chính và mức độ kiểm soát rủi ro của ngân hàng.

Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu xác định 3 nhóm nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng gồm: (i) nhóm nhân tố nội tại của ngân hàng (quy mô, tỷ lệ an toàn vốn, khả năng sinh lời, thanh khoản, hiệu quả quản trị và chuyển đổi số); (ii) nhóm nhân tố thuộc khách hàng vay; và (iii) nhóm nhân tố kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, lạm phát và môi trường kinh doanh). Đây là cơ sở lý luận để xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

Bảng 1: Tổng hợp các lý thuyết nền tảng của nghiên cứu

Lý thuyết

Tác giả gốc

Nội dung cốt lõi

Ý nghĩa đối với chất lượng tín dụng

Nghiên cứu kế thừa (2021–2025)

Thông tin bất cân xứng (Information Asymmetry Theory)

Stiglitz & Weiss (1981)

Thông tin không cân xứng giữa ngân hàng và khách hàng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.

Nâng cao chất lượng thông tin và thẩm định giúp cải thiện chất lượng tín dụng.

Nghiên cứu về AI, Big Data và chấm điểm tín dụng thông minh.

Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Jensen & Meckling (1976)

Xung đột lợi ích giữa cổ đông, nhà quản lý và cán bộ tín dụng làm gia tăng rủi ro.

Quản trị doanh nghiệp và kiểm soát nội bộ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.

Các nghiên cứu về quản trị ngân hàng và quản trị rủi ro giai đoạn 2021–2025.

Lý thuyết trung gian tài chính (Financial Intermediation Theory)

Diamond (1984)

Ngân hàng có lợi thế trong thu thập và xử lý thông tin tín dụng.

Cải thiện phân bổ vốn và giảm rủi ro tín dụng.

Các nghiên cứu về chuyển đổi số trong ngân hàng.

Lý thuyết quản trị rủi ro theo Basel

Basel Committee

Quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nhận diện, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro.

Basel II/III giúp giảm nợ xấu và nâng cao chất lượng tín dụng.

Nghiên cứu về tác động của Basel III đối với ngân hàng Việt Nam.

Lý thuyết chuyển đổi số trong ngân hàng

Nghiên cứu hiện đại

Chuyển đổi số, AI và Big Data nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro và quyết định tín dụng.

Cải thiện chấm điểm tín dụng, giám sát khoản vay và giảm rủi ro tín dụng.

Các nghiên cứu tổng quan và thực nghiệm giai đoạn 2024–2025.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết đại diện, lý thuyết trung gian tài chính, lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng theo Basel và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, nghiên cứu đề xuất mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu (Hình) đề xuất được xây dựng như sau:

CQTD = β₀ + β₁SIZE + β₂CAR + β₃ROA + β₄LIQ + β₅CIR + β₆CREDITG + β₇DIG + β₈GDP + β₉INF + ε

Trong đó:

Chất lượng tín dụng (CQTD) được lựa chọn là biến phụ thuộc đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu hoặc chỉ số phản ánh chất lượng tín dụng;

Các biến độc lập bao gồm: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ an toàn vốn (CAR), khả năng sinh lời (ROA), khả năng thanh khoản (LIQ), hiệu quả quản lý chi phí (CIR), tăng trưởng tín dụng (CREDITG), chuyển đổi số (DIG), tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát (INF);

ε: Sai số ngẫu nhiên.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nguồn: Tác giả đề xuất

Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết đại diện, lý thuyết trung gian tài chính và lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng theo Basel, nghiên cứu cho rằng chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại chịu tác động đồng thời bởi các nhân tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Trong đó, các yếu tố nội tại phản ánh năng lực tài chính, hiệu quả quản trị và khả năng kiểm soát rủi ro của ngân hàng, trong khi các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. Bên cạnh đó, chuyển đổi số được xem là nhân tố mới góp phần nâng cao chất lượng thông tin, cải thiện quy trình cấp tín dụng và tăng cường hiệu quả quản trị rủi ro.

Các nghiên cứu trước cho thấy quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ an toàn vốn (CAR), khả năng sinh lời (ROA), khả năng thanh khoản (LIQ), hiệu quả quản lý chi phí (CIR), chuyển đổi số (DIG) và tăng trưởng kinh tế (GDP) có xu hướng tác động tích cực đến chất lượng tín dụng. Ngược lại, tăng trưởng tín dụng quá mức (CREDITG) và lạm phát (INF) có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng tín dụng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất chín giả thuyết nhằm kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố này với chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam tại Bảng 2.

