Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt
TS. Nguyễn Tài
Giảng viên khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính - Marketing (UFM)
Email: ntai@ufm.edu.vn
Tóm tắt
Quyết định số 926/QĐ-TTg về Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững giai đoạn 2026-2030 cho thấy định hướng phát triển mới của quốc gia không còn dừng ở hỗ trợ doanh nghiệp đơn lẻ mà chuyển mạnh sang phát triển hệ sinh thái kinh doanh bền vững, gắn với ESG, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị. Đây cũng chính là nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc nghiên cứu mô hình hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường (CGT-ĐHTT) trong nông nghiệp. Bài viết phân tích vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông qua nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Hòa Việt (SLTC/Hòa Việt) - thành viên của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh và sản xuất nguyên liệu thuốc lá. Trên cơ sở tiếp cận chuỗi giá trị định hướng thị trường (CGT-ĐHTT), nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp dẫn dắt không chỉ thực hiện vai trò điều phối sản xuất mà còn giữ vai trò trung tâm trong liên kết chuỗi, bảo hiểm giá, đầu tư đầu vào, phát triển thị trường, quản trị chất lượng và duy trì tính bền vững của toàn hệ sinh thái chuỗi giá trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Công ty Cổ phần Hòa Việt (SLTC/Hòa Việt) đã góp phần hình thành vùng nguyên liệu ổn định, nâng cao thu nhập cho nông dân, tăng kim ngạch xuất khẩu và duy trì hiệu quả hoạt động trong thời gian dài. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách nhằm phát triển các doanh nghiệp dẫn dắt trong chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam.
Từ khóa: Doanh nghiệp dẫn dắt, chuỗi giá trị định hướng thị trường, nông nghiệp bền vững, liên kết chuỗi, SLTC/Hòa Việt
Abstract
Decision No. 926/QD-TTg on the Program to Support Sustainable Business Development for the 2026-2030 Period reflects a new national development orientation that moves beyond supporting individual enterprises toward developing a sustainable business ecosystem associated with ESG, the circular economy, digital transformation, and value chain linkages. This provides an important theoretical and practical foundation for studying the Market-Oriented Value Chain ecosystem model in agriculture. This article analyzes the role of lead firms in stabilizing and developing agricultural value chains through a case study of Hoa Viet Joint Stock Company (SLTC/Hoa Viet), a member of the Vietnam National Tobacco Corporation, which is primarily engaged in the production, processing, and trading of tobacco materials. Based on the Market-Oriented Value Chain approach, the study argues that lead firms not only coordinate production but also play a central role in value chain linkages, price risk management, input investment, market development, quality management, and the sustainability of the entire value chain ecosystem. The findings show that the SLTC/Hoa Viet model has helped establish a stable raw-material production area, increase farmers’ incomes, expand export turnover, and sustain effective operations over an extended period. Accordingly, the study proposes managerial and policy implications for developing lead firms in agricultural value chains in Viet Nam.
Keywords: Lead firms, Market-Oriented Value Chain, sustainable agriculture, value chain linkages, SLTC/Hoa Viet
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt, phát triển nông nghiệp theo hướng chuỗi giá trị bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy phần lớn chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế như sản xuất manh mún, liên kết lỏng lẻo, chất lượng không đồng đều, giá cả biến động mạnh và đặc biệt là thiếu chủ thể có đủ năng lực tổ chức, điều phối và dẫn dắt toàn chuỗi.
Trong nhiều trường hợp, chuỗi giá trị nông nghiệp vẫn phát triển theo mô hình truyền thống lấy sản xuất làm trung tâm, tức sản xuất trước và tìm kiếm thị trường sau. Cách tiếp cận này thường dẫn đến tình trạng mất cân đối cung - cầu, dư thừa sản phẩm, “được mùa mất giá” và rủi ro cao cho người sản xuất. Trong khi đó, xu hướng phát triển nông nghiệp hiện đại cho thấy chuỗi giá trị cần được tổ chức theo hướng định hướng thị trường, trong đó nhu cầu thị trường giữ vai trò định hướng cho hoạt động sản xuất, chế biến và phân phối.
Từ yêu cầu đó, vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt - DNDD (Lead Firm) ngày càng trở nên quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp. DNDD không chỉ thực hiện chức năng thu mua hay tiêu thụ sản phẩm mà còn tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, quản trị chất lượng, phát triển thị trường và điều phối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi. Trong mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường (CGT-ĐHTT), DNDD giữ vai trò trung tâm trong việc kết nối thị trường với sản xuất, góp phần ổn định đầu ra, duy trì chất lượng và nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn chuỗi giá trị.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã làm rõ nhiều khía cạnh của liên kết doanh nghiệp - nông dân và tổ chức kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Đàm Quang Thắng và Phạm Thị Mỹ Dung (2019) hệ thống hóa cơ chế, nguyên tắc và các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp; Hoàng Thị Thu Huyền (2023) phân tích kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị ở Đồng bằng sông Cửu Long và nhấn mạnh yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Tuy vậy, vai trò của DNDD với tư cách chủ thể kiến tạo, điều phối toàn bộ hệ sinh thái chuỗi giá trị, duy trì ổn định liên kết và bảo vệ động lực đầu tư dài hạn vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Đây là khoảng trống mà nghiên cứu này tập trung làm rõ.
