​​​​​​​Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 08:01 | 28/08/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc sử dụng thông tin kế toán có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định quản trị của hộ kinh doanh. Nghiên cứu làm rõ mức độ sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác thông tin kế toán của hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh.

ThS. Trần Minh Tân

Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại

Email: Tanhongan@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh, đồng thời kiểm định tác động của 5 nhân tố: Kiến thức kế toán, Chất lượng thông tin kế toán, ng dụng công nghệ số, Hạ tầng công nghệ, Chính sách hỗ trợ. Nghiên cứu khảo sát định lượng trên 250 chủ hộ kinh doanh trong thời gian từ tháng 1-4/2026, dữ liệu phân tích bằng SPSS. Kết quả cho thấy, Kiến thức kế toán, Chất lượng thông tin kế toán, Hạ tầng công nghệ và Chính sách hỗ trợ đều có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê đến Sử dụng thông tin kế toán, trong khi ng dụng công nghệ số không có ảnh hưởng đáng kể. Kết quả gợi ý cần ưu tiên nâng cao năng lực kế toán cho chủ hộ kinh doanh, chuẩn hóa chất lượng dữ liệu và tăng cường hạ tầng công nghệ, đồng thời thiết kế chính sách hỗ trợ thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số.

Từ khóa: Thông tin kế toán, chuyển đổi số, hộ kinh doanh, ra quyết định

Mã JEL: M15; M41; O33

Abstract

This study evaluates the current use of accounting information for decision-making by business household owners in Ho Chi Minh City and examines the effects of five factors: Accounting Knowledge, Accounting Information Quality, Digital Technology Application, Technology Infrastructure, and Support Policies. A quantitative survey was conducted among 250 business household owners from January to April 2026, with the data analyzed using SPSS. The results show that Accounting Knowledge, Accounting Information Quality, Technology Infrastructure, and Support Policies have positive and statistically significant effects on Accounting Information Use, while Digital Technology Application has no significant effect. The findings suggest that priority should be given to enhancing the accounting capabilities of business household owners, standardizing data quality, strengthening technological infrastructure, and designing practical support policies to improve the effectiveness of the use of accounting information in the context of digital transformation.

Keywords: Accounting information, digital transformation, business households, decision-making

JEL Classification: M15; M41; O33

GIỚI THIỆU

Thông tin kế toán giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhà quản trị nhận diện tình hình tài chính, kiểm soát chi phí, đánh giá hiệu quả kinh doanh và ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì cảm tính. Trong điều kiện chuyển đổi số, vai trò của thông tin kế toán càng trở nên quan trọng vì quy trình bán hàng, thanh toán, hóa đơn, lưu trữ dữ liệu và báo cáo được số hóa toàn diện. Đối với khu vực hộ kinh doanh - nơi chủ hộ thường đồng thời là người sở hữu, quản lý vận hành và ra quyết định, chất lượng của thông tin kế toán có thể tác động trực tiếp tới các quyết định về giá bán, nhập hàng, kiểm soát dòng tiền, đầu tư nhỏ và tuân thủ nghĩa vụ thuế.

Theo Romney và Steinbart (2021), một hệ thống thông tin kế toán có chức năng thu thập, ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin tài chính cũng như phi tài chính cho hoạt động lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định.

Davis (1989) lập luận rằng, hành vi chấp nhận công nghệ chịu ảnh hưởng đáng kể bởi cảm nhận hữu ích và cảm nhận dễ sử dụng; trong khi Ajzen (1991) cho rằng, hành vi thực tế được hình thành từ ý định hành vi, và ý định này chịu tác động của thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Bên cạnh đó, Barney (1991) nhấn mạnh, các nguồn lực như tri thức kế toán, dữ liệu kế toán có chất lượng và điều kiện hạ tầng số có thể được xem là những nguồn lực tạo giá trị và góp phần nâng cao hiệu quả quyết định quản trị của đơn vị.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời 3 câu hỏi: (1) Các chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh đang sử dụng thông tin kế toán ở mức độ nào cho mục tiêu ra quyết định?; (2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số?; (3) Cần hàm ý quản trị gì để gia tăng hiệu quả sử dụng thông tin kế toán của khu vực hộ kinh doanh?