Bảng 2: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết

Biến nghiên cứu

Kỳ vọng dấu

H1

Quy mô ngân hàng (SIZE)

+

H2

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR)

+

H3

Khả năng sinh lời (ROA)

+

H4

Thanh khoản (LIQ)

+

H5

Hiệu quả quản lý chi phí (CIR)

+

H6

Tăng trưởng tín dụng (CREDITG)

H7

Chuyển đổi số (DIG)

+

H8

Tăng trưởng kinh tế (GDP)

+

H9

Lạm phát (INF)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dữ liệu (giả định) được thu thập từ 20 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2020–2025, với 100 quan sát từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và báo cáo quản trị.

Dữ liệu được xử lý bằng STATA thông qua thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM). Mô hình phù hợp được lựa chọn bằng các kiểm định F, Breusch–Pagan và Hausman, đồng thời sử dụng sai số chuẩn vững để bảo đảm tính tin cậy của kết quả ước lượng.

Kết quả nghiên cứu

Thống kê mô tả các biến nghiên cứu

Kết quả thống kê mô tả cho thấy chất lượng tín dụng bình quân của các ngân hàng đạt 98,18 điểm, tương ứng với tỷ lệ nợ xấu bình quân khoảng 1,82%. Giá trị CQTD dao động từ 96,55 đến 99,38 điểm, phản ánh sự khác biệt nhất định về khả năng kiểm soát nợ xấu giữa các ngân hàng (Bảng 3).

Bảng 3: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu

Biến

Số quan sát

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Nhỏ nhất

Lớn nhất

CQTD

100

98,18

0,68

96,55

99,38

SIZE

100

19,47

1,02

17,21

21,54

CAR

100

11,42

2,18

8,12

17,86

ROA

100

1,39

0,61

0,18

3,08

LIQ

100

19,84

5,37

10,26

34,71

CIR

100

36,52

8,14

21,46

58,32

CREDITG

100

13,76

6,83

−2,15

31,42

DIG

100

3,61

0,72

2,10

4,90

GDP

100

5,21

2,47

2,56

8,02

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả

Tỷ lệ an toàn vốn bình quân đạt 11,42%, trong khi ROA bình quân đạt 1,39%. Tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 13,76%, nhưng dao động tương đối lớn giữa các ngân hàng và các năm. Chỉ số chuyển đổi số đạt trung bình 3,61 trên thang điểm 5, cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ số trong hoạt động tín dụng có xu hướng gia tăng.

Phân tích tương quan và kiểm định đa cộng tuyến

Kết quả phân tích tương quan cho thấy CQTD có tương quan thuận với SIZE, CAR, ROA, LIQ, DIG và GDP; đồng thời có tương quan nghịch với CIR, CREDITG và INF. Chiều hướng tương quan về cơ bản phù hợp với các giả thuyết nghiên cứu đã đề xuất.

Hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều nhỏ hơn 0,8. Đồng thời, hệ số phóng đại phương sai VIF dao động từ 1,23 đến 2,74 và VIF trung bình đạt 1,86, thấp hơn ngưỡng 10. Do đó, mô hình không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (Bảng 4).

Bảng 4: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến

Biến

VIF

1/VIF

SIZE

2,74

0,365

CAR

1,68

0,595

ROA

2,21

0,452

LIQ

1,46

0,685

CIR

1,72

0,581

CREDITG

1,57

0,637

DIG

2,43

0,412

GDP

1,71

0,585

INF

1,23

0,813

VIF trung bình

1,86

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả.

Kết quả trên cho thấy các biến độc lập có thể được đưa đồng thời vào mô hình hồi quy mà không làm sai lệch đáng kể kết quả ước lượng.

Lựa chọn mô hình hồi quy

Nghiên cứu lần lượt ước lượng mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Kết quả kiểm định F có giá trị p = 0,000, cho thấy mô hình FEM phù hợp hơn Pooled OLS. Kiểm định Breusch–Pagan cũng có ý nghĩa thống kê với p = 0,000, cho thấy REM phù hợp hơn Pooled OLS.

Tiếp theo, kiểm định Hausman có giá trị Chi-square bằng 25,684 và p = 0,002, do đó giả thuyết về sự khác biệt không có tính hệ thống giữa FEM và REM bị bác bỏ. Vì vậy, mô hình tác động cố định được lựa chọn để phân tích kết quả nghiên cứu (Bảng 5).

Bảng 5: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình

Kiểm định

Giá trị thống kê

p-value

Kết luận

F-test

6,824

0,000

Lựa chọn FEM thay cho Pooled OLS

Breusch–Pagan LM

42,517

0,000

Lựa chọn REM thay cho Pooled OLS

Hausman

25,684

0,002

Lựa chọn FEM thay cho REM

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả.

Kết quả kiểm định Wald cho thấy mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi, trong khi kiểm định Wooldridge cho thấy tồn tại tự tương quan bậc nhất. Do đó, nghiên cứu sử dụng mô hình FEM với sai số chuẩn vững theo ngân hàng để khắc phục các khuyết tật của mô hình.

Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu

Kết quả ước lượng tại Bảng 6 cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê với giá trị Prob > F bằng 0,000. Hệ số xác định điều chỉnh đạt 0,716, cho thấy các biến độc lập trong mô hình giải thích được khoảng 71,6% sự biến động của chất lượng tín dụng.

Bảng 6: Kết quả ước lượng mô hình FEM với sai số chuẩn vững

Giả thuyết

Hệ số β

Sai số chuẩn

p-value

Kết quả

H1

0,184***

0,052

0,001

Chấp nhận

H2

0,126**

0,049

0,013

Chấp nhận

H3

0,238***

0,067

0,001

Chấp nhận

H4

0,091**

0,043

0,039

Chấp nhận

H5

−0,046

0,037

0,221

Không chấp nhận

H6

−0,157**

0,061

0,014

Chấp nhận

H7

0,213***

0,058

0,001

Chấp nhận

H8

0,109**

0,051

0,037

Chấp nhận

H9

−0,132**

0,057

0,025

Chấp nhận

Số quan sát: 100; Số ngân hàng: 20; R² hiệu chỉnh: 0,716; Prob > F: 0,000.

(*p<0,10; **p<0,05;***p<0,01)

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả.

Phương trình hồi quy ước lượng được xác định như sau:

CQTD=92,416+0,184SIZE+0,126CAR+0,238ROA+0,091LIQ-0,157CREDITG+0,213DIG+0,109GDP-0,132INF

Kết quả ước lượng cho thấy 8/9 giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận, khẳng định chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam chịu tác động đồng thời bởi các yếu tố nội tại và điều kiện kinh tế vĩ mô. Cụ thể, SIZE, CAR, ROA, LIQ, DIG và GDP có tác động tích cực, trong khi CREDITG và INF có tác động tiêu cực đến chất lượng tín dụng. Riêng biến CIR không có ý nghĩa thống kê.

Trong các nhân tố nghiên cứu, ROA có tác động mạnh nhất, tiếp theo là DIG và SIZE, cho thấy năng lực sinh lời, mức độ chuyển đổi số và quy mô hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và tăng cường quản trị rủi ro.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trên cơ sở kết hợp các nền tảng lý thuyết về thông tin bất cân xứng, lý thuyết đại diện, lý thuyết trung gian tài chính và quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng đồng thời bởi các yếu tố nội tại của ngân hàng và các điều kiện kinh tế vĩ mô.

Kết quả hồi quy chỉ ra rằng 8 trong số 9 giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận. Trong đó, khả năng sinh lời, chuyển đổi số, quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh khoản và tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến chất lượng tín dụng; ngược lại, tăng trưởng tín dụng và lạm phát có tác động tiêu cực. Đặc biệt, khả năng sinh lời và chuyển đổi số được xác định là hai nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất, cho thấy năng lực tài chính và mức độ ứng dụng công nghệ số đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng và kiểm soát nợ xấu. Bên cạnh đó, biến hiệu quả quản lý chi phí chưa có ý nghĩa thống kê, phản ánh rằng chỉ tiêu này chưa phản ánh đầy đủ chất lượng quản trị tín dụng trong điều kiện các ngân hàng đang gia tăng đầu tư cho công nghệ, hạ tầng số và hiện đại hóa hoạt động.

Những kết quả đạt được không chỉ bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố quyết định chất lượng tín dụng trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập tài chính quốc tế, mà còn góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách quản trị rủi ro tín dụng theo hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu triển khai Basel III và chiến lược chuyển đổi số ngành ngân hàng.

Kiến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ nhất, các ngân hàng thương mại cần tiếp tục nâng cao năng lực tài chính và khả năng sinh lời thông qua tối ưu hóa cơ cấu tài sản, đa dạng hóa nguồn thu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và kiểm soát chi phí hoạt động. Năng lực tài chính vững mạnh không chỉ tạo điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh mà còn tăng cường khả năng đầu tư cho hệ thống quản trị rủi ro và chuyển đổi số.

Thứ hai, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình cấp tín dụng, từ thu thập dữ liệu, chấm điểm tín dụng, thẩm định khách hàng đến giám sát sau cho vay. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), học máy (Machine Learning) và phân tích dữ liệu thời gian thực sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin, giảm bất cân xứng thông tin, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và kiểm soát nợ xấu.

Thứ ba, các ngân hàng cần kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với năng lực quản trị rủi ro và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Chính sách tăng trưởng tín dụng cần chuyển từ mục tiêu mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hiệu quả và hạn chế cấp tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.

Thứ tư, cần tiếp tục củng cố năng lực an toàn vốn theo các chuẩn mực Basel II và hướng tới Basel III, đồng thời nâng cao chất lượng hệ thống quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế. Việc hoàn thiện mô hình quản trị ba tuyến phòng thủ, tăng cường kiểm toán nội bộ, ứng dụng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ và các hệ thống cảnh báo sớm sẽ góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng.

Thứ năm, đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động tín dụng, thúc đẩy phát triển hạ tầng dữ liệu tài chính quốc gia, mở rộng khả năng kết nối và khai thác dữ liệu từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC), đồng thời khuyến khích các ngân hàng đầu tư mạnh hơn vào chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong quản trị rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, việc điều hành chính sách tiền tệ cần được thực hiện linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tín dụng phát triển an toàn và bền vững.

Mặc dù đã đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định về phạm vi mẫu và số lượng biến giải thích. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng quy mô mẫu, kéo dài thời gian quan sát và bổ sung các nhân tố mới như quản trị doanh nghiệp, rủi ro khí hậu, tài chính xanh, tiêu chí ESG hoặc trí tuệ nhân tạo trong quản trị tín dụng nhằm nâng cao khả năng giải thích của mô hình và cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững của ngành ngân hàng.

Tài liệu tham khảo:

1. Basel Committee on Banking Supervision. (2019). Principles for the management of credit risk. Bank for International Settlements.

2. Basel Committee on Banking Supervision. (2023). Basel III: Finalising post-crisis reforms. Bank for International Settlements.

3. Dang, T. M. D., Zahra, S., Tran, H. V. L., Ninh, M. P., Bui, P. A., Le, B. T. X., & Vo, D. U. T. (2024). Impact of credit risk management on profitability of commercial banks: A case study in Vietnam. Thu Dau Mot University Journal of Science, 6(3). https://doi.org/10.37550/tdmu.EJS/2024.03.591.

4. Diamond, D. W. (1984). Financial intermediation and delegated monitoring. Review of Economic Studies, 51(3), 393–414.

5. Freeman, R. E., Phillips, R., & Sisodia, R. (2020). Tensions in stakeholder theory. Business & Society, 59(2), 213–231.

6. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305–360.

7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. (2021). Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. (2024). Báo cáo thường niên ngành Ngân hàng năm 2023.

9. Ngô Đức Tiến. (2023a). Ảnh hưởng của thẩm định tín dụng đến hiệu quả cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, (9), 57–62.

10. Ngô Đức Tiến. (2023b). Phát triển ngân hàng số ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, (1), 60–64.

11. Nguyễn Văn Tiến. (2022). Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Thống kê.

12. Nguyen, P. D. (2024). Determinants of bank profitability in Vietnam: A focus on financial and COVID-19 crises. Journal of Business Economics and Management, 25(4), 709–730. https://doi.org/10.3846/jbem.2024.22070.

13. Nguyen, P. D. (2025). Non-performing loans and bank profitability: Evidence from Vietnam. Macroeconomics and Finance in Emerging Market Economies, 18(2), 399–419. https://doi.org/10.1080/17520843.2024.2318927.

14. Tran, D. T. T., & Phan, H. T. T. (2020). Bank size, credit risk and bank profitability in Vietnam. Journal of Economic Development, 27(2), 233–251.

15. Vo, M. L., Nguyen, T. Y., & Pham, D. L. (2020). Factors affecting non-performing loans (NPLs) of banks: The case of Vietnam. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science, 10(2). https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.econ.en.10.2.967.2020.

Ngày nhận bài: 18/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/8/2026; Ngày duyệt đăng: 4/9/2026

Các tin khác

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên thông dữ liệu, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của Estonia và Hàn Quốc trong xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ và quản trị dữ liệu công. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dữ liệu công hiệu quả tại Việt Nam.
Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Kết quả phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Số hóa giúp ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí và tái cấu trúc dịch vụ tài chính.
Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Nghiên cứu phân tích tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại các thành phố Việt Nam giai đoạn 2012-2024. Kết quả cho thấy phân cấp chi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng thể chế cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Tổng hợp các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số cho thấy các khoảng trống: Các nhóm nguồn lực công nghệ, tổ chức và cá nhân phần lớn được nghiên cứu độc lập; nguồn lực tổ chức số chưa được tích hợp thành khái niệm bậc cao; vai trò trung gian của vốn tâm lý giữa cả 2 nhóm nguồn lực và sự gắn kết với công việc của nhân viên chưa được kiểm định đồng thời; và bằng chứng tại doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh, còn thiếu vắng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Khởi nghiệp xã hội đã và đang trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.