Trường hợp Công ty Cổ phần Hòa Việt (SLTC/Hòa Việt) là minh chứng thực tiễn điển hình cho mô hình DNDD trong phát triển hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường. Trong hơn 30 năm hoạt động, doanh nghiệp đã xây dựng thành công mô hình liên kết giữa doanh nghiệp - nông dân - chế biến - thị trường xuất khẩu thông qua cơ chế hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm giá, quản trị chất lượng và phát triển vùng nguyên liệu. Từ một số vùng nguyên liệu ban đầu với quy mô nhỏ, SLTC/Hòa Việt đã từng bước hình thành hệ sinh thái chuỗi giá trị đa tầng và đa chiều, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, mở rộng xuất khẩu và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn tại nhiều khu vực khó khăn.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích vai trò của DNDD trong ổn định và phát triển hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường thông qua trường hợp SLTC/Hòa Việt. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách nhằm bảo vệ công bằng cho doanh nghiệp đầu tư chuỗi, duy trì động lực đầu tư dài hạn và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
Khái niệm chuỗi giá trị nông nghiệp
Chuỗi giá trị là hệ thống các hoạt động liên kết nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm từ đầu vào đến tiêu dùng cuối cùng. Theo Porter (1985), chuỗi giá trị truyền thống bao gồm các hoạt động từ sản xuất, chế biến, phân phối đến tiêu thụ. Cách tiếp cận chuỗi giá trị cũng nhấn mạnh việc nhận diện các hoạt động tạo giá trị và quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi (Kaplinsky & Morris, 2001).
Tuy nhiên, trong nông nghiệp hiện đại, chuỗi giá trị không thể chỉ bắt đầu từ sản xuất mà phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. Điều này hình thành khái niệm chuỗi giá trị định hướng thị trường (Market-Oriented Value Chain).
Chuỗi giá trị định hướng thị trường (CGT-ĐHTT)
CGT-ĐHTT là mô hình chuỗi giá trị trong đó nhu cầu thị trường đóng vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến và phân phối. Cách tiếp cận này tương thích với quan điểm định hướng thị trường, theo đó thông tin về nhu cầu thị trường cần được tạo lập, phổ biến và chuyển hóa thành phản ứng phối hợp của tổ chức (Kohli & Jaworski, 1990).
DNDD TRONG HỆ SINH THÁI CHUỖI GIÁ TRỊ ĐỊNH HƯỚNG THỊ TRƯỜNG
Khái niệm DNDD trong chuỗi giá trị nông nghiệp
Trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại, DNDD (Lead Firm) là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức, điều phối và phát triển chuỗi giá trị thông qua năng lực kết nối thị trường, đầu tư sản xuất, quản trị chất lượng và điều phối các tác nhân tham gia chuỗi. Khác với mô hình thu mua truyền thống chỉ tập trung vào giao dịch thương mại ngắn hạn, DNDD tham gia sâu vào toàn bộ quá trình phát triển chuỗi giá trị từ tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, kiểm soát chất lượng đến phát triển thị trường đầu ra. Về mặt quản trị, vai trò này có thể được lý giải từ lý thuyết quản trị chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó doanh nghiệp có năng lực chi phối có thể định hình mức độ phối hợp, tiêu chuẩn và quan hệ giữa các tác nhân (Gereffi và cộng sự, 2005).
Trong mô hình CGT-ĐHTT, DNDD giữ vai trò hạt nhân kết nối giữa thị trường - sản xuất - chế biến - logistics - xuất khẩu và các tác nhân hỗ trợ khác trong hệ sinh thái chuỗi giá trị. Vai trò này đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp tại các quốc gia đang phát triển, nơi thị trường nông sản còn nhiều biến động, sản xuất nhỏ lẻ và hệ thống liên kết chuỗi chưa hoàn thiện.
Vai trò điều phối hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường
Trong hệ sinh thái CGT-ĐHTT, DNDD không chỉ thực hiện vai trò tiêu thụ sản phẩm mà còn tham gia điều phối toàn bộ hoạt động của chuỗi giá trị. Thông qua năng lực dự báo thị trường và kết nối đầu ra, DNDD định hướng cơ cấu sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, từ đó góp phần giảm rủi ro cung vượt cầu và nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị. Các nghiên cứu về quản trị chuỗi giá trị cho thấy mức độ điều phối phụ thuộc vào tính phức tạp của giao dịch, khả năng mã hóa thông tin và năng lực của nhà cung ứng (Gereffi và cộng sự, 2005).
Cơ chế duy trì ổn định chuỗi giá trị
Tính ổn định của chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào năng lực sản xuất mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì liên kết và điều phối lợi ích giữa các tác nhân tham gia chuỗi. Trong mô hình CGT-ĐHTT, DNDD đóng vai trò trung tâm trong việc duy trì tính ổn định này thông qua các cơ chế như hợp đồng đầu tư sản xuất, bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm giá, hỗ trợ kỹ thuật, quản trị chất lượng và kiểm soát vùng nguyên liệu. Cách tiếp cận phát triển chuỗi giá trị bền vững cũng nhấn mạnh đồng thời hiệu quả kinh tế, tác động xã hội và môi trường, cùng cơ chế quản trị liên kết giữa các tác nhân (Neven, 2014).
Một trong những yếu tố quan trọng giúp duy trì ổn định chuỗi giá trị là cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa doanh nghiệp và người sản xuất. Thông qua cơ chế bảo hiểm giá và duy trì đầu ra ổn định, doanh nghiệp góp phần giảm thiểu rủi ro thị trường cho nông dân. Ngược lại, người sản xuất cần tuân thủ các cam kết về quy trình kỹ thuật, chất lượng và cung ứng sản phẩm nhằm duy trì tính ổn định của liên kết chuỗi.
Trong điều kiện thể chế liên kết chuỗi còn chưa hoàn thiện, nhiều DNDD phải xây dựng hệ thống quản trị vùng nguyên liệu với lực lượng kỹ thuật bám sát địa bàn nhằm kiểm soát chất lượng, sản lượng và tiến độ thu hoạch của từng hộ sản xuất. Cơ chế quản trị này góp phần duy trì tính ổn định của vùng nguyên liệu, hạn chế tình trạng phá vỡ liên kết và bảo đảm hiệu quả vận hành của toàn chuỗi giá trị.
