Vai trò của chuỗi giá trị định hướng thị trường trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững: Minh chứng từ mô hình Công ty cổ phần Hòa Việt
TS. Nguyễn Tài
Giảng viên khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính - Marketing (UFM)
Email: ntai@ufm.edu.vn
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong việc giải quyết những hạn chế của chuỗi giá trị nông nghiệp truyền thống tại Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu thực chứng và phân tích mô tả dựa trên dữ liệu của Công ty cổ phần Hòa Việt (tiền thân là SLTC, đơn vị “đầu tàu” trong nghành nguyên liệu thuốc lá Việt Nam) giai đoạn 1983-2025, tác giả làm rõ sự chuyển dịch từ tư duy “sản xuất trước - thị trường sau” sang tư duy “thị trường dẫn dắt sản xuất”. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình này không chỉ giúp ổn định vùng nguyên liệu quy mô lớn mà còn nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, nghiên cứu khẳng định mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường đóng vai trò như một cơ chế giảm rủi ro tự thân, giúp bảo vệ nông dân trước biến động thị trường bằng các hợp đồng bao tiêu và bảo hiểm giá. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý về chính sách và quản trị nhằm phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, gắn với cam kết về Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) và kinh tế xanh.
Từ khóa: Chuỗi giá trị định hướng thị trường, chuỗi giá trị nông nghiệp, năng suất, chất lượng sản phẩm
Abstract
This article examines the role of the market-oriented value chain model in addressing the limitations of traditional agricultural value chains in Viet Nam. Using an empirical research approach and descriptive analysis based on data from Hoa Viet Joint Stock Company (formerly SLTC, a leading enterprise in Viet Nam’s tobacco raw material industry) during the period 1983-2025, the study highlights the transition from a “production-first, market-later” mindset to a “market-driven production” approach. The findings indicate that this model not only stabilizes large-scale raw material zones but also enhances productivity and product quality. More importantly, the study confirms that the market-oriented value chain model serves as a self-regulating mechanism for risk mitigation, protecting farmers against market fluctuations through contract farming arrangements and price insurance schemes. Based on these findings, the article proposes policy and managerial implications for developing a sustainable agricultural ecosystem aligned with Environmental, Social, and Governance (ESG) commitments and the principles of the green economy.
Keywords: Market-oriented value chain, agricultural value chain, productivity, product quality
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh doanh bền vững và thực hiện các cam kết phát triển bền vững (SDGs), Net Zero đến năm 2050, yêu cầu tái cấu trúc các chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng liên kết, tích hợp và định hướng thị trường ngày càng trở nên cấp thiết. Quyết định số 926/QĐ-TTg về Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững giai đoạn 2026-2030 cho thấy định hướng phát triển mới của quốc gia không còn dừng ở hỗ trợ doanh nghiệp đơn lẻ mà chuyển mạnh sang phát triển hệ sinh thái kinh doanh bền vững, gắn với các tiêu chuẩn (ESG), kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị. Đây cũng chính là nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc nghiên cứu mô hình hệ sinh thái chuỗi giá trị định hướng thị trường trong nông nghiệp.
Cũng do bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gia tăng, thực tiễn cho thấy nhiều chuỗi giá trị nông nghiệp vẫn đối mặt với các vấn đề như sản xuất manh mún, thiếu liên kết thị trường, biến động giá cả, dư thừa sản phẩm cục bộ và rủi ro đầu ra kéo dài. Tình trạng “được mùa mất giá” vẫn diễn ra phổ biến trong nhiều ngành hàng nông sản, làm suy giảm tính ổn định và hiệu quả của chuỗi giá trị nông nghiệp.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là phần lớn chuỗi giá trị nông nghiệp truyền thống thường khởi đầu từ sản xuất, sau đó mới tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Cách tiếp cận này tuy có thể gia tăng sản lượng trong ngắn hạn nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiếu định hướng nhu cầu thị trường, dẫn đến mất cân đối cung - cầu, giảm hiệu quả đầu tư và thiếu tính bền vững trong dài hạn. Trong nhiều trường hợp, nông dân và doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực cạnh tranh không ổn định, biến động giá thu mua và thiếu cơ chế bảo vệ các chủ thể đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu.
Trong lý luận chuỗi giá trị truyền thống của Michael Porter (1985), chuỗi giá trị thường được tiếp cận theo tiến trình từ sản xuất, chế biến, phân phối đến thị trường tiêu thụ Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng, cách tiếp cận này bộc lộ những hạn chế nhất định đối với lĩnh vực nông nghiệp, vốn chịu ảnh hưởng mạnh của biến động thị trường và rủi ro sinh học. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần xây dựng mô hình chuỗi giá trị có khả năng liên kết chặt chẽ giữa nhu cầu thị trường với tổ chức sản xuất nhằm bảo đảm tính ổn định và phát triển bền vững của toàn chuỗi.
Từ thực tiễn đó, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường của Công ty cổ phần Hòa Việt được xem là một trường hợp thực chứng có giá trị lý luận và thực tiễn đáng chú ý trong phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam. Khác với mô hình chuỗi giá trị truyền thống, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường được vận hành theo định hướng “thị trường dẫn dắt sản xuất”, trong đó nhu cầu thị trường đóng vai trò trung tâm cho việc hoạch định vùng nguyên liệu, đầu tư sản xuất, tổ chức chế biến và phát triển hệ thống tiêu thụ. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp dẫn dắt thực hiện liên kết chuỗi thông qua hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm giá và kiểm soát chất lượng toàn chuỗi nhằm bảo đảm tính ổn định lâu dài của vùng nguyên liệu và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Thực tiễn vận hành mô hình của Công ty cổ phần Hòa Việt trong hơn 3 thập kỷ cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ góp phần ổn định vùng nguyên liệu và nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra nhiều tác động tích cực về kinh tế, xã hội và môi trường. Mô hình này đã góp phần phát triển nhiều vùng nguyên liệu quy mô lớn như Krông Pa (Gia Lai), Tây Ninh và Ninh Thuận; thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao thu nhập cho nông dân; đồng thời, hỗ trợ giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương tại nhiều khu vực khó khăn.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích vai trò của chuỗi giá trị định hướng thị trường trong ổn định và phát triển nông nghiệp bền vững thông qua minh chứng thực tiễn từ mô hình Công ty cổ phần Hòa Việt. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách nhằm phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh thị trường hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận
Chuỗi giá trị và chuỗi giá trị nông nghiệp
Khái niệm chuỗi giá trị được phát triển nổi bật bởi Michael Porter (1985), cho rằng giá trị của sản phẩm được hình thành thông qua chuỗi các hoạt động liên kết từ đầu vào, sản xuất, chế biến, phân phối đến tiêu dùng. Theo cách tiếp cận này, chuỗi giá trị không chỉ là quá trình tạo ra sản phẩm mà còn là quá trình gia tăng giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các chủ thể tham gia trong chuỗi.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, chuỗi giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng do sản xuất nông nghiệp thường chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện tự nhiên, biến động thị trường và tính phân tán của hộ sản xuất. Vì vậy, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế mà còn hướng đến ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập nông dân và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, nhiều chuỗi giá trị nông nghiệp truyền thống thường vận hành theo logic sản xuất trước - thị trường sau, dẫn đến nguy cơ mất cân đối cung cầu và thiếu ổn định đầu ra. Điều này đặt ra yêu cầu cần chuyển từ tư duy “sản xuất những gì mình có” sang “sản xuất những gì thị trường cần”.
Chuỗi giá trị định hướng thị trường
Trên cơ sở kế thừa lý luận chuỗi giá trị truyền thống, nghiên cứu này tiếp cận khái niệm chuỗi giá trị định hướng thị trường như một mô hình phát triển chuỗi mà trong đó nhu cầu thị trường đóng vai trò trung tâm định hướng toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến và phân phối.
Trong mô hình chuỗi giá trị truyền thống, chuỗi giá trị thường vận hành theo trình tự:
SX → CB → PP → TT
Trong khi đó, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường được vận hành theo logic:
TT → SX → CB → PP
Trong đó: TT: Thị trường; SX: Sản xuất; CB: Chế biến; PP: Phân phối.
Điểm khác biệt cốt lõi của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường là thị trường giữ vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị thay vì chỉ đóng vai trò tiêu thụ cuối cùng. Theo đó, nhu cầu về sản lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và xu hướng tiêu dùng được xác định trước để định hướng tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư sản xuất và kiểm soát chất lượng toàn chuỗi.
Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro thị trường, nâng cao tính ổn định của chuỗi giá trị và tăng khả năng thích ứng với cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Phát triển nông nghiệp bền vững trong tiếp cận chuỗi giá trị
Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu là quá trình phát triển bảo đảm hài hòa giữa 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong tiếp cận chuỗi giá trị, tính bền vững không chỉ thể hiện ở hiệu quả sản xuất mà còn bao gồm: khả năng ổn định đầu ra; duy trì liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi; nâng cao thu nhập cho nông dân; sử dụng hiệu quả tài nguyên; và khả năng thích ứng với biến động thị trường.
Do đó, một chuỗi giá trị nông nghiệp chỉ được xem là bền vững khi vừa tạo ra hiệu quả kinh tế dài hạn, vừa duy trì ổn định xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường sản xuất.
Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường
Trong mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường, doanh nghiệp dẫn dắt giữ vai trò trung tâm trong việc kết nối thị trường với sản xuất thông qua tổ chức liên kết chuỗi, đầu tư vùng nguyên liệu và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Vai trò này được thể hiện thông qua: dự báo và phát triển thị trường; ký kết hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm; hỗ trợ kỹ thuật sản xuất; bảo hiểm giá; tổ chức chế biến; và phát triển hệ thống tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Trong thực tiễn, doanh nghiệp dẫn dắt không chỉ tạo động lực phát triển chuỗi giá trị mà còn góp phần ổn định sản xuất và giảm rủi ro cho nông dân, đặc biệt trong điều kiện thị trường biến động mạnh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo cách tiếp cận thực chứng, kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích mô tả thực tiễn nhằm đánh giá vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong ổn định và phát triển nông nghiệp bền vững.
Nghiên cứu sử dụng trường hợp điển hình của Công ty cổ phần Hòa Việt với dữ liệu thực tiễn được tích lũy trong giai đoạn từ năm 1983 đến năm 2025. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm: số liệu phát triển vùng nguyên liệu; sản lượng và năng suất; hoạt động đầu tư sản xuất; xuất khẩu; tổ chức liên kết chuỗi; hệ thống quản lý chất lượng; và các báo cáo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích chủ yếu bao gồm: phân tích chuỗi giá trị; phân tích so sánh; phân tích thực chứng; và tổng hợp lý luận với thực tiễn vận hành mô hình.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng các minh chứng thực tiễn từ các vùng nguyên liệu như Krông Pa (Gia Lai), Tây Ninh và Ninh Thuận nhằm làm rõ vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Những hạn chế của chuỗi giá trị truyền thống trong phát triển nông nghiệp bền vững
Lý luận chuỗi giá trị của Michael Porter có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc tối ưu hóa các hoạt động trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên, khi vận dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt trong điều kiện của các nước đang phát triển, mô hình chuỗi giá trị truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế cần được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững.
Trong mô hình chuỗi giá trị truyền thống, quá trình vận hành thường được tiếp cận theo trình tự:
SX (Sản xuất) → CB (Chế biến)→ PP (Phân phối) → TT (Thị trường)
Theo cách tiếp cận này, sản xuất thường được triển khai trước, trong khi nhu cầu thị trường chủ yếu được xem như khâu tiêu thụ cuối cùng của chuỗi giá trị. Điều này có thể phù hợp đối với một số ngành công nghiệp ổn định, nhưng trong lĩnh vực nông nghiệp lại tiềm ẩn nhiều rủi ro do sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng mạnh của biến động cung - cầu, điều kiện tự nhiên và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường tiêu dùng.
Thực tiễn cho thấy nhiều chuỗi giá trị nông nghiệp vận hành theo mô hình truyền thống thường gặp các vấn đề như: sản xuất mang tính tự phát; thiếu liên kết thị trường; dư thừa sản phẩm cục bộ; biến động giá thu mua; phá vỡ hợp đồng liên kết; và thiếu ổn định vùng nguyên liệu.
Trong nhiều trường hợp, nông dân sản xuất theo khả năng sẵn có thay vì theo tín hiệu thị trường, dẫn đến tình trạng “được mùa mất giá”, làm giảm hiệu quả đầu tư và gia tăng rủi ro cho cả người sản xuất lẫn doanh nghiệp thu mua.
Bên cạnh đó, mô hình chuỗi giá trị truyền thống thường chưa giải quyết đầy đủ mối quan hệ lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi, đặc biệt là cơ chế bảo vệ các doanh nghiệp đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu. Tình trạng cạnh tranh tranh mua nguyên liệu giữa các đơn vị không đầu tư với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp cho nông dân diễn ra khá phổ biến tại nhiều địa phương, làm suy giảm tính ổn định và tính bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp.
Ngoài ra, việc thiếu định hướng thị trường ngay từ đầu chuỗi còn làm hạn chế khả năng kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến năng lực cạnh tranh của nông sản trong điều kiện hội nhập quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của các thị trường tiêu dùng toàn cầu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những hạn chế nêu trên chính là nguyên nhân làm cho nhiều chuỗi giá trị nông nghiệp khó đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần hình thành mô hình chuỗi giá trị có khả năng liên kết chặt chẽ giữa nhu cầu thị trường với tổ chức sản xuất nhằm nâng cao tính ổn định, hiệu quả và khả năng phát triển bền vững của toàn chuỗi.
Mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường như một cơ chế khắc phục hạn chế của chuỗi giá trị truyền thống
Trên cơ sở những hạn chế của mô hình chuỗi giá trị truyền thống trong phát triển nông nghiệp, nghiên cứu này cho rằng chuỗi giá trị định hướng thị trường có thể được xem như một cơ chế bổ sung và phát triển nhằm nâng cao tính ổn định và tính bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp.
Khác với mô hình chuỗi giá trị truyền thống vận hành theo logic sản xuất trước – thị trường sau, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường được tổ chức theo định hướng:
TT (Thị trường) → SX (Sản xuất) → CB (Chế biến) → PP (Phân phối)
Trong mô hình này, nhu cầu thị trường giữ vai trò trung tâm trong việc định hướng toàn bộ hoạt động của chuỗi giá trị, bao gồm hoạch định vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất, đầu tư kỹ thuật, chế biến và phân phối sản phẩm. Điều này giúp giảm khoảng cách giữa sản xuất và thị trường, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng của chuỗi giá trị trước biến động cung – cầu và cạnh tranh thị trường.
Kết quả nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần Hòa Việt cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường được vận hành thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp dẫn dắt với nông dân và các tác nhân trong chuỗi giá trị. Trên cơ sở nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, doanh nghiệp chủ động xác định quy mô vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng và kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu tiêu thụ thực tế.
Để bảo đảm tính ổn định của chuỗi giá trị, Công ty cổ phần Hòa Việt triển khai cơ chế liên kết sản xuất thông qua hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm. Doanh nghiệp thực hiện đầu tư trước về giống, vật tư, vốn sản xuất và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân, đồng thời cam kết thu mua sản phẩm theo tiêu chuẩn chất lượng đã xác định. Cơ chế này góp phần giảm đáng kể rủi ro đầu ra và tạo động lực duy trì liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp với người sản xuất.
Một trong những điểm khác biệt quan trọng của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường là cơ chế bảo hiểm giá và điều phối thị trường nhằm bảo vệ tính ổn định của chuỗi giá trị. Trong thực tiễn, khi xuất hiện tình trạng cạnh tranh tranh mua nguyên liệu giữa các đơn vị thu mua, doanh nghiệp đã chủ động điều chỉnh giá thu mua phù hợp với thị trường, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương để duy trì ổn định vùng nguyên liệu và bảo vệ lợi ích của các bên tham gia chuỗi giá trị. Điều này giúp hạn chế tình trạng phá vỡ liên kết chuỗi và duy trì niềm tin của nông dân đối với doanh nghiệp đầu tư.
Bên cạnh đó, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường còn giúp nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc thông qua việc quản lý đồng bộ từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ. Việc triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO trên toàn chuỗi giá trị và đầu tư nhà máy chế biến công suất lớn đã góp phần nâng cao chất lượng nguyên liệu, đáp ứng yêu cầu của các thị trường quốc tế và gia tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ góp phần khắc phục những hạn chế của mô hình chuỗi giá trị truyền thống mà còn tạo ra cơ chế điều phối hiệu quả giữa thị trường với sản xuất nông nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao tính ổn định, hiệu quả và khả năng phát triển bền vững của chuỗi giá trị nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong ổn định vùng nguyên liệu và phát triển sản xuất nông nghiệp
Một trong những vai trò nổi bật của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường là khả năng tạo lập và duy trì sự ổn định của vùng nguyên liệu thông qua việc tổ chức sản xuất dựa trên nhu cầu thị trường và cơ chế liên kết chuỗi chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nông dân. Đây được xem là nền tảng quan trọng để phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện cạnh tranh và biến động thị trường ngày càng gia tăng.
Trong mô hình của Công ty cổ phần Hòa Việt, việc phát triển vùng nguyên liệu không được thực hiện theo phương thức thu mua tự phát mà được tổ chức trên cơ sở hoạch định dài hạn gắn với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Trên cơ sở các hợp đồng tiêu thụ với các đối tác quốc tế như British American Tobacco, Philip Morris International và Dimon, doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu phù hợp với yêu cầu về sản lượng, chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường.
Cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân được thực hiện thông qua hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm. Theo đó, doanh nghiệp đầu tư trước về giống, vật tư, kỹ thuật sản xuất, đồng thời hỗ trợ vốn và hướng dẫn quy trình canh tác nhằm bảo đảm chất lượng nguyên liệu đồng bộ trên toàn vùng trồng. Sau thu hoạch, sản phẩm được doanh nghiệp thu mua theo tiêu chuẩn chất lượng đã cam kết. Mô hình liên kết này góp phần giảm đáng kể rủi ro đầu ra cho nông dân, đồng thời tạo điều kiện duy trì ổn định diện tích sản xuất trong dài hạn.
Thực tiễn phát triển vùng nguyên liệu Krông Pa (Gia Lai) là minh chứng điển hình cho vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong tổ chức sản xuất nông nghiệp bền vững. Khi bắt đầu triển khai vào đầu thập niên 1990, khu vực này là một trong những huyện nghèo, điều kiện tự nhiên khó khăn, đất đai bạc màu và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số. Tuy nhiên, thông qua cơ chế liên kết đầu tư sản xuất và bao tiêu sản phẩm, vùng nguyên liệu từng bước được mở rộng từ quy mô thử nghiệm khoảng 3 ha lên khoảng 6.000 ha, trở thành một trong những vùng nguyên liệu vàng sấy lớn của Việt Nam (SLTC/Hòa Việt, 1990 - 2006).
Sự phát triển của vùng nguyên liệu Krông Pa không chỉ thể hiện ở quy mô diện tích mà còn ở năng suất và chất lượng sản phẩm. Năng suất bình quân đạt khoảng 3,5 tấn/ha, tương đương với nhiều vùng sản xuất tiên tiến trên thế giới. Tỷ lệ nguyên liệu cấp 1 và cấp 2 đạt mức cao nhờ áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, đầu tư chiều sâu và hệ thống kiểm soát chất lượng ngay từ khâu sản xuất ban đầu. Điều này cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ giúp mở rộng quy mô sản xuất mà còn nâng cao chất lượng và hiệu quả của chuỗi giá trị nông nghiệp.
Bên cạnh Krông Pa, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường của Công ty cổ phần Hòa Việt còn được triển khai tại nhiều vùng nguyên liệu khác như Tây Ninh và Ninh Thuận. Tại Tây Ninh, diện tích vùng nguyên liệu vàng sấy từng bước được mở rộng nhanh chóng trong giai đoạn 1990-1996 thông qua cơ chế liên kết đầu tư và tổ chức sản xuất tập trung. Tại Ninh Thuận, doanh nghiệp áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và quản lý chất lượng nhằm phát triển vùng nguyên liệu phù hợp với yêu cầu chế biến và xuất khẩu (SLTC/Hòa Việt, 1990-2006).
Một trong những yếu tố quan trọng giúp duy trì tính ổn định của vùng nguyên liệu là cơ chế bảo hiểm giá và điều phối thị trường của doanh nghiệp dẫn dắt. Trong thực tiễn, khi xuất hiện tình trạng cạnh tranh tranh mua nguyên liệu giữa các đơn vị thu mua, doanh nghiệp chủ động điều chỉnh giá thu mua phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích của nông dân và duy trì niềm tin trong liên kết chuỗi. Đồng thời, doanh nghiệp phối hợp với chính quyền địa phương để hạn chế tình trạng phá vỡ hợp đồng và bảo đảm ổn định vùng sản xuất đã đầu tư.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ góp phần phát triển vùng nguyên liệu theo hướng ổn định và hiệu quả mà còn tạo ra cơ chế liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp với người sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng giúp giảm rủi ro thị trường, nâng cao thu nhập cho nông dân và tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp bền vững trong dài hạn.
Vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong nâng cao chất lượng, năng suất và năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị
Bên cạnh vai trò ổn định vùng nguyên liệu, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị nông nghiệp. Đây được xem là điều kiện cốt lõi để chuỗi giá trị có thể duy trì hiệu quả và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt.
|
|
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trong mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường của Công ty cổ phần Hòa Việt, nâng cao năng suất và chất lượng không được thực hiện riêng lẻ ở từng công đoạn mà được tổ chức đồng bộ trên toàn chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu, kỹ thuật sản xuất, quản lý chất lượng đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Việc tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường giúp doanh nghiệp chủ động xác định các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của khách hàng và thị trường tiêu thụ ngay từ đầu chuỗi giá trị.
Thông qua cơ chế liên kết sản xuất với nông dân, doanh nghiệp triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nguyên liệu như: chọn giống phù hợp; đầu tư vật tư đầu vào theo tiêu chuẩn; hướng dẫn quy trình canh tác; kiểm soát dịch bệnh; và quản lý đồng ruộng theo hướng đồng bộ hóa kỹ thuật sản xuất.
Nhờ đó, nhiều vùng nguyên liệu đạt năng suất bình quân khoảng: NS = 3.5 tấn/ha (Nguồn báo cáo Phòng Kế hoạch, Công ty cổ phần Hòa Việt 2025) - Mức năng suất được xem là tương đương với nhiều vùng sản xuất tiên tiến trên thế giới. Đồng thời, tỷ lệ nguyên liệu cấp 1 và cấp 2 được nâng cao đáng kể, góp phần gia tăng giá trị thương mại và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Một trong những yếu tố quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị là việc Công ty cổ phần Hòa Việt triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trên toàn chuỗi giá trị, bao gồm văn phòng công ty, nhà máy chế biến và toàn bộ hệ thống chi nhánh vùng nguyên liệu. Việc áp dụng ISO không chỉ giúp chuẩn hóa quy trình quản lý mà còn tạo ra tính đồng bộ trong kiểm soát chất lượng nguyên liệu từ sản xuất đến chế biến.
Đặc biệt, quá trình triển khai ISO tại các vùng nguyên liệu có ý nghĩa quan trọng vì sản xuất nông nghiệp thường phân tán, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và trình độ canh tác của nông dân. Việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ trên nhiều vùng trồng khác nhau đã góp phần nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, việc đầu tư nhà máy chế biến nguyên liệu công suất 24.000 tấn/năm đã tạo bước chuyển quan trọng trong nâng cao giá trị gia tăng của chuỗi giá trị. Nhà máy được đầu tư theo hướng hiện đại hóa và đồng bộ công nghệ, cho phép nâng cao chất lượng chế biến, giảm tổn thất sau thu hoạch và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các đối tác quốc tế. Điều này giúp chuỗi giá trị không chỉ dừng lại ở sản xuất nguyên liệu mà còn gia tăng năng lực chế biến và phát triển sản phẩm có giá trị thương mại cao hơn.
Nhờ nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng kiểm soát toàn chuỗi, năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Hòa Việt từng bước được cải thiện rõ rệt trên thị trường quốc tế. Trong giai đoạn 2005-2006, kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu tăng mạnh, trung bình đạt khoảng 15 triệu USD/năm (SLTC/Hòa Việt, 2005). Sự tăng trưởng này gắn liền với việc đáp ứng tốt các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng của các tập đoàn quốc tế như British American Tobacco, Philip Morris International và Dimon.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo ra cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị thông qua việc kết hợp đồng bộ giữa tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng, chế biến hiện đại và định hướng thị trường. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững trong dài hạn.
Vai trò của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường trong giảm rủi ro thị trường và phát triển nông nghiệp bền vững
Một trong những thách thức lớn nhất của sản xuất nông nghiệp là mức độ rủi ro cao do chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố như biến động thị trường, điều kiện tự nhiên, dịch bệnh và thay đổi nhu cầu tiêu dùng. Trong nhiều trường hợp, rủi ro thị trường trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thua lỗ, phá sản hoặc đứt gãy chuỗi giá trị, đặc biệt đối với các hộ sản xuất nhỏ, hợp tác xã và các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trong mô hình chuỗi giá trị truyền thống, sản xuất thường được triển khai trước khi xác định chắc chắn nhu cầu tiêu thụ, dẫn đến nguy cơ mất cân đối cung – cầu và biến động giá cả sau thu hoạch. Điều này làm gia tăng áp lực tiêu thụ sản phẩm, giảm hiệu quả đầu tư và tạo ra tâm lý thiếu ổn định trong tổ chức sản xuất nông nghiệp.
Ngược lại, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường giúp giảm đáng kể rủi ro thị trường thông qua việc tổ chức sản xuất dựa trên nhu cầu thị trường và cơ chế liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp với người sản xuất. Trong mô hình của Công ty cổ phần Hòa Việt, kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tế của thị trường trong nước và xuất khẩu. Điều này giúp hạn chế tình trạng sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu thụ và nâng cao khả năng ổn định đầu ra của sản phẩm.
Bên cạnh đó, cơ chế hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc giảm rủi ro cho nông dân và các tác nhân trong chuỗi giá trị. Thông qua cơ chế này, người sản xuất được hỗ trợ về vốn, vật tư, kỹ thuật và đồng thời được bảo đảm đầu ra sản phẩm theo các tiêu chuẩn chất lượng đã thỏa thuận. Điều này giúp giảm áp lực tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch và tạo điều kiện cho người sản xuất yên tâm đầu tư dài hạn.
Một điểm quan trọng khác của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường là cơ chế bảo hiểm giá nhằm hạn chế tác động tiêu cực của biến động thị trường. Trong thực tiễn vận hành của Công ty cổ phần Hòa Việt, khi xuất hiện tình trạng cạnh tranh tranh mua nguyên liệu hoặc biến động giá thị trường, doanh nghiệp chủ động điều chỉnh giá thu mua phù hợp nhằm duy trì lợi ích cho nông dân và bảo vệ tính ổn định của chuỗi giá trị. Cơ chế này góp phần duy trì niềm tin giữa doanh nghiệp với người sản xuất và hạn chế tình trạng phá vỡ liên kết chuỗi.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có vai trò quan trọng trong hỗ trợ phát triển nông nghiệp bền vững tại nhiều địa phương khó khăn. Thông qua cơ chế liên kết sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu, nhiều khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn như Krông Pa từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân và tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường còn góp phần nâng cao tính bền vững xã hội thông qua việc duy trì liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị, giảm xung đột lợi ích trong thu mua nguyên liệu và tạo điều kiện phát triển sản xuất dài hạn. Đồng thời, việc tổ chức sản xuất theo quy trình kỹ thuật đồng bộ cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường sản xuất nông nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ là cơ chế tổ chức sản xuất theo tín hiệu thị trường mà còn là công cụ quan trọng giúp giảm rủi ro, ổn định chuỗi giá trị và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững trong dài hạn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ đơn thuần là mô hình liên kết chuỗi giá trị theo định hướng thị trường mà còn là cơ chế giảm rủi ro mang tính bao trùm đối với phát triển nông nghiệp. Thông qua việc gắn kết chặt chẽ giữa nhu cầu thị trường với tổ chức sản xuất, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường góp phần hạn chế rủi ro đầu ra, giảm biến động thị trường, nâng cao tính ổn định của vùng nguyên liệu và duy trì hiệu quả sản xuất trong dài hạn.
Khác với mô hình sản xuất mang tính tự phát, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường giúp hình thành cơ chế điều phối đồng bộ giữa thị trường, doanh nghiệp và người sản xuất, từ đó nâng cao khả năng thích ứng của chuỗi giá trị trước các biến động kinh tế và cạnh tranh thị trường. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lĩnh vực nông nghiệp, vốn là ngành có mức độ rủi ro cao và dễ dẫn đến phá sản đối với các hộ sản xuất nhỏ hoặc các doanh nghiệp khởi nghiệp nếu thiếu cơ chế liên kết và bảo đảm đầu ra ổn định.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu cho rằng mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp bền vững thông qua việc kết hợp hài hòa giữa ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập, duy trì liên kết chuỗi và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống nông nghiệp.
Thảo luận học thuật
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ là sự mở rộng của lý thuyết chuỗi giá trị truyền thống mà còn là cách tiếp cận phù hợp hơn đối với lĩnh vực nông nghiệp trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập hiện nay. Trong khi lý luận chuỗi giá trị của Michael Porter nhấn mạnh vai trò tối ưu hóa các hoạt động tạo giá trị trong doanh nghiệp và chuỗi cung ứng, thì nghiên cứu này cho thấy đối với nông nghiệp, yếu tố quyết định tính ổn định và tính bền vững của chuỗi giá trị lại nằm ở khả năng gắn kết giữa thị trường với tổ chức sản xuất ngay từ đầu chuỗi giá trị.
Khác với mô hình chuỗi giá trị truyền thống vận hành theo logic:
SX (Sản xuất) → CB (Chế biến) → PP (Phân phối) → TT (Thị trường)
Mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường vận hành theo logic:
TT (Thị trường) → SX (Sản xuất) → CB (Chế biến) → PP (Phân phối)
Sự thay đổi này không đơn thuần là thay đổi vị trí của thị trường trong chuỗi giá trị mà phản ánh sự thay đổi về bản chất điều phối chuỗi. Trong mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường, thị trường không còn là khâu tiêu thụ cuối cùng mà trở thành yếu tố dẫn dắt toàn bộ hoạt động sản xuất, đầu tư, chế biến và tổ chức vùng nguyên liệu.
Kết quả nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần Hòa Việt cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có khả năng khắc phục nhiều hạn chế của chuỗi giá trị nông nghiệp truyền thống như: sản xuất tự phát; mất cân đối cung – cầu; thiếu ổn định đầu ra; cạnh tranh tranh mua nguyên liệu; và đứt gãy liên kết chuỗi.
Thông qua cơ chế liên kết hợp đồng, đầu tư trước cho sản xuất, bảo hiểm giá và kiểm soát chất lượng đồng bộ, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường góp phần hình thành cơ chế điều phối hiệu quả giữa thị trường với sản xuất nông nghiệp.
Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có khả năng tự hình thành cơ chế hạn chế rủi ro ngay trong cấu trúc vận hành của chuỗi giá trị. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý so với nhiều mô hình phát triển nông nghiệp truyền thống vốn thường phụ thuộc vào các chính sách hỗ trợ bên ngoài để xử lý khủng hoảng thị trường hoặc ổn định sản xuất.
Trong mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường, rủi ro được giảm thiểu ngay từ giai đoạn tổ chức chuỗi thông qua: hoạch định sản xuất theo nhu cầu thị trường; liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp và nông dân; cơ chế bao tiêu sản phẩm; bảo hiểm giá; và điều phối đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ.
Điều này giúp chuỗi giá trị có khả năng tự thích ứng trước biến động thị trường, giảm nguy cơ phá sản đối với người sản xuất và nâng cao tính ổn định của toàn hệ thống nông nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ tạo ra hiệu quả kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững thông qua: ổn định vùng nguyên liệu; nâng cao thu nhập cho nông dân; tăng năng lực cạnh tranh; duy trì liên kết chuỗi; và nâng cao khả năng thích ứng của nông nghiệp trước biến động thị trường.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu cho rằng mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có thể được xem như một mô hình phát triển chuỗi giá trị phù hợp đối với các ngành nông nghiệp có mức độ rủi ro cao và phụ thuộc mạnh vào biến động thị trường. Đây cũng là cơ sở quan trọng để phát triển các chính sách thúc đẩy liên kết chuỗi và xây dựng nền nông nghiệp bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ CHÍNH SÁCH
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có vai trò quan trọng trong ổn định chuỗi giá trị, giảm rủi ro thị trường và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị và chính sách nhằm phát triển hiệu quả các chuỗi giá trị nông nghiệp trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh hiện nay.
Hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp dẫn dắt
Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp dẫn dắt giữ vai trò trung tâm trong việc hình thành và vận hành mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường. Vì vậy, các doanh nghiệp nông nghiệp cần chuyển từ tư duy thu mua nguyên liệu đơn thuần sang tư duy tổ chức và điều phối chuỗi giá trị theo định hướng thị trường.
Doanh nghiệp cần chủ động phát triển thị trường trước khi mở rộng sản xuất, đồng thời xây dựng cơ chế liên kết dài hạn với người sản xuất thông qua hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm. Việc tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường sẽ giúp nâng cao tính ổn định của vùng nguyên liệu, giảm rủi ro đầu ra và nâng cao hiệu quả đầu tư trong dài hạn.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư vào: quản lý chất lượng; truy xuất nguồn gốc; chuyển giao kỹ thuật; và hiện đại hóa công nghệ chế biến.
Đây là các yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh yêu cầu thị trường ngày càng cao.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cơ chế bảo hiểm giá và điều phối thị trường có vai trò quan trọng trong duy trì tính ổn định của chuỗi giá trị. Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro hợp lý giữa các tác nhân trong chuỗi nhằm duy trì liên kết dài hạn và hạn chế tình trạng phá vỡ hợp đồng liên kết sản xuất.
Hàm ý chính sách đối với phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy một trong những hạn chế lớn của phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp hiện nay là thiếu cơ chế bảo vệ các doanh nghiệp đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu. Trong thực tiễn, tình trạng cạnh tranh tranh mua nguyên liệu giữa các đơn vị không đầu tư với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp cho nông dân vẫn diễn ra tại nhiều địa phương, làm suy giảm tính ổn định và hiệu quả của chuỗi giá trị.
Vì vậy, Nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu theo hướng liên kết chuỗi dài hạn. Đây được xem là điều kiện quan trọng để hình thành các chuỗi giá trị nông nghiệp ổn định và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ phát triển hợp đồng liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp với nông dân, đặc biệt đối với các ngành hàng có mức độ rủi ro thị trường cao. Chính sách hỗ trợ nên tập trung vào: tín dụng đầu tư sản xuất; bảo hiểm nông nghiệp; truy xuất nguồn gốc; tiêu chuẩn chất lượng; và chuyển giao khoa học kỹ thuật.
Nhà nước cũng cần khuyến khích phát triển các doanh nghiệp dẫn dắt có đủ năng lực tổ chức thị trường, đầu tư vùng nguyên liệu và điều phối chuỗi giá trị. Đây là lực lượng nòng cốt giúp hình thành cơ chế liên kết bền vững giữa thị trường với sản xuất nông nghiệp.
Hàm ý đối với phát triển nông nghiệp bền vững
Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển nông nghiệp bền vững không thể chỉ dựa vào mở rộng sản lượng mà cần được tổ chức trên cơ sở ổn định thị trường và nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị. Trong đó, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng vì không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần giảm rủi ro và duy trì tính ổn định của hệ thống nông nghiệp.
Do đó, phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn hiện nay cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp định hướng thị trường. Điều này đòi hỏi phải hình thành các chuỗi giá trị có khả năng liên kết chặt chẽ giữa: thị trường; doanh nghiệp; người sản xuất; chế biến; và hệ thống phân phối.
Trên cơ sở đó, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có thể được xem là một hướng tiếp cận phù hợp nhằm phát triển nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường ngày càng sâu rộng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã làm rõ vai trò của chuỗi giá trị định hướng thị trường (CGT-ĐHTT) trong ổn định và phát triển nông nghiệp bền vững thông qua trường hợp thực tiễn của Công ty cổ phần Hòa Việt. Kết quả nghiên cứu cho thấy những hạn chế của chuỗi giá trị nông nghiệp truyền thống chủ yếu xuất phát từ việc tổ chức sản xuất thiếu gắn kết với nhu cầu thị trường, dẫn đến mất cân đối cung - cầu, biến động đầu ra và gia tăng rủi ro đối với người sản xuất cũng như doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường là mô hình có khả năng khắc phục nhiều hạn chế của chuỗi giá trị truyền thống thông qua việc tổ chức sản xuất theo định hướng thị trường và hình thành cơ chế liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với người sản xuất. Khác với mô hình sản xuất mang tính tự phát, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường giúp đồng bộ hóa giữa nhu cầu thị trường với hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, từ đó nâng cao tính ổn định và hiệu quả của chuỗi giá trị nông nghiệp.
Kết quả thực tiễn từ mô hình Công ty cổ phần Hòa Việt cho thấy mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường có vai trò quan trọng trong: ổn định vùng nguyên liệu; nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; tăng năng lực cạnh tranh; giảm rủi ro thị trường; và duy trì liên kết chuỗi trong dài hạn.
Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy điểm khác biệt quan trọng của mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường là khả năng tự hình thành cơ chế hạn chế rủi ro ngay trong cấu trúc vận hành của chuỗi giá trị mà không phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ chế hỗ trợ bên ngoài. Đây được xem là điều kiện quan trọng giúp nâng cao tính ổn định của sản xuất nông nghiệp, hạn chế nguy cơ đứt gãy chuỗi giá trị và giảm rủi ro phá sản đối với các hộ sản xuất và doanh nghiệp khởi nghiệp trong nông nghiệp.
TT (Thị trường) → SX (sản xuất) → CB (chế biến) → PP (Phân phối)
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường còn góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững thông qua nâng cao thu nhập cho nông dân, duy trì liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị và tăng khả năng thích ứng của hệ thống nông nghiệp trước biến động thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu cho rằng mô hình chuỗi giá trị định hướng thị trường không chỉ là mô hình quản trị chuỗi giá trị mà còn là cơ chế phát triển nông nghiệp bền vững phù hợp đối với các ngành nông nghiệp có mức độ rủi ro cao và phụ thuộc mạnh vào thị trường. Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các chính sách phát triển chuỗi giá trị và thúc đẩy nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
1. Công ty cổ phần Hòa Việt (1990-2006). Báo cáo tổng kết sản xuất kinh doanh SLTC/Hòa Việt các năm 1990-2006.,
2. Công ty cổ phần Hòa Việt (1990-2006). Hồ sơ phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá tại Krông Pa (1990-2006).
3. Công ty cổ phần Hòa Việt (2000-2003). Hồ sơ triển khai hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 tại SLTC.
4. Công ty cổ phần Hòa Việt (2005). Báo cáo xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá với các đối tác BAT, PMI, Dimon.
5. Công ty cổ phần Hòa Việt (n.d.). Hồ sơ dự án đầu tư Nhà máy chế biến nguyên liệu thuốc lá công suất 24.000 tấn/năm.
6. International Organization for Standardization (2000). ISO 9001:2000 Quality Management Systems - Requirements.