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Theo Romney và Steinbart (2021), thông tin kế toán có giá trị ra quyết định khi bảo đảm các thuộc tính cốt lõi như tính thích hợp, độ tin cậy, tính kịp thời và khả năng hiểu được. Trong bối cảnh hộ kinh doanh, điều này đặc biệt quan trọng vì quy mô nhỏ khiến các sai lệch nhỏ trong ghi chép doanh thu, chi phí hay hàng tồn kho có thể dẫn đến quyết định kinh doanh sai lệch đáng kể.

Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) phù hợp để giải thích vai trò của công nghệ số trong nghiên cứu này. Nếu chủ hộ cảm nhận phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, ứng dụng quản lý bán hàng hoặc công cụ báo cáo số là hữu ích và dễ sử dụng, khả năng họ chấp nhận và sử dụng hệ thống thông tin kế toán sẽ cao hơn. Tuy nhiên, TAM cũng hàm ý rằng công nghệ chỉ phát huy tác động khi người dùng nhận ra giá trị thực sự của nó đối với hiệu quả công việc, chứ không phải chỉ vì công nghệ hiện diện.

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) bổ sung góc nhìn về hành vi của người sử dụng.Việc chủ hộ sử dụng thông tin kế toán không phải là hành vi thuần kỹ thuật mà còn chịu ảnh hưởng của niềm tin cá nhân về lợi ích của thông tin kế toán, áp lực/thúc đẩy từ môi trường thể chế, và cảm nhận về năng lực tự thân trong việc đọc hiểu, khai thác và vận dụng số liệu kế toán.

Quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) của Barney (1991) giúp giải thích vì sao kiến thức kế toán, chất lượng dữ liệu và hạ tầng công nghệ có thể trở thành các nguồn lực tạo giá trị. Trong khu vực hộ kinh doanh, các nguồn lực vô hình như tri thức của chủ hộ và chất lượng dữ liệu thường hiếm, khó bắt chước và khó thay thế hơn các công cụ công nghệ thuần túy; do đó chúng có thể quyết định khả năng biến dữ liệu thành quyết định quản trị có hiệu quả.

Từ các lập luận trên, nghiên cứu đề xuất mô hình (Hình) gồm 5 biến độc lập là: Kiến thức kế toán, Chất lượng thông tin kế toán, Ứng dụng công nghệ số, Hạ tầng công nghệ, Chính sách hỗ trợ; biến phụ thuộc là Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với nghiên cứu của Ismail và King (2007) về vai trò của năng lực người sử dụng và mức độ phù hợp của hệ thống thông tin kế toán.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

​​​​​​​Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Các giả thuyết được phát biểu như sau:

H1: Kiến thức kế toán có tác động tích cực đến việc Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định.

H2: Chất lượng thông tin kế toán có tác động tích cực đến việc Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định.

H3: Ứng dụng công nghệ số có tác động tích cực đến việc Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định.

H4: Hạ tầng công nghệ có tác động tích cực đến việc Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định.

H5: Chính sách hỗ trợ có tác động tích cực đến việc Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, dữ liệu cắt ngang, với bảng hỏi sử dụng thang Likert 5 mức. Nghiên cứu phát ra 280 phiếu khảo sát, thu về 262 phiếu; sau khi loại 12 phiếu không hợp lệ, còn lại 250 phiếu hợp lệ dùng cho phân tích. Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn tháng 1-4/2026 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Các thang đo gồm 6 nhóm: KTKT, CLTT, UDCN, HTCN, CSHT và SDTTKT; mỗi nhóm gồm 5 biến quan sát. Sau kiểm định độ tin cậy, biến tổng hợp của từng cấu trúc được tính bằng giá trị trung bình của 5 biến quan sát thành phần.

Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 26 qua các bước: (1) kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha; (2) phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng phương pháp Principal Components và phép xoay Varimax; (3) phân tích tương quan Pearson; (4) hồi quy tuyến tính đa biến với SDTTKT là biến phụ thuộc. Các chỉ tiêu đánh giá gồm R, R², R² hiệu chỉnh, ANOVA, hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta, Sig., Durbin-Watson, Tolerance và VIF.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả

Bảng 1: Đặc điểm mẫu khảo sát

Đặc điểm

Nhóm

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Giới tính

Nam

126

50,4

Nữ

124

49,6

Độ tuổi

Dưới 30

67

26,8

30-40

68

27,2

41-50

58

23,2

Trên 50

57

22,8

Học vấn

THPT

56

22,4

Trung cấp

43

17,2

Cao đẳng

56

22,4

Đại học

47

18,8

Sau đại học

48

19,2

Lĩnh vực kinh doanh

Thương mại

105

42,0

Dịch vụ ăn uống

70

28,0

Sản xuất

38

15,2

Dịch vụ khác

37

14,8

Thời gian hoạt động

Dưới 3 năm

78

31,2

3-5 năm

49

19,6

6-10 năm

60

24,0

Trên 10 năm

63

25,2

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bảng 1 cho thấy, mẫu khảo sát tương đối cân bằng về giới tính; nhóm dưới 40 tuổi chiếm 54%; lĩnh vực thương mại và dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, do sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, kết quả không mang tính đại diện cho toàn bộ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh.

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Bảng 2: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

Thang đo

Số biến

Cronbach’s Alpha

Kiến thức kế toán (KTKT)

5

0,876

Chất lượng thông tin kế toán (CLTT)

5

0,859

Ứng dụng công nghệ số (UDCN)

5

0,873

Hạ tầng công nghệ (HTCN)

5

0,887

Chính sách hỗ trợ (CSHT)

5

0,857

Sử dụng thông tin kế toán (SDTTKT)

5

0,857

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bảng 2 cho thấy, tất cả các thang đo đều đạt ngưỡng tin cậy thường dùng là 0,70 theo Hair và cộng sự (2019). Trong đó, HTCN có Cronbach’s Alpha cao nhất (0,887), tiếp theo là KTKT (0,876) và UDCN(0,873). Hai thang đo CSHT và SDTTKT cùng đạt 0,857, vẫn nằm trong vùng tin cậy tốt. Vì vậy, toàn bộ 30 biến quan sát được giữ lại cho giai đoạn phân tích tiếp theo.

Phân tích EFA

Bảng 3: Kết quả EFA tóm tắt

Chỉ tiêu

Giá trị

KMO

0,979

Bartlett’s Test of Sphericity - Approx. Chi-square

5563,624

df

435

Sig.

p < 0,001

Số thành phần có Eigenvalue > 1

1

Eigenvalue của thành phần đầu tiên

17,366

% phương sai giải thích của thành phần đầu tiên

57,886

Tổng phương sai trích lũy kế

57,886

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bảng 4: Kết quả ma trận thành phần và ma trận thành phần xoay

Hạng mục

Kết quả từ SPSS

Diễn giải

Ma trận thành phần

Trích được 1 thành phần

Không đủ cơ sở để khẳng định giá trị phân biệt giữa các thang đo

Ma trận thành phần xoay

Không khả dụng

Do chỉ trích được 1 thành phần nên không thể thực hiện phép xoay

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bảng 3 cho thấy, KMO = 0,979 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), chứng tỏ dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Tuy nhiên, SPSS chỉ trích được 1 nhân tố duy nhất với Eigenvalue = 17,366, giải thích 57,886% phương sai. Điều này cần được diễn giải thận trọng và trung thực. Về mặt kỹ thuật, dữ liệu phù hợp cho EFA, nhưng về mặt cấu trúc thang đo, kết quả không ủng hộ mạnh cho việc tồn tại rõ ràng 5 nhân tố độc lập và 1 nhân tố phụ thuộc như kỳ vọng lý thuyết. Vì vậy, nghiên cứu hiện chỉ có thể xem EFA là bước kiểm tra sơ bộ về mức độ hội tụ tổng quát; còn giá trị phân biệt giữa các thang đo chưa được xác lập thuyết phục.

Phân tích tương quan

Bảng 5: Ma trận tương quan Pearson giữa các biến tổng hợp

Biến

KTKT

CLTT

UDCN

HTCN

CSHT

SDTTKT

KTKT

1,000

0,854**

0,859**

0,876**

0,859**

0,858**

CLTT

0,854**

1,000

0,865**

0,864**

0,856**

0,858**

UDCN

0,859**

0,865**

1,000

0,854**

0,855**

0,843**

HTCN

0,876**

0,864**

0,854**

1,000

0,872**

0,859**

CSHT

0,859**

0,856**

0,855**

0,872**

1,000

0,857**

SDTTKT

0,858**

0,858**

0,843**

0,859**

0,857**

1,000

Ghi chú: p < 0,01

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Ma trận Pearson (Bảng 5) cho thấy, toàn bộ các cặp biến đều tương quan dương mạnh và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Tuy nhiên, việc nhiều hệ số tương quan vượt 0,85 cũng gợi ý nguy cơ cộng tuyếnvà đồng thời làm mạnh thêm nghi vấn về độ chồng lấp giữa các cấu trúc đo lường - nhận định này nhất quán với kết quả EFA chỉ trích được 1 thành phần chung. Vì vậy, phân tích hồi quy tiếp theo cần được diễn giải với sự thận trọng cần thiết.

Kết quả hồi quy

Bảng 6: Kết quả Model Summary và ANOVA

Chỉ tiêu

Giá trị

R

0,907

0,823

R² hiệu chỉnh

0,819

Sai số chuẩn ước lượng

0,32012

Durbin-Watson

2,019

F

226,450

Sig. của ANOVA

p < 0,001

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bảng 6 cho thấy, mô hình hồi quy giải thích 82,3% biến thiên của SDTTKT, phản ánh mức độ giải thích rất cao đối với một nghiên cứu hành vi và quản trị. Kiểm định ANOVA có p < 0,001, xác nhận mô hình phù hợp với dữ liệu. Giá trị Durbin-Watson = 2,019 cũng cho thấy không có dấu hiệu tự tương quan phần dư đáng kể.

Bảng 7: Kết quả hệ số hồi quy và đa cộng tuyến

Biến

B

SE

Beta chuẩn hóa

t

Sig.

Tolerance

VIF

Hằng số

0,211

0,115

-

1,841

0,067

-

-

KTKT

0,201

0,062

0,212

3,225

0,001

0,169

5,927

CLTT

0,235

0,066

0,230

3,556

<0,001

0,174

5,733

UDCN

0,120

0,062

0,123

1,922

0,056

0,178

5,617

HTCN

0,170

0,063

0,182

2,680

0,008

0,157

6,370

CSHT

0,217

0,066

0,215

3,318

0,001

0,173

5,776

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Phương trình hồi quy chưa chuẩn hóa:

SDTTKT = 0,211 + 0,201KTKT + 0,235CLTT + 0,120UDCN + 0,170HTCN + 0,217CSHT

Xét theo hệ số Beta chuẩn hóa, CLTT có mức ảnh hưởng lớn nhất đến SDTTKT (β = 0,230; p < 0,001), tiếp theo là CSHT (β = 0,215; p = 0,001), KTKT (β = 0,212; p = 0,001) và HTCN (β = 0,182; p = 0,008). UDCN có hệ số β = 0,123 nhưng p = 0,056 nên chưa đạt mức ý nghĩa thống kê 5%.

Các hệ số VIF dao động từ 5,617-6,370. Mặc dù chưa vượt ngưỡng 10, các giá trị này đều lớn hơn 5, cho thấy đa cộng tuyến là vấn đề đáng lưu ý. Vì vậy, mức độ ảnh hưởng riêng của từng biến độc lập cần được diễn giải thận trọng, nhất là trong bối cảnh các biến có tương quan cao và EFA chưa xác lập được rõ giá trị phân biệt.

Kiểm định giả thuyết

Bảng 8: Kết quả kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Nội dung

Kết quả

H1

KTKT → SDTTKT

Chấp nhận (β = 0,212; p = 0,001 < 0,05)

H2

CLTT → SDTTKT

Chấp nhận (β = 0,230; p = 0,000 < 0,01)

H3

UDCN → SDTTKT

Bác bỏ (β = 0,123; p = 0,056 > 0,05)

H4

HTCN → SDTTKT

Chấp nhận (β = 0,182; p = 0,008 < 0,01)

H5

CSHT → SDTTKT

Chấp nhận (β = 0,215; p = 0,001 < 0,01)

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Như vậy, 4 giả thuyết liên quan đến Kiến thức kế toán, Chất lượng thông tin, Hạ tầng công nghệ và Chính sách hỗ trợ đều được xác nhận ở mức ý nghĩa 5% (và thậm chí 1%). Chỉ duy nhất giả thuyết về Ứng dụng công nghệ số (H3) không được chứng minh. Điều này cho thấy trong bối cảnh khảo sát, yếu tố con người và thể chế có ảnh hưởng rõ nét hơn so với yếu tố kỹ thuật số thuần túy lên việc sử dụng thông tin kế toán.

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, Chất lượng thông tin kế toán là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến việc sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh. Kết quả này phù hợp với logic nền tảng của hệ thống thông tin kế toán, theo đó giá trị của thông tin phụ thuộc trước hết vào tính chính xác, kịp thời, đầy đủ và đáng tin cậy. Đối với hộ kinh doanh, nơi các quyết định về doanh thu, chi phí, hàng tồn kho và dòng tiền thường được đưa ra với tần suất cao, chất lượng thông tin có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả quản trị.

Kiến thức kế toán cũng có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phù hợp với Ismail và King (2007), khi năng lực của người sử dụng được xem là một trong những điều kiện quyết định khả năng khai thác hệ thống thông tin kế toán. Đặc biệt, tại các hộ kinh doanh thường không có bộ phận kế toán chuyên trách, kiến thức kế toán của chủ hộ không chỉ phản ánh khả năng thực hiện nghiệp vụ mà còn thể hiện năng lực đọc, hiểu và chuyển hóa số liệu thành quyết định kinh doanh.

Kết quả cũng ghi nhận tác động tích cực của Hạ tầng công nghệ và Chính sách hỗ trợ. Điều này cho thấy việc khai thác thông tin kế toán trong môi trường số không chỉ phụ thuộc vào bản thân công cụ công nghệ mà còn cần các điều kiện hỗ trợ như kết nối ổn định, thiết bị phù hợp, khả năng tiếp cận phần mềm, hướng dẫn sử dụng và cơ chế hỗ trợ từ bên ngoài. Dưới góc độ RBV, các điều kiện này có thể được xem là nguồn lực bổ trợ giúp chủ hộ chuyển hóa dữ liệu và tri thức thành hiệu quả quản trị.

Một phát hiện đáng chú ý là Ứng dụng công nghệ số chưa có tác động độc lập có ý nghĩa thống kê ở mức 5% khi đồng thời xem xét các nhân tố khác. Kết quả này không phủ nhận vai trò của công nghệ mà cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ, nếu đứng riêng, chưa đủ để làm gia tăng việc sử dụng thông tin kế toán. Nói cách khác, trang bị phần mềm hoặc công cụ số chưa chắc dẫn đến ra quyết định dựa trên dữ liệu nếu chủ hộ thiếu kiến thức kế toán, dữ liệu đầu vào chưa bảo đảm chất lượng hoặc điều kiện hỗ trợ chưa phù hợp. Phát hiện này cũng phù hợp với tinh thần của mô hình TAM khi hiệu quả của công nghệ phụ thuộc vào mức độ người sử dụng nhận thấy công nghệ hữu ích và có khả năng khai thác nó trong thực tiễn.

Nhìn tổng thể, các kết quả cho thấy hiệu quả sử dụng thông tin kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số chịu tác động đồng thời của năng lực người sử dụng, chất lượng dữ liệu và các điều kiện hỗ trợ, thay vì chỉ phụ thuộc vào mức độ hiện đại của công nghệ.

HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ KHUYẾN NGHỊ

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin kế toán của hộ kinh doanh.

Thứ nhất, nâng cao năng lực kế toán và khả năng sử dụng thông tin của chủ hộ kinh doanh. Các chương trình đào tạo nên ưu tiên kiến thức và kỹ năng thực hành như ghi nhận doanh thu - chi phí, quản lý dòng tiền, hàng tồn kho, đọc báo cáo kết quả kinh doanh, lập dự toán và sử dụng số liệu kế toán để hỗ trợ quyết định. Hình thức đào tạo cần ngắn gọn, dễ tiếp cận và phù hợp với đặc điểm hoạt động của hộ kinh doanh; có thể triển khai thông qua các khóa tập huấn trực tiếp, trực tuyến hoặc tài liệu hướng dẫn thực hành.

Thứ hai, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa thông tin kế toán. Đây cần được xem là ưu tiên trước khi mở rộng số lượng công cụ công nghệ. Cơ quan quản lý, cơ quan thuế, hiệp hội nghề nghiệp và các nhà cung cấp giải pháp cần hướng dẫn quy trình ghi nhận dữ liệu thống nhất, đơn giản hóa biểu mẫu, tăng tính tự động trong kiểm tra dữ liệu đầu vào và thiết kế báo cáo đầu ra dễ hiểu đối với chủ hộ. Các phần mềm kế toán và quản lý bán hàng cần hỗ trợ giảm sai sót, hạn chế nhập liệu trùng lặp và bảo đảm thông tin được cập nhật kịp thời.

Thứ ba, phát triển công nghệ theo hướng tích hợp và gắn với khả năng sử dụng thực tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc gia tăng mức độ ứng dụng công nghệ tự thân chưa tạo ra tác động rõ rệt đến sử dụng thông tin kế toán. Do đó, chuyển đổi số đối với hộ kinh doanh không nên chỉ tập trung vào việc trang bị phần mềm mà cần chú trọng khả năng kết nối giữa bán hàng, hóa đơn điện tử, thanh toán và kế toán. Các công cụ được cung cấp cần đơn giản, chi phí phù hợp, dễ sử dụng và có hỗ trợ kỹ thuật trong giai đoạn đầu.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng và cơ chế hỗ trợ. Cần bảo đảm các điều kiện cơ bản về kết nối internet, thiết bị và nền tảng số, đồng thời tăng cường tư vấn nghiệp vụ, hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn thực hiện các quy định về kế toán, thuế và hóa đơn điện tử. Chính sách hỗ trợ cần hướng đến khả năng tiếp cận và sử dụng thực tế của hộ kinh doanh, thay vì chỉ dừng ở việc cung cấp công cụ.

Từ đó, quá trình chuyển đổi số đối với hộ kinh doanh có thể được triển khai theo một chuỗi tương đối đồng bộ: chuẩn hóa dữ liệu → nâng cao năng lực chủ hộ → bảo đảm hạ tầng → cung cấp công cụ phù hợp → hỗ trợ sử dụng → hình thành thói quen ra quyết định dựa trên dữ liệu. Cách tiếp cận này phù hợp hơn với kết quả nghiên cứu so với việc coi số hóa đơn thuần là quá trình mở rộng sử dụng phần mềm.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc Sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi số. Kết quả cho thấy, Kiến thức kế toán, Chất lượng thông tin kế toán, Hạ tầng công nghệ và Chính sách hỗ trợ đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê; trong đó, Chất lượng thông tin kế toán là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất. Ngược lại, Ứng dụng công nghệ số chưa thể hiện tác động độc lập có ý nghĩa thống kê ở mức 5%.

Nghiên cứu còn một số hạn chế như phạm vi mẫu còn giới hạn tại TP. Hồ Chí Minh, dữ liệu cắt ngang và khả năng tồn tại thiên lệch phương pháp chung. Đặc biệt, kết quả kiểm định thang đo cho thấy mức độ phân biệt giữa các biến chưa thật sự rõ ràng, do đó cần thận trọng khi diễn giải mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố.

Từ đó, nghiên cứu gợi ý rằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin kế toán trong hộ kinh doanh không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà cần sự kết hợp đồng bộ giữa chất lượng thông tin, năng lực người sử dụng và điều kiện hỗ trợ. Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi khảo sát, hoàn thiện thang đo và áp dụng các phương pháp kiểm định chặt chẽ hơn để tăng độ tin cậy và khả năng khái quát của mô hình.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

2. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. :/https/doi.org/10.1177/014920639101700108

3. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340. https://doi.org/10.2307/249008

4. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Cengage.

5. Ismail, N. A., & King, M. (2007). Factors influencing the alignment of accounting information systems in small and medium sized Malaysian manufacturing firms. Journal of Information Systems and Small Business, 1(1-2), 1-20.

6. Romney, M. B., & Steinbart, P. J. (2021). Accounting information systems (15th ed.). Pearson.

Ngày nhận bài: 1/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 19/8/2026; Ngày duyệt đăng: 27/8/2026

Các tin khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng chuyển hóa doanh thu thành dòng tiền của doanh nghiệp xây dựng. Trong bối cảnh rủi ro khoản phải thu gia tăng, nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến DSO của doanh nghiệp kỹ thuật xây dựng niêm yết tại Việt Nam, qua đó hỗ trợ kiểm soát dòng tiền và giảm áp lực tài trợ vốn lưu động.
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Các nghiên cứu marketing trực tuyến gần đây chỉ ra rằng chất lượng của các dịch vụ bán hàng phát trực tiếp (livestream) trên các nền tảng thương mại điện tử có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng của một bộ phận lớn khách hàng trực tuyến. Hành vi mua hàng này được thúc đẩy bởi một loạt các cơ chế phát trực tiếp chất lượng cao được tạo ra bởi các công ty bán hàng trực tuyến trên các nền tảng thương mại điện tử hiện nay.
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Việc thấu hiểu nhu cầu và đặc điểm của khách hàng là yếu tố quan trọng, giúp doanh nghiệp triển khai các chiến lược tiếp thị cá nhân hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ. Phân khúc khách hàng được xem là một trong những phương pháp phân tích thị trường quan trọng, cho phép phân chia tập khách hàng thành các nhóm có những đặc điểm và hành vi tương đồng.
Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt

Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh doanh bền vững và thực hiện các cam kết SDGs, Net Zero đến năm 2050, yêu cầu tái cấu trúc các chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng liên kết, tích hợp và định hướng thị trường ngày càng trở nên cấp thiết.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Trong sự vận động của kinh tế vĩ mô, thu ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là nguồn lực tài chính cho chi tiêu công, mà còn là một "phong vũ biểu" nhạy cảm, phản ánh trực tiếp sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả của các chính sách điều hành tài khóa.
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Đồng Nai, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý và các cơ sở giáo dục hoạch định giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hiệu quả.
Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam

Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam

Thương mại điện tử xuyên biên giới ngày càng trở thành một kênh quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường với chi phí gia nhập thấp.
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương 
ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và định hướng từ Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị, việc chuyển hướng sang FDI thế hệ mới - gắn liền với công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuẩn mực ESG - là lựa chọn mang tính chiến lược.
Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến

Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng và đặt ra yêu cầu nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định mua hàng trong môi trường số.
Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, logistics đã trở thành ngành dịch vụ nền tảng kết nối sản xuất, lưu thông, thương mại điện tử và xuất nhập khẩu.