CHÍNH SÁCH BẢO VỆ CÔNG BẰNG VÀ DUY TRÌ ĐỘNG LỰC CHO DNDD
DNDD và chi phí tổ chức chuỗi giá trị
Trong hệ sinh thái CGT-ĐHTT, DNDD thường là chủ thể chịu phần lớn chi phí tổ chức và rủi ro đầu tư chuỗi. Các khoản đầu tư này không chỉ bao gồm vốn vật tư, tín dụng sản xuất hay logistics mà còn bao gồm chi phí tổ chức vùng nguyên liệu, chuyển giao kỹ thuật, quản trị chất lượng, duy trì lực lượng kỹ thuật bám địa bàn và phát triển thị trường đầu ra.
Rủi ro phá vỡ liên kết và suy giảm động lực đầu tư chuỗi
Trong thực tiễn phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam, một trong những rủi ro lớn nhất đối với doanh nghiệp đầu tư chuỗi là tình trạng cạnh tranh thu mua không lành mạnh và phá vỡ hợp đồng liên kết sản xuất. Khi doanh nghiệp đã đầu tư đáng kể cho phát triển vùng nguyên liệu nhưng không được bảo vệ công bằng, động lực đầu tư dài hạn sẽ suy giảm, từ đó ảnh hưởng đến tính ổn định của toàn bộ chuỗi giá trị.
Chính sách bảo vệ công bằng và duy trì động lực đầu tư dài hạn
Chính sách bảo vệ DNDD không nhằm tạo đặc quyền cho doanh nghiệp mà nhằm bảo vệ công bằng cho chủ thể đầu tư chuỗi giá trị, từ đó duy trì động lực đầu tư dài hạn và ổn định hệ sinh thái CGT-ĐHTT. Trong điều kiện cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt, nếu doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu không được bảo vệ hợp lý thì sẽ rất khó duy trì đầu tư dài hạn, đặc biệt tại các khu vực vùng sâu vùng xa và điều kiện sản xuất khó khăn.
Do đó, Nhà nước cần xây dựng các cơ chế hỗ trợ phù hợp như bảo vệ hợp đồng liên kết sản xuất, hạn chế cạnh tranh thu mua không lành mạnh, hỗ trợ tín dụng chuỗi, trợ giá và trợ cước vận chuyển đối với các vùng nguyên liệu khó khăn, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ nhằm bảo đảm hiệu quả thực chất của chính sách.
KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của liên kết doanh nghiệp - nông dân và tổ chức kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị (Đàm Quang Thắng & Phạm Thị Mỹ Dung, 2019; Hoàng Thị Thu Huyền, 2023). Tuy nhiên, vai trò của DNDD với tư cách chủ thể kiến tạo và điều phối toàn bộ hệ sinh thái CGT-ĐHTT vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn.
Mặc dù lý thuyết chuỗi giá trị và quản trị chuỗi đã phát triển đáng kể (Kaplinsky & Mặc dù lý thuyết chuỗi giá trị và quản trị chuỗi đã phát triển đáng kể (Kaplinsky & Morris, 2001; Gereffi và cộng sự, 2005), các nghiên cứu thực chứng áp dụng vào chuỗi giá trị nông nghiệp, liên kết sản xuất và thị trường nông sản tại Việt Nam vẫn còn hạn chế; phần lớn các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật sản xuất, tổ chức liên kết tiêu thụ hoặc nâng cao hiệu quả từng tác nhân riêng lẻ trong chuỗi. Trong khi đó, vai trò của DNDD trong điều phối toàn bộ hệ sinh thái chuỗi giá trị nông nghiệp vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, đặc biệt trong điều kiện các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã đề cập đến vai trò của DNDD trong điều phối chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp hoặc các chuỗi giá trị toàn cầu có mức độ thể chế thị trường tương đối hoàn thiện. Đối với lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam, các nghiên cứu về DNDD còn khá hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan đến cơ chế tổ chức vùng nguyên liệu, duy trì liên kết chuỗi và ổn định hệ sinh thái chuỗi giá trị trong điều kiện rủi ro thị trường cao.
Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu hiện nay thường dựa trên khảo sát ngắn hạn hoặc phân tích từng khía cạnh riêng lẻ của chuỗi giá trị. Trong khi đó, các nghiên cứu thực chứng dài hạn về mô hình DNDD trong phát triển hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường tại Việt Nam còn tương đối ít. Đây chính là khoảng trống mà nghiên cứu này hướng tới bổ sung thông qua trường hợp thực tiễn của SLTC/Hòa Việt với quá trình vận hành chuỗi giá trị kéo dài hơn 30 năm.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận thực chứng kết hợp định tính và phân tích trường hợp điển hình. Thiết kế nghiên cứu trường hợp phù hợp khi cần phân tích sâu một hiện tượng quản trị trong bối cảnh thực tế và khai thác nhiều nguồn bằng chứng (Yin, 2018).
Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) kết hợp tiếp cận định tính nhằm phân tích vai trò của DNDD trong hình thành, ổn định và phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT. Phương pháp này phù hợp khi cần xem xét sâu một hiện tượng quản trị trong bối cảnh thực tiễn và khai thác nhiều nguồn bằng chứng (Yin, 2018). SLTC/Hòa Việt được lựa chọn làm trường hợp nghiên cứu điển hình vì có thời gian vận hành chuỗi dài, quy mô vùng nguyên liệu lớn và tương đối đầy đủ các mắt xích từ định hướng thị trường, đầu tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, thu mua, chế biến, quản trị chất lượng đến tiêu thụ và xuất khẩu.
Thu thập và xử lý dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp kết hợp với tư liệu thực tiễn tích lũy trong quá trình hình thành và vận hành SLTC/Hòa Việt. Nguồn dữ liệu gồm báo cáo sản xuất - kinh doanh; số liệu diện tích, năng suất và sản lượng vùng nguyên liệu; dữ liệu thu mua, chế biến và xuất khẩu; hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm; hồ sơ triển khai ISO; tài liệu hội nghị, tổng kết sản xuất và các tài liệu quản trị có liên quan. Tư liệu thực tiễn và quan sát quản trị dài hạn được sử dụng để bổ sung bối cảnh cho các cơ chế tổ chức vùng nguyên liệu, liên kết với nông dân, xử lý biến động giá và cạnh tranh thu mua, quản trị chất lượng và phát triển thị trường. Dữ liệu được hệ thống hóa theo thời gian và nhóm chủ đề, sau đó phân tích nội dung và đối chiếu giữa các nguồn bằng chứng nhằm tăng tính nhất quán và hạn chế phụ thuộc vào một nguồn thông tin đơn lẻ. Do nghiên cứu tập trung vào một trường hợp và một ngành hàng cụ thể, kết quả được sử dụng chủ yếu cho khái quát hóa phân tích (analytical generalization), không nhằm suy rộng thống kê cho toàn bộ các chuỗi giá trị nông nghiệp.
MÔ HÌNH DNDD CỦA SLTC/HÒA VIỆT
Mô hình DNDD của SLTC/Hòa Việt được hình thành trên cơ sở tổ chức chuỗi giá trị theo định hướng thị trường. Khác với phương thức sản xuất truyền thống “sản xuất trước - tìm thị trường sau”, toàn bộ hoạt động tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư sản xuất, thu mua, chế biến và phân phối sản phẩm của SLTC/Hòa Việt đều được triển khai trên cơ sở các hợp đồng tiêu thụ đã ký kết trước với đối tác trong và ngoài nước.
Trên cơ sở nhu cầu thị trường và các hợp đồng thương mại với đối tác tiêu thụ, doanh nghiệp tiến hành hoạch định quy mô vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất, đầu tư vật tư đầu vào, chuyển giao kỹ thuật và quản trị chất lượng phù hợp với yêu cầu thị trường. Cơ chế này giúp giảm thiểu rủi ro cung vượt cầu, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng nguyên liệu và duy trì tính ổn định của chuỗi giá trị trong dài hạn.
Vai trò ổn định vùng nguyên liệu
Việc phát triển và duy trì ổn định vùng nguyên liệu giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành công nghiệp thuốc lá Việt Nam trong bối cảnh nhu cầu chủ động nguồn nguyên liệu trong nước ngày càng trở nên cấp thiết. Với chức năng là doanh nghiệp chuyên trách đầu tư và phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá theo định hướng của ngành công nghiệp thuốc lá Việt Nam, SLTC/Hòa Việt được giao nhiệm vụ tổ chức phát triển vùng nguyên liệu nhằm cung cấp nguyên liệu ổn định cho các nhà máy sản xuất thuốc điếu trong nước.
Mục tiêu của chiến lược này không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất mà còn góp phần giảm sự lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, hạn chế thất thoát ngoại tệ và giảm rủi ro phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài về giá cả, sản lượng và chất lượng nguyên liệu. Thực tiễn cho thấy, việc phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu có thể làm gia tăng tính bị động của ngành sản xuất trong nước trước các biến động của thị trường quốc tế.
Trên cơ sở các hợp đồng tiêu thụ đã ký kết với đối tác và nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy thuốc điếu, SLTC/Hòa Việt tiến hành tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư sản xuất và quản trị chất lượng theo hướng đồng bộ từ đầu vào đến đầu ra. Trong quá trình đó, doanh nghiệp không chỉ đầu tư vật tư và chuyển giao kỹ thuật mà còn xây dựng hệ thống cán bộ kỹ thuật bám sát địa bàn nhằm hỗ trợ nông dân, kiểm soát quy trình sản xuất và duy trì tính ổn định của vùng nguyên liệu.
Đối với các khu vực vùng sâu vùng xa hoặc điều kiện sản xuất khó khăn, việc duy trì ổn định vùng nguyên liệu đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nguồn lực rất lớn và chấp nhận nhiều rủi ro về thị trường cũng như tổ chức sản xuất. Tuy nhiên, cơ chế đầu tư gắn với bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm giá và hỗ trợ kỹ thuật đã góp phần duy trì niềm tin giữa doanh nghiệp và người sản xuất, từ đó giúp phát triển vùng nguyên liệu theo hướng ổn định và bền vững trong dài hạn.
Ngược lại, mô hình của SLTC/Hòa Việt được phát triển theo hướng đầu tư sâu vào vùng nguyên liệu thông qua hợp đồng đầu tư sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, quản trị chất lượng và duy trì hệ thống cán bộ kỹ thuật bám địa bàn. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp hình thành được vùng nguyên liệu ổn định với quy mô lớn và khả năng kiểm soát chất lượng tốt hơn trong dài hạn.
Vai trò bảo hiểm giá và duy trì động lực liên kết chuỗi
Trong thực tiễn phát triển vùng nguyên liệu, các sản phẩm nguyên liệu có chất lượng cao thường trở thành đối tượng cạnh tranh thu mua giữa các doanh nghiệp và thương lái trên thị trường. Đối với mô hình của SLTC/Hòa Việt, do chất lượng nguyên liệu được đầu tư và kiểm soát phù hợp với yêu cầu của các dòng thuốc điếu cao cấp có giá trị gia tăng cao nên nhiều đơn vị thu mua và thương lái đã tham gia cạnh tranh thu mua trực tiếp tại vùng nguyên liệu.
Để duy trì tính ổn định của chuỗi giá trị, SLTC/Hòa Việt đã triển khai đồng thời nhiều giải pháp quản trị. Trước hết, doanh nghiệp áp dụng cơ chế bảo hiểm giá linh hoạt bằng cách điều chỉnh tăng giá thu mua so với giá hợp đồng nhằm bảo vệ lợi ích người sản xuất và duy trì động lực liên kết trong điều kiện thị trường biến động. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chủ động phối hợp với chính quyền địa phương tại các vùng nguyên liệu trọng điểm nhằm tăng cường bảo vệ nhà đầu tư chuỗi và vận động người sản xuất thực hiện đúng các cam kết liên kết.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn xây dựng hệ thống cán bộ kỹ thuật bám sát địa bàn với cơ chế quản lý cụ thể theo từng hộ sản xuất nhằm hỗ trợ kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, sản lượng và tiến độ thu hoạch. Cơ chế quản trị này không chỉ giúp ổn định vùng nguyên liệu mà còn góp phần duy trì tính kỷ luật và hiệu quả vận hành của hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường.
Mặc dù tình trạng cạnh tranh thu mua tại vùng nguyên liệu diễn ra khá phổ biến, tuy nhiên nhờ triển khai đồng bộ các cơ chế quản trị chuỗi như bảo hiểm giá linh hoạt, phối hợp với chính quyền địa phương và duy trì hệ thống cán bộ kỹ thuật bám sát địa bàn, tỷ lệ thất thoát sản lượng đầu tư do cạnh tranh thu mua của SLTC/Hòa Việt trong nhiều vụ sản xuất chỉ dao động khoảng trên dưới 10% tổng sản lượng đầu tư. Điều này cho thấy hiệu quả tương đối cao của cơ chế quản trị vùng nguyên liệu và duy trì liên kết chuỗi trong điều kiện cạnh tranh thị trường phức tạp.
Bên cạnh việc duy trì ổn định vùng nguyên liệu, mô hình đầu tư và quản trị chuỗi của SLTC/Hòa Việt còn góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nguyên liệu. Theo báo cáo hoạt động của Hòa Việt năm 2025, năng suất vùng nguyên liệu đạt khoảng 3,5 tấn/ha, tương đương với mức năng suất của nhiều vùng sản xuất tiên tiến trên thế giới. Đây là minh chứng quan trọng cho hiệu quả của mô hình CGT-ĐHTT trong phát triển vùng nguyên liệu nông nghiệp bền vững.
Vai trò quản trị chất lượng và hệ thống ISO trong phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT
Trong mô hình CGT-ĐHTT, quản trị chất lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tính ổn định của nguyên liệu và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Đối với SLTC/Hòa Việt, quản trị chất lượng không chỉ được triển khai tại văn phòng hoặc nhà máy chế biến mà được mở rộng trên toàn bộ hệ sinh thái chuỗi giá trị, bao gồm cả vùng nguyên liệu và các chi nhánh sản xuất.
Thực tiễn triển khai hệ thống ISO 9001:2000 cho thấy việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tại văn phòng và nhà máy có thể hoàn thành trong thời gian tương đối ngắn. Tuy nhiên, việc triển khai đồng bộ hệ thống quản trị chất lượng trên toàn bộ vùng nguyên liệu và hệ thống nhiều chi nhánh sản xuất tại các địa phương khác nhau đòi hỏi thời gian và nguồn lực lớn hơn rất nhiều. Đối với mô hình của SLTC/Hòa Việt, quá trình triển khai và hoàn thiện hệ thống ISO trên toàn bộ vùng nguyên liệu và 12 chi nhánh kéo dài khoảng 3 năm mới có thể vận hành tương đối đồng bộ và ổn định.
Điều này cho thấy quản trị chất lượng trong hệ sinh thái CGT-ĐHTT nông nghiệp có mức độ phức tạp rất cao do liên quan đến nhiều tác nhân, nhiều vùng sản xuất và nhiều điều kiện canh tác khác nhau. Thông qua hệ thống ISO, doanh nghiệp không chỉ kiểm soát chất lượng sản phẩm mà còn từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, tăng cường khả năng truy xuất nguồn gốc, nâng cao tính ổn định của vùng nguyên liệu và củng cố niềm tin của các đối tác tiêu thụ trong và ngoài nước.
Vai trò của DNDD trong hình thành hệ sinh thái CGT-ĐHTT
Trong các mô hình chuỗi giá trị truyền thống, doanh nghiệp thường chỉ tham gia ở vai trò thu mua, chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm sau sản xuất. Ngược lại, trong mô hình CGT-ĐHTT của SLTC, DNDD tham gia ngay từ khâu định hướng thị trường, tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư đầu vào, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị chất lượng, bảo hiểm giá, liên kết tiêu thụ và điều phối toàn bộ dòng vận động của chuỗi theo nhu cầu thị trường. Chính cơ chế quản trị này đã tạo ra sự liên kết ổn định giữa các tác nhân trong chuỗi và làm thay đổi căn bản phương thức phát triển nông nghiệp truyền thống.
Nghiên cứu cho thấy, chuỗi giá trị định hướng thị trường không hình thành một cách tự phát mà được tạo lập thông qua năng lực quản trị chiến lược của DNDD. Nói cách khác, quản trị DNDD chính là “nguyên nhân”, còn hệ sinh thái CGT-ĐHTT là “kết quả” được hình thành từ quá trình tổ chức, điều phối và phát triển chuỗi theo định hướng nhu cầu thị trường.
Từ thực tiễn hơn 30 năm vận hành của Hòa Việt, có thể nhận thấy rằng khi DNDD đủ năng lực thị trường, năng lực tài chính, năng lực công nghệ và uy tín liên kết, chuỗi giá trị sẽ tiếp tục mở rộng vượt ra ngoài phạm vi liên kết sản xuất đơn thuần để tiến tới hình thành một hệ sinh thái phát triển đa tầng và đa chiều. Trong hệ sinh thái đó, các quan hệ giữa doanh nghiệp - nông dân - nhà cung cấp vật tư - tổ chức tín dụng - cơ quan quản lý nhà nước - đối tác tiêu thụ - doanh nghiệp xuất khẩu được kết nối và vận hành theo cùng một định hướng thị trường thống nhất.
Vì vậy, nghiên cứu này cho rằng DNDD không chỉ là “trung tâm điều phối chuỗi” mà còn là “hạt nhân kiến tạo hệ sinh thái CGT-ĐHTT”, quyết định khả năng ổn định, hiệu quả và phát triển bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập thị trường hiện nay.
HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ CHÍNH SÁCH TRONG PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI CGT-ĐHTT NÔNG NGHIỆP
Nghiên cứu này cho thấy sự phát triển bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp không thể chỉ dựa trên các liên kết sản xuất đơn lẻ mà cần hình thành một hệ sinh thái liên kết đa tầng và đa chiều giữa các tác nhân tham gia chuỗi. Trong hệ sinh thái này, DNDD giữ vai trò trung tâm trong việc định hướng thị trường, điều phối liên kết, đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, quản trị chất lượng và tổ chức vận hành chuỗi theo yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, các hàm ý quản trị được đề xuất gồm
Hàm ý quản trị đối với DNDD trong phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT
Nâng cao năng lực định hướng thị trường và quản trị nhu cầu
DNDD cần chuyển mạnh từ tư duy quản trị sản xuất sang tư duy quản trị thị trường, trong đó nhu cầu thị trường phải trở thành cơ sở định hướng cho toàn bộ hoạt động đầu tư, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây là yếu tố cốt lõi tạo nên sự khác biệt giữa mô hình chuỗi giá trị truyền thống và mô hình CGT-ĐHTT.
Tăng cường quản trị liên kết chuỗi và phát triển vùng nguyên liệu bền vững
Nghiên cứu cho thấy liên kết chuỗi chỉ bền vững khi DNDD giữ vai trò trung tâm trong tổ chức và điều phối các tác nhân tham gia chuỗi. Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ với nông dân và hợp tác xã thông qua hợp đồng đầu tư sản xuất, bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật và quản lý đồng bộ vùng nguyên liệu.
Mô hình liên kết của SLTC/Hòa Việt cho thấy việc đầu tư trước vật tư, giống, phân bón, kỹ thuật canh tác và đồng thời cam kết thu mua sản phẩm đã góp phần ổn định vùng nguyên liệu trong thời gian dài. Cơ chế này không chỉ giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng nguyên liệu mà còn tạo niềm tin cho nông dân, giảm tình trạng sản xuất tự phát và hạn chế rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng.
Hoàn thiện cơ chế bảo hiểm giá và ổn định chuỗi giá trị
Một trong những vấn đề lớn của chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam là tình trạng tranh mua nguyên liệu và phá vỡ liên kết đầu tư giữa doanh nghiệp với nông dân. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy nếu không có cơ chế bảo hiểm giá phù hợp, doanh nghiệp rất khó duy trì đầu tư dài hạn cho vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị dễ rơi vào trạng thái mất ổn định.
Từ kinh nghiệm thực tiễn của SLTC/Hòa Việt, nghiên cứu cho rằng DNDD cần xây dựng cơ chế bảo hiểm giá linh hoạt nhằm bảo vệ lợi ích của người sản xuất và duy trì tính ổn định của chuỗi giá trị. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể điều chỉnh tăng giá thu mua so với giá hợp đồng để hạn chế tình trạng tranh mua từ các đơn vị không đầu tư vùng nguyên liệu. Cơ chế này tuy làm tăng chi phí ngắn hạn nhưng góp phần duy trì niềm tin của nông dân, ổn định sản xuất và bảo vệ tính bền vững của hệ sinh thái chuỗi giá trị trong dài hạn.
Phát triển năng lực quản trị hệ sinh thái và vốn con người
Doanh nghiệp cần chú trọng phát triển đội ngũ quản trị có năng lực chiến lược, năng lực thị trường, năng lực điều phối chuỗi và khả năng thích ứng với biến động của môi trường kinh doanh. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, quản lý vùng nguyên liệu, quản trị chất lượng và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của toàn hệ sinh thái CGT-ĐHTT.
Đẩy mạnh đổi mới công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị chuỗi giá trị
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, DNDD cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị chuỗi giá trị. Việc ứng dụng dữ liệu số trong quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, dự báo thị trường và quản trị logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành và khả năng phản ứng với biến động thị trường.
Hàm ý chính sách đối với Nhà nước trong phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT nông nghiệp
Việc hoàn thiện cơ chế liên kết cũng phù hợp với định hướng của Nghị định 98/2018/NĐ-CP về khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Chính phủ, 2018). Theo đó, các hàm ý được đề xuất gồm:
Hoàn thiện chính sách phát triển DNDD trong nông nghiệp
Nghiên cứu cho thấy DNDD giữ vai trò trung tâm trong tổ chức và điều phối hệ sinh thái CGT-ĐHTT. Tuy nhiên, trên thực tế số lượng doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay còn hạn chế. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị thông qua các cơ chế ưu đãi phù hợp về tín dụng, đất đai, đầu tư hạ tầng, khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào vùng nguyên liệu, chế biến sâu và phát triển thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện cơ chế bảo vệ liên kết đầu tư chuỗi giá trị
Một trong những rủi ro lớn đối với phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp hiện nay là tình trạng tranh mua nguyên liệu và phá vỡ hợp đồng liên kết giữa các tác nhân tham gia chuỗi. Thực tiễn nghiên cứu từ Công ty Cổ phần Hòa Việt cho thấy nếu không có cơ chế bảo vệ phù hợp, doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu sẽ gặp nhiều khó khăn trong duy trì liên kết dài hạn với nông dân.
Do đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý nhằm bảo vệ các quan hệ liên kết đầu tư trong chuỗi giá trị nông nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào vùng nguyên liệu và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân. Định hướng này phù hợp với Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Chính phủ, 2018). Đồng thời, cần nâng cao hiệu lực thực thi hợp đồng, minh bạch trách nhiệm và quyền lợi của các bên, qua đó hạn chế hành vi phá vỡ liên kết và củng cố động lực đầu tư dài hạn.
Chính sách phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT trong nông nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển chuỗi giá trị theo hướng bền vững cần được tiếp cận theo tư duy hệ sinh thái thay vì chỉ tập trung vào từng khâu sản xuất riêng lẻ. Vì vậy, Nhà nước cần xây dựng chính sách thúc đẩy liên kết đa ngành và đa tác nhân trong hệ sinh thái CGT-ĐHTT, bao gồm doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng, cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống logistics.
Trong đó, cần ưu tiên phát triển hạ tầng phục vụ chuỗi giá trị như giao thông, kho bãi, logistics, hệ thống kiểm định chất lượng và hạ tầng số nhằm nâng cao khả năng kết nối và vận hành của toàn hệ sinh thái. Đồng thời, cần tăng cường hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ, phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc và nâng cao năng lực quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu và trường đại học nhằm tăng cường đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái CGT-ĐHTT trong dài hạn.
Chính sách phát triển nông nghiệp định hướng thị trường và hội nhập quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy thị trường. Điều này đòi hỏi hệ thống chính sách nông nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thay vì chỉ tập trung vào mở rộng sản lượng.
Nhà nước cần tăng cường cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực dự báo thị trường cho các doanh nghiệp và người sản xuất. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển các vùng nguyên liệu tập trung gắn với yêu cầu chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế.
KẾT LUẬN
Kết luận chung của nghiên cứu
Trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu lý luận, phương pháp thực chứng và phân tích trường hợp điển hình từ quá trình hình thành và phát triển hơn 30 năm của Công ty Cổ phần Hòa Việt, nghiên cứu cho thấy chuỗi giá trị nông nghiệp chỉ có thể phát triển ổn định và bền vững khi được tổ chức và vận hành theo định hướng thị trường. Đây là điểm khác biệt căn bản so với mô hình chuỗi giá trị truyền thống vốn chủ yếu phát triển theo hướng sản xuất trước và tìm thị trường sau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong mô hình CGT-ĐHTT, DNDD giữ vai trò trung tâm trong việc định hướng nhu cầu thị trường, tổ chức liên kết sản xuất, đầu tư vùng nguyên liệu, quản trị chất lượng, bảo hiểm giá, điều phối các tác nhân tham gia chuỗi và phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế. Từ thực tiễn vận hành của SLTC, nghiên cứu khẳng định rằng DNDD không chỉ là chủ thể điều phối chuỗi giá trị mà còn là nguyên nhân hình thành và thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái CGT-ĐHTT trong nông nghiệp.
Thực tiễn phát triển của Công ty Cổ phần Hòa Việt cho thấy mô hình CGT-ĐHTT đã góp phần quan trọng trong ổn định vùng nguyên liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập của nông dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương như Gia Lai, Tây Ninh và Ninh Thuận. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy các cơ chế quản trị như đầu tư sản xuất theo hợp đồng, bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm giá và quản trị chất lượng đồng bộ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tính ổn định của hệ sinh thái chuỗi giá trị nông nghiệp.
Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là sự phát triển bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp không thể chỉ dựa vào quan hệ mua bán đơn thuần mà cần được bảo vệ bằng các cơ chế liên kết đầu tư và chính sách phù hợp. Thực tiễn tranh mua nguyên liệu trong nhiều năm cho thấy nếu thiếu cơ chế bảo vệ doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu thì chuỗi giá trị rất dễ mất ổn định, làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phát triển nông nghiệp bền vững.
Đóng góp lý luận của nghiên cứu
Nghiên cứu này có một số đóng góp lý luận quan trọng đối với lĩnh vực quản trị chuỗi giá trị và phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ nhất, nghiên cứu góp phần phát triển cách tiếp cận chuỗi giá trị theo định hướng thị trường trong nông nghiệp. Trên cơ sở kế thừa lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter, nghiên cứu cho rằng trong điều kiện cạnh tranh và biến động thị trường hiện nay, chuỗi giá trị nông nghiệp cần được tổ chức theo hướng lấy nhu cầu thị trường làm trung tâm thay vì phát triển theo mô hình sản xuất trước và tìm thị trường sau.
Thứ hai, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của DNDD trong phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy DNDD không chỉ giữ vai trò điều phối các hoạt động trong chuỗi mà còn là chủ thể định hướng thị trường, tổ chức liên kết sản xuất, đầu tư vùng nguyên liệu, quản trị chất lượng và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Đặc biệt, nghiên cứu cho rằng DNDD chính là nguyên nhân hình thành và phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT trong nông nghiệp. Đây là một điểm mở rộng lý luận quan trọng so với các nghiên cứu chuỗi giá trị truyền thống vốn chủ yếu xem doanh nghiệp như một tác nhân tham gia chuỗi.
Thứ ba, nghiên cứu góp phần mở rộng cách tiếp cận từ “chuỗi giá trị” sang “hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường”. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi chuỗi giá trị phát triển ở trình độ cao hơn, các quan hệ liên kết không còn giới hạn trong phạm vi sản xuất - chế biến - tiêu thụ mà mở rộng thành hệ sinh thái đa tầng và đa chiều giữa doanh nghiệp, nông dân, tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, hệ thống logistics và các đối tác thị trường. Từ đó, nghiên cứu đề xuất cách tiếp cận quản trị hệ sinh thái CGT-ĐHTT như một mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại và bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Thứ tư, nghiên cứu góp phần bổ sung luận cứ lý luận về vai trò của cơ chế bảo hiểm giá và bảo vệ liên kết đầu tư chuỗi trong phát triển nông nghiệp bền vững. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy nếu thiếu cơ chế bảo vệ doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu thì chuỗi giá trị rất dễ bị phá vỡ do tình trạng tranh mua và cạnh tranh không lành mạnh. Từ đó, nghiên cứu cho rằng cơ chế bảo vệ liên kết đầu tư chuỗi cần được xem là một bộ phận quan trọng trong quản trị hệ sinh thái CGT-ĐHTT nông nghiệp.
Thứ năm, nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực chứng cho lý thuyết phát triển nông nghiệp định hướng thị trường tại Việt Nam thông qua trường hợp điển hình của SLTC/Hòa Việt. Đây là một trong số ít nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thực tiễn vận hành chuỗi giá trị trong thời gian dài với quy mô lớn, có sự tham gia của các đối tác quốc tế như British American Tobacco, Philip Morris International và Dimon Incorporated.
Đóng góp thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu cung cấp các minh chứng thực tiễn về vai trò của DNDD trong phát triển vùng nguyên liệu và ổn định chuỗi giá trị nông nghiệp. Thông qua các cơ chế như đầu tư sản xuất theo hợp đồng, bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm giá, hỗ trợ kỹ thuật và quản trị chất lượng đồng bộ, Công ty Cổ phần Hòa Việt đã góp phần phát triển ổn định vùng nguyên liệu tại nhiều địa phương như Gia Lai, Tây Ninh và Ninh Thuận, đồng thời nâng cao thu nhập cho nông dân và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Nghiên cứu cũng cung cấp mô hình tham khảo cho phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT trong các ngành nông nghiệp khác. Mặc dù được nghiên cứu trong ngành nguyên liệu thuốc lá nhưng các nguyên lý quản trị chuỗi theo định hướng thị trường, vai trò DNDD, cơ chế liên kết đầu tư và phát triển hệ sinh thái có thể được vận dụng trong nhiều ngành hàng nông nghiệp khác tại Việt Nam.
Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Mặc dù nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu đề ra và có những đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn, tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện trong các nghiên cứu tiếp theo.
Thứ nhất, nghiên cứu chủ yếu được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình dựa trên thực tiễn vận hành của SLTC/Hòa Việt trong ngành nguyên liệu thuốc lá. Mặc dù đây là trường hợp có giá trị thực chứng cao và thời gian vận hành dài, tuy nhiên kết quả nghiên cứu vẫn chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm riêng của ngành hàng, mô hình tổ chức và bối cảnh lịch sử phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, khả năng khái quát hóa cho toàn bộ các ngành nông nghiệp khác vẫn cần tiếp tục được kiểm chứng thông qua các nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Thứ hai, nghiên cứu tập trung nhiều vào phân tích thực chứng, quản trị chuỗi và phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT, trong khi các phân tích định lượng mới chỉ dừng ở mức hỗ trợ cho lập luận nghiên cứu. Do hạn chế về dữ liệu lịch sử dài hạn và tính đặc thù của mô hình nghiên cứu, nghiên cứu chưa đi sâu vào xây dựng các mô hình kinh tế lượng phức tạp nhằm lượng hóa đầy đủ mức độ tác động của từng yếu tố đến hiệu quả và phát triển bền vững của chuỗi giá trị.
Thứ ba, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vai trò của DNDD trong phát triển hệ sinh thái CGT-ĐHTT mà chưa đi sâu phân tích đầy đủ tác động của các yếu tố thể chế, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và các thay đổi trong cấu trúc thương mại quốc tế đối với sự phát triển dài hạn của chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh mới.
Thứ tư, mặc dù nghiên cứu đã đề cập đến cơ chế bảo hiểm giá và bảo vệ liên kết đầu tư chuỗi, nhưng đây vẫn là lĩnh vực còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh pháp lý, thể chế và cơ chế thực thi trong điều kiện kinh tế thị trường tại Việt Nam. Vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu liên ngành nhằm hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách bảo vệ liên kết đầu tư chuỗi trong nông nghiệp.
Từ các hạn chế trên, nghiên cứu đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo như sau: Mở rộng nghiên cứu mô hình hệ sinh thái CGT-ĐHTT sang các ngành hàng nông nghiệp khác như cà phê, hồ tiêu, trái cây, lúa gạo và thủy sản nhằm kiểm chứng khả năng vận dụng và khái quát hóa mô hình nghiên cứu; Tiếp tục phát triển các nghiên cứu định lượng nhằm lượng hóa tác động của các yếu tố như định hướng thị trường, liên kết chuỗi, đầu tư sản xuất, bảo hiểm giá, quản trị chất lượng và đổi mới công nghệ đến hiệu quả và phát triển bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp; Nghiên cứu cơ chế pháp lý và chính sách bảo vệ doanh nghiệp đầu tư chuỗi giá trị nông nghiệp nhằm hạn chế tình trạng tranh mua và nâng cao tính ổn định của các liên kết đầu tư dài hạn trong nông nghiệp.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2018). Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
2. Đàm Quang Thắng & Phạm Thị Mỹ Dung (2019). Liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong kinh doanh nông nghiệp: Một số lý luận và thực tiễn. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 17(5), 424-431.
3. Gereffi, G., Humphrey, J., & Sturgeon, T. (2005). The governance of global value chains. Review of International Political Economy, 12(1), 78-104. https://doi.org/10.1080/09692290500049805
4. Hoàng Thị Thu Huyền (2023). Kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị ở Đồng bằng sông Cửu Long – Thực trạng và gợi ý giải pháp. Tạp chí Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 9(301), 24-39.
5. Kaplinsky, R., & Morris, M. (2001). A handbook for value chain research. International Development Research Centre.
6. Kohli, A. K., & Jaworski, B. J. (1990). Market orientation: The construct, research propositions, and managerial implications. Journal of Marketing, 54(2), 1-18. https://doi.org/10.1177/002224299005400201
7. Neven, D. (2014). Developing sustainable food value chains: Guiding principles. Food and Agriculture Organization of the United Nations.
8. Porter, M. E. (1985). Competitive advantage: Creating and sustaining superior performance. Free Press.
9. Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 926/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026-2030.
10. Yin, R. K. (2018). Case study research and applications: Design and methods (6th ed.). SAGE Publications.
| Ngày nhận bài: 8/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 16/8/2026; Ngày duyệt đăng: 20/8/2026 |
Các tin khác
Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai
Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023
Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến
Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục