Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 16:47 | 07/09/2026
Kết quả phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành.

Trương Công Giáp

NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh

Email: conggiapxdna@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích hệ thống tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025, dựa trên tiếp cận phân tích tài liệu, tổng hợp số liệu thứ cấp và so sánh theo chuỗi kết quả quản lý. Kết quả cho thấy Tỉnh đã từng bước hình thành nền tảng thể chế, lồng ghép nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, xử lý phụ phẩm và liên kết chuỗi giá trị trong chương trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và OCOP. Tuy nhiên, mức độ tuần hoàn còn thiếu đồng đều; hoạt động chủ yếu vẫn dừng ở quy mô mô hình, hộ và trang trại; hệ thống dữ liệu về phụ phẩm, tỷ lệ tái sử dụng, giảm phát thải và hiệu quả đầu tư công chưa đầy đủ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất Nghệ An xây dựng bộ chỉ số kinh tế tuần hoàn nông nghiệp cấp tỉnh, tổ chức vùng nguyên liệu phụ phẩm, hỗ trợ tín dụng xanh và đổi mới công nghệ, gắn cơ chế khuyến khích với kết quả tái sử dụng vật chất và giảm phát thải.

Từ khóa: Kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp, quản lý nhà nước, tiêu chí đánh giá, Nghệ An

Abstract

This study analyzes the evaluation criteria for state management of the circular economy in agriculture in Nghe An Province during the 2020-2025 period, based on document analysis, the synthesis of secondary data, and comparisons along the management results chain. The findings indicate that the Province has gradually established an institutional foundation by integrating organic agriculture, high-tech agriculture, by-product treatment, and value chain linkages into agricultural development programs, the New Rural Development Program, and the One Commune One Product (OCOP) Program. However, the level of circularity remains uneven, with activities largely limited to pilot models, households, and farms. Data systems on agricultural by-products, reuse rates, emission reductions, and the effectiveness of public investment remain incomplete. Based on these findings, the study proposes that Nghe An develop a provincial-level set of agricultural circular economy indicators, establish by-product raw material zones, support green finance and technological innovation, and link incentive mechanisms to material reuse and emission reduction outcomes.

Keywords: Circular economy, agriculture, state management, evaluation criteria, Nghe An Province

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) đang trở thành một định hướng phát triển quan trọng nhằm xử lý đồng thời 3 sức ép: cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất. Theo khoản 1 Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ hướng đến giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu; kéo dài vòng đời sản phẩm; hạn chế chất thải phát sinh; và giảm tác động bất lợi đối với môi trường (Quốc hội, 2020). Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp để các địa phương lồng ghép KTTH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội (Geissdoerfer và cộng sự, 2017; Ghisellini và cộng sự, 2016).

Trong nông nghiệp, KTTH không đơn thuần là xử lý chất thải sau sản xuất, mà là tổ chức lại dòng vật chất và dòng giá trị trong toàn bộ chuỗi nông nghiệp: phụ phẩm trồng trọt được chế biến thành phân hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, giá thể hoặc năng lượng sinh học; chất thải chăn nuôi được xử lý thành biogas, phân bón hữu cơ hoặc nguyên liệu nuôi trùn quế; nước và bã thải thủy sản được tái sử dụng có kiểm soát; sản phẩm phụ từ chế biến nông sản được phát triển thành sản phẩm mới có giá trị gia tăng. Kết quả KTTH không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước (QLNN) về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành (Jurgilevich và cộng sự, 2016; Geissdoerfer và cộng sự, 2017).

Nghệ An có diện tích tự nhiên lớn, địa bàn trải rộng từ miền núi, trung du đến đồng bằng và ven biển; đồng thời sở hữu cơ cấu nông nghiệp đa dạng gồm trồng lúa, ngô, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi bò sữa, bò thịt, lợn, gia cầm, lâm nghiệp và thủy sản. Sự đa dạng này tạo điều kiện để hình thành các vòng tuần hoàn sinh học đa cấp độ, song cũng làm tăng chi phí thu gom, phân loại, vận chuyển và kiểm soát môi trường.

Giai đoạn 2020-2025, việc phát triển nông nghiệp xanh tại Nghệ An ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Đến năm 2025, Tỉnh có 722 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, trong đó 278 HTX có liên kết sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị. Đây là những điều kiện tổ chức quan trọng cho việc tập trung phụ phẩm, thực hiện truy xuất nguồn gốc, đầu tư công nghệ xử lý và phân phối đầu ra tuần hoàn (Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An, 2025; Báo Nghệ An, 2025).

Tuy nhiên, đánh giá QLNN về KTTH nông nghiệp hiện còn thiên về xem xét số lượng mô hình, diện tích sản xuất hữu cơ hoặc kết quả phong trào. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh cốt lõi: mức độ hoàn thiện của thể chế; tính nhất quán trong thực thi; tỷ lệ thu hồi phụ phẩm; hiệu quả của hỗ trợ công; khả năng thương mại hóa sản phẩm tuần hoàn; mức giảm phát thải; mức độ tham gia của doanh nghiệp, HTX và nông hộ. Do đó, nghiên cứu này tập trung trả lời câu hỏi: (i) Hệ thống tiêu chí nào phù hợp để đánh giá QLNN về KTTH trong nông nghiệp cấp tỉnh?; và (ii) thực tiễn tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025 cho thấy những thành tựu, hạn chế và hàm ý chính sách nào?

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khái niệm và nội hàm quản lý nhà nước

QLNN về KTTH trong nông nghiệp được hiểu là hoạt động của cơ quan công quyền trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế hỗ trợ, tiêu chuẩn kỹ thuật, thanh tra - giám sát và các công cụ điều tiết nhằm thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên, tái tạo tài nguyên sinh học, hạn chế chất thải và tạo lập các chuỗi giá trị nông nghiệp ít phát thải (Quốc hội, 2020; Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Khác với quản lý môi trường theo hướng xử lý cuối đường ống, QLNN về KTTH phải điều phối từ khâu thiết kế chính sách đến tổ chức thị trường. Nhà nước không thay thế doanh nghiệp hoặc nông dân thực hiện tái chế, tái sử dụng, nhưng giữ vai trò kiến tạo thể chế, khắc phục thất bại thị trường, giảm rủi ro đầu tư ban đầu, chuẩn hóa chất lượng sản phẩm tuần hoàn và bảo đảm không phát sinh rủi ro môi trường thứ cấp (Geissdoerfer và cộng sự, 2017; Ghisellini và cộng sự, 2016).

Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa trên 3 nguyên tắc. Thứ nhất, nguyên tắc khép kín dòng vật chất: phụ phẩm phải được coi là nguồn tài nguyên thứ cấp. Thứ hai, nguyên tắc hiệu quả đa chiều: KTTH chỉ bền vững khi đồng thời tạo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Thứ ba, nguyên tắc quản trị theo kết quả, trong đó hiệu quả QLNN không chỉ được đo qua số văn bản ban hành hay số mô hình hỗ trợ, mà cần được đo qua chuyển biến thực chất về tái sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và thu nhập của chủ thể sản xuất (Geissdoerfer và cộng sự, 2017; Jurgilevich và cộng sự, 2016).

Hệ thống tiêu chí đánh giá đề xuất

Trên cơ sở lý thuyết quản trị công theo kết quả và đặc điểm của KTTH nông nghiệp, nghiên cứu đề xuất 6 nhóm tiêu chí đánh giá QLNN cấp tỉnh (Geissdoerfer và cộng sự, 2017; Ghisellini và cộng sự, 2016) (Bảng 1).

Bảng 1: Các nhóm tiêu chí đề xuất

Nhóm tiêu chí

Nội dung đánh giá chủ yếu

Chỉ báo gợi ý

Thể chế, chiến lược và quy hoạch

Mức độ cụ thể hóa pháp luật trung ương; lồng ghép KTTH vào quy hoạch, chương trình, đề án nông nghiệp

Số văn bản/chương trình có nội dung KTTH; sự rõ ràng của mục tiêu, trách nhiệm, nguồn lực

Tổ chức thực thi và phối hợp

Năng lực điều hành của cơ quan chuyên môn; cơ chế phối hợp nông nghiệp - môi trường - khoa học công nghệ - tài chính - địa phương

Số mô hình được hướng dẫn; tỷ lệ cán bộ được tập huấn; cơ chế liên ngành

Huy động nguồn lực

Đầu tư công, tín dụng, khuyến nông, khoa học công nghệ, doanh nghiệp và HTX

Vốn hỗ trợ; số doanh nghiệp/HTX tham gia; thiết bị và công nghệ xử lý phụ phẩm

Mức độ tuần hoàn tài nguyên

Thu gom, phân loại, tái sử dụng phụ phẩm; sử dụng phân hữu cơ, biogas, đệm lót sinh học, nước tuần hoàn

Tỷ lệ phụ phẩm được thu gom/tái sử dụng; khối lượng phân hữu cơ; lượng chất thải xử lý

Kết quả kinh tế, xã hội, môi trường

Hiệu quả sản xuất, thu nhập, việc làm, giảm chi phí đầu vào, giảm đốt phụ phẩm và ô nhiễm

Giá trị gia tăng; thu nhập; chi phí vật tư; mức giảm phát sinh chất thải/phát thải

Dữ liệu, giám sát và sự tham gia

Hệ thống dữ liệu, kiểm tra, công khai kết quả và đồng quản trị của cộng đồng

Cơ sở dữ liệu phụ phẩm; tỷ lệ mô hình được giám sát; phản hồi của người dân và doanh nghiệp

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp. Nguồn dữ liệu gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; các văn bản triển khai KTTH; thông cáo kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An; thông tin từ cơ quan chuyên môn, khuyến nông và các công bố khoa học, báo cáo thực tiễn có liên quan. (Quốc hội, 2020; Thủ tướng Chính phủ, 2022; Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An, 2024, 2025).

Phương pháp phân tích gồm 3 bước: Thứ nhất, hệ thống hóa chính sách và nhận diện chức năng QLNN đối với KTTH nông nghiệp; Thứ hai, tổng hợp dữ liệu giai đoạn 2020-2025 theo các nhóm chỉ báo về nông nghiệp, phụ phẩm, tổ chức sản xuất, hữu cơ và mô hình tuần hoàn; Thứ ba, so sánh theo thời gian và giữa kết quả thực tế với yêu cầu của mô hình KTTH để nhận diện khoảng trống quản lý (Creswell và Creswell, 2018).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Nền tảng thể chế và tổ chức thực hiện

Khung pháp lý quốc gia đã tạo cơ sở tương đối rõ cho các địa phương phát triển KTTH. Luật Bảo vệ môi trường lần đầu quy định trực tiếp về KTTH tại Điều 142; đồng thời, khoản 11 Điều 5 yêu cầu lồng ghép và thúc đẩy mô hình KTTH, kinh tế xanh trong xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án và dự án phát triển kinh tế - xã hội. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa một số quy định của Luật, tạo nền tảng để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và các chủ thể liên quan (Quốc hội, 2020; Chính phủ, 2022).

Ở Nghệ An, định hướng KTTH trong nông nghiệp được tiếp cận chủ yếu thông qua các cấu phần của phát triển nông nghiệp bền vững: nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, phát triển trang trại, xử lý chất thải chăn nuôi, liên kết chuỗi, OCOP và xây dựng nông thôn mới. Tỉnh đã ban hành Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2022-2030 theo Quyết định số 3108/QĐ-UBND. Đây là bước tiến quan trọng vì sản xuất hữu cơ tạo động lực gia tăng nhu cầu sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học và truy xuất nguồn gốc, từ đó thúc đẩy tuần hoàn dinh dưỡng trong nông nghiệp (UBND tỉnh Nghệ An, 2022; Trung tâm Khuyến nông Nghệ An, 2025).

Mặt tích cực là QLNN đã chuyển dần từ cách tiếp cận tăng sản lượng thuần túy sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, an toàn thực phẩm, môi trường và giá trị gia tăng. Mặt hạn chế là KTTH chưa thực sự được tổ chức như một chương trình quản lý liên ngành có mục tiêu định lượng riêng. Khi không có chỉ tiêu chính thức về tỷ lệ phụ phẩm được thu hồi, lượng chất thải được chuyển hóa, lượng phân hữu cơ sản xuất hoặc phát thải giảm, các sở, ngành và chính quyền cơ sở khó xác định rõ trách nhiệm, kết quả phải đạt và cơ chế phối hợp.

Thực trạng các điều kiện và kết quả triển khai

Nghiên cứu cho thấy tiềm năng sinh khối của Nghệ An là đáng kể. Chỉ riêng rơm rạ, nếu một nửa trong khoảng 920.000 tấn chưa được sử dụng hiệu quả thì lượng sinh khối còn bỏ ngỏ có thể lên đến xấp xỉ 460.000 tấn/năm. Đây không phải là con số về lượng rơm bị đốt hoàn toàn, mà phản ánh phần phụ phẩm chưa được khai thác hiệu quả theo đánh giá của ngành trồng trọt thời điểm năm 2021. Về mặt quản lý, thông tin này hàm ý rằng vấn đề không chỉ nằm ở hành vi của nông dân mà còn ở sự thiếu hụt của mạng lưới thu gom, điểm tập kết, công nghệ sơ chế, thị trường tiêu thụ và cơ chế hỗ trợ chi phí giao dịch (Báo Nghệ An, 2021).

Một số mô hình thực tiễn đã thể hiện khả năng tuần hoàn nguồn lực. Trong trồng trọt, rơm rạ có thể được ủ thành phân hữu cơ, sử dụng làm giá thể trồng nấm hoặc làm thức ăn thô xanh sau xử lý phù hợp. Trong chăn nuôi, chất thải có thể được xử lý bằng hầm biogas, đệm lót sinh học, ủ compost hoặc kết hợp nuôi trùn quế. Các mô hình chế biến phụ phẩm làm thức ăn chăn nuôi, nuôi gà trên đệm lót sinh học, nuôi giun quế và chế biến rơm rạ thành phân hữu cơ đã được triển khai ở nhiều địa bàn trong tỉnh (Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An, 2024; Trung tâm Khuyến nông Nghệ An, 2025).

Về tổ chức sản xuất, sự gia tăng của HTX và liên kết chuỗi tạo ra khả năng giảm tính manh mún vốn là trở ngại lớn nhất đối với KTTH. Với 722 HTX nông nghiệp và 278 HTX có liên kết chuỗi giá trị trong năm 2025, Nghệ An có điều kiện chuyển sang mô hình HTX hoặc doanh nghiệp tổ chức dịch vụ tuần hoàn. Trong mô hình này, HTX có thể ký hợp đồng thu gom phụ phẩm, đầu tư máy cuốn rơm hoặc máy nghiền, phối hợp với doanh nghiệp sản xuất phân hữu cơ, đồng thời phân phối sản phẩm đầu ra cho vùng nguyên liệu (Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An, 2025; Báo Nghệ An, 2025).

Tuy vậy, hiệu quả quản lý chưa tương xứng với tiềm năng. Một nguồn đánh giá thực tiễn năm 2025 chỉ ra rằng kinh tế trang trại ở Nghệ An vẫn có quy mô nhỏ, phân tán và phát triển chưa đồng đều; vì thế số lượng mô hình KTTH trong nông nghiệp chưa nhiều. Điều này cho thấy việc nhân rộng mô hình không thể chỉ dựa vào tuyên truyền hay hỗ trợ kỹ thuật đơn lẻ; cần phát triển hạ tầng dịch vụ chung và hình thành cơ chế thị trường ổn định cho sản phẩm tái chế, tái sử dụng (Báo Nghệ An, 2025; Đại biểu Nhân dân, 2025).

Đánh giá theo bộ tiêu chí

Bảng 2: Khái quát về quản lý nhà nước đối với kinh tế tuần hoàn nông nghiệp ở Nghệ An

Nhóm

tiêu chí

Kết quả nổi bật giai đoạn 2020-2025

Hạn chế chủ yếu

Thể chế và định hướng

Có nền tảng từ Luật BVMT 2020; triển khai đề án nông nghiệp hữu cơ 2022-2030; định hướng nông nghiệp công nghệ cao, xanh và tuần hoàn

Chưa thấy bộ mục tiêu KTTH nông nghiệp định lượng, tích hợp đầy đủ theo ngành hàng và địa bàn

Tổ chức thực thi

Có sự tham gia của ngành nông nghiệp, khuyến nông, chính quyền cơ sở, HTX và tổ chức hội

Phối hợp liên ngành và phân công trách nhiệm về phụ phẩm, chất thải, phát thải chưa được lượng hóa rõ

Nguồn lực

Phát triển HTX, OCOP, nông thôn mới; xuất hiện doanh nghiệp và mô hình ứng dụng công nghệ

Thiếu cơ chế tài chính xanh, bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ đầu tư theo kết quả tuần hoàn

Hiệu quả tuần hoàn vật chất

Có mô hình sử dụng phụ phẩm, biogas, đệm lót sinh học, phân hữu cơ và sản xuất hữu cơ

Chưa có dữ liệu toàn tỉnh về thu gom, tái sử dụng phụ phẩm, chất thải chăn nuôi và tái sử dụng nước

Kết quả kinh tế - xã hội - môi trường

Nông nghiệp duy trì tăng trưởng; tăng số HTX liên kết; phát triển nông nghiệp hữu cơ và sản phẩm OCOP

Chưa đo lường thường xuyên giá trị gia tăng do KTTH, việc làm xanh, giảm chi phí đầu vào và giảm phát thải

Dữ liệu và giám sát

Có báo cáo kinh tế - xã hội và thông tin chuyên ngành

Dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa, chưa có hệ thống MRV về vật chất và phát thải nông nghiệp

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Về thể chế, Nghệ An đã có tiến bộ rõ rệt khi gắn nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển bền vững vào định hướng phát triển ngành. Tuy nhiên, các chính sách hiện hành thường tiếp cận theo từng lĩnh vực riêng: hữu cơ, chăn nuôi, trồng trọt, môi trường, nông thôn mới hoặc OCOP. Điều này dễ dẫn đến tình trạng có mô hình nhưng thiếu chuỗi tuần hoàn; nghĩa là phụ phẩm được xử lý tại một vài điểm nhưng chưa hình thành hệ sinh thái liên kết giữa nơi phát sinh, nơi thu gom, nơi chế biến và thị trường tiêu dùng (Tạp chí Cộng sản, 2024).

Về tổ chức thực thi, vai trò của HTX cần được xem là trung tâm. Trong sản xuất nông nghiệp manh mún, từng hộ khó có đủ vốn để mua máy móc xử lý phụ phẩm, khó bảo đảm quy mô nguyên liệu và khó tiếp cận thị trường phân hữu cơ hoặc sản phẩm sinh học. HTX có thể giải quyết các thất bại phối hợp này. Tuy nhiên, số lượng HTX lớn không đồng nghĩa với năng lực tuần hoàn cao; tiêu chí quản lý cần chuyển từ đếm số HTX sang đo số HTX có phương án thu gom phụ phẩm, hợp đồng tiêu thụ và sổ theo dõi đầu vào - đầu ra tuần hoàn (Đại biểu Nhân dân, 2025).

Về nguồn lực, cần nhìn nhận phụ phẩm là một dạng tài nguyên có chi phí khai thác. Ví dụ, rơm rạ có giá trị sinh học nhưng giá trị thương mại thấp nếu không được thu gom đồng bộ. Nếu toàn bộ chi phí máy móc, vận chuyển, xử lý và chứng nhận do nông dân tự gánh chịu thì phần lớn phụ phẩm sẽ tiếp tục bị bỏ lại tại đồng ruộng. Do đó, QLNN cần sử dụng linh hoạt các công cụ kinh tế: hỗ trợ đầu tư hạ tầng ban đầu; tín dụng ưu đãi cho máy móc thu gom - xử lý; hỗ trợ lãi suất; đặt hàng nghiên cứu công nghệ; ưu đãi đất đai cho cơ sở chế biến; mua sắm công xanh và hỗ trợ chứng nhận sản phẩm.

Về hiệu quả môi trường, khoảng trống lớn nhất là thiếu hệ thống đo lường. Việc một mô hình có sử dụng phụ phẩm không tự động chứng minh mô hình đó tuần hoàn và bền vững. Cần xác định rõ lượng phụ phẩm đầu vào, tỷ lệ chuyển hóa, sản phẩm đầu ra, năng lượng tiêu thụ, mức giảm phân bón hóa học, lượng chất thải thứ cấp và tác động tới đất, nước, không khí. Nếu không có các chỉ số này, cơ quan quản lý không thể so sánh hiệu quả giữa mô hình ủ phân, biogas, nuôi trùn quế, trồng nấm hay chế biến thức ăn chăn nuôi (Geissdoerfer và cộng sự, 2017).

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Thứ nhất, Nghệ An cần ban hành hoặc tích hợp một kế hoạch hành động KTTH trong nông nghiệp cấp tỉnh với mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Kế hoạch cần phân nhóm ngành hàng theo dòng phụ phẩm: lúa - rơm rạ; ngô - thân lá; mía - bã mía; chăn nuôi - phân và nước thải; thủy sản - bùn đáy, phụ phẩm chế biến; lâm nghiệp - phế phẩm gỗ. Mỗi dòng cần xác định nguồn phát sinh, công nghệ xử lý ưu tiên, đơn vị đầu mối, chỉ tiêu thu hồi và đầu ra thị trường (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Thứ hai, cần xây dựng bộ chỉ số giám sát KTTH nông nghiệp theo cấp tỉnh, huyện và HTX. Tối thiểu, bộ chỉ số nên bao gồm: tổng lượng phụ phẩm phát sinh; tỷ lệ được phân loại và thu gom; tỷ lệ tái sử dụng; khối lượng phân hữu cơ/giá thể/thức ăn sinh học sản xuất; diện tích sử dụng phân hữu cơ; số cơ sở có biogas hoặc công nghệ xử lý đạt yêu cầu; doanh thu từ sản phẩm tuần hoàn; mức tiết kiệm đầu vào; và ước tính giảm phát thải (Geissdoerfer và cộng sự, 2017; Jurgilevich và cộng sự, 2016).

Thứ ba, tổ chức phát triển cụm tuần hoàn theo vùng nguyên liệu thay vì hỗ trợ dàn trải. Đối với vùng lúa trọng điểm hoặc các địa bàn có mật độ sản xuất lớn, có thể hình thành mạng lưới dịch vụ thu gom rơm rạ gắn với cơ sở trồng nấm, sản xuất phân hữu cơ và chăn nuôi. Đối với khu vực chăn nuôi tập trung, cần ưu tiên mô hình phân loại chất thải tại nguồn, biogas có kiểm soát, tách ép phân, compost và liên kết với vùng trồng trọt.

Thứ tư, đổi mới cơ chế tài chính theo nguyên tắc hỗ trợ dựa trên kết quả. Thay vì chỉ hỗ trợ mua máy móc hoặc xây dựng mô hình, ngân sách địa phương có thể hỗ trợ một phần chi phí theo khối lượng phụ phẩm được thu hồi, khối lượng phân hữu cơ đạt chuẩn, diện tích thay thế phân bón vô cơ hoặc lượng phát thải giảm được xác minh. Cách làm này vừa khuyến khích hiệu quả thực chất, vừa hạn chế tình trạng đầu tư hình thức (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Thứ năm, cần phát triển thị trường cho đầu ra tuần hoàn. Nông dân và doanh nghiệp chỉ tái chế phụ phẩm bền vững khi sản phẩm hoặc chế phẩm từ phụ phẩm có đầu ra ổn định. Nhà nước cần hỗ trợ tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm, đăng ký sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, liên kết với OCOP và xúc tiến thương mại. Nghệ An có điều kiện gắn tiêu chí sản phẩm xanh, tuần hoàn, giảm phát thải vào quá trình nâng hạng sản phẩm (Tạp chí Cộng sản, 2024).

Thứ sáu, nâng cao năng lực quản trị và chuyển đổi số. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý về phát sinh phụ phẩm, cơ sở xử lý, doanh nghiệp thu mua, vùng sản xuất hữu cơ và hạ tầng logistics. Hệ thống này có thể được quản lý ở cấp tỉnh nhưng cập nhật từ cấp xã, HTX và doanh nghiệp. Dữ liệu minh bạch sẽ giúp cơ quan quản lý lựa chọn địa bàn ưu tiên, đánh giá hiệu quả hỗ trợ công và thu hút nhà đầu tư vào chế biến sinh khối (Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An, 2025).

KẾT LUẬN

KTTH trong nông nghiệp là hướng đi có khả năng đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm ô nhiễm, tạo thêm giá trị từ phụ phẩm và cải thiện năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Nghệ An. Thực tiễn giai đoạn 2020-2025 cho thấy Tỉnh đã có nền tảng thuận lợi: khung pháp lý quốc gia ngày càng rõ; định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ được ban hành; hạ tầng nông thôn mới và mạng lưới HTX tiếp tục mở rộng; một số mô hình xử lý phụ phẩm, chất thải chăn nuôi và sản xuất hữu cơ đã được triển khai.

Tuy nhiên, QLNN về KTTH nông nghiệp tại Nghệ An mới đang ở giai đoạn chuyển từ định hướng sang tổ chức thực hiện. Hạn chế nổi bật là tính phân tán của mô hình, quy mô nhỏ của chủ thể sản xuất, thiếu cơ chế liên kết chuỗi, thiếu công cụ tài chính chuyên biệt và đặc biệt là thiếu hệ thống dữ liệu, chỉ số đánh giá kết quả tuần hoàn. Vì thế, thước đo thành công không nên dừng ở số lượng mô hình hoặc số văn bản chính sách, mà phải là tỷ lệ phụ phẩm được thu hồi và tái sử dụng, mức tăng giá trị gia tăng, mức giảm đầu vào hóa học, mức giảm ô nhiễm và thu nhập thực tế của người sản xuất.

Bộ tiêu chí gồm 6 nhóm được đề xuất trong nghiên cứu có thể là khung tham chiếu cho Nghệ An xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chính sách. Nếu kết hợp được quy hoạch dòng phụ phẩm theo ngành hàng, tổ chức HTX làm trung tâm dịch vụ tuần hoàn, tín dụng xanh, hạ tầng chế biến và giám sát dựa trên dữ liệu, KTTH có thể chuyển từ các mô hình điểm sang một cấu phần thực chất của tái cơ cấu nông nghiệp và tăng trưởng xanh của Tỉnh.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Nghệ An (2021). Nghệ An: Hàng trăm tấn phụ phẩm nông nghiệp bỏ lãng phí ngoài đồng ruộng.

2. Báo Nghệ An (2025). Thông tin về liên kết sản xuất và phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

3. Chính phủ (2022). Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

4. Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An (2024). Ứng dụng hiệu quả các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn.

5. Cổng TTĐT tỉnh Nghệ An (2025). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh tỉnh Nghệ An tháng 7 năm 2025.

6. Creswell, J. W., & Creswell, J. D. (2018). Research Design: Qualitative, Quantitative, and Mixed Methods Approaches (5th ed.). SAGE Publications.

7. Đại biểu Nhân dân (2025). Nghệ An: Mô hình HTX kiểu giúp đổi mới cách thức tổ chức sản xuất nông nghiệp.

8. Geissdoerfer, M., Savaget, P., Bocken, N. M. P., & Hultink, E. J. (2017). The circular economy - A new sustainability paradigm? Journal of Cleaner Production, 143, 757-768. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2016.12.048

9. Ghisellini, P., Cialani, C., & Ulgiati, S. (2016). A review on circular economy: The expected transition to a balanced interplay of environmental and economic systems. Journal of Cleaner Production, 114, 11-32. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2015.09.007

10. Jurgilevich, A., Birge, T., Kentala-Lehtonen, J., Korhonen-Kurki, K., Pietikäinen, J., Saikku, L., & Schösler, H. (2016). Transition towards circular economy in the food system. Sustainability, 8(1), 69. https://doi.org/10.3390/su8010069

11. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.

12. Tạp chí Cộng sản (2024). Pháp luật về kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam.

13. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

14. Trung tâm Khuyến nông Nghệ An (2025). Triển khai thực hiện đề án sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

15. UBND tỉnh Nghệ An (2022). Quyết định số 3108/QĐ-UBND ngày 11/10/2022 phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022-2030.

Ngày nhận bài: 1/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/8/2026; Ngày duyệt đăng: 4/9/2026

Các tin khác

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên thông dữ liệu, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của Estonia và Hàn Quốc trong xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ và quản trị dữ liệu công. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dữ liệu công hiệu quả tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Số hóa giúp ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí và tái cấu trúc dịch vụ tài chính.
Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Nghiên cứu phân tích tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại các thành phố Việt Nam giai đoạn 2012-2024. Kết quả cho thấy phân cấp chi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng thể chế cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Tổng hợp các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số cho thấy các khoảng trống: Các nhóm nguồn lực công nghệ, tổ chức và cá nhân phần lớn được nghiên cứu độc lập; nguồn lực tổ chức số chưa được tích hợp thành khái niệm bậc cao; vai trò trung gian của vốn tâm lý giữa cả 2 nhóm nguồn lực và sự gắn kết với công việc của nhân viên chưa được kiểm định đồng thời; và bằng chứng tại doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh, còn thiếu vắng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Khởi nghiệp xã hội đã và đang trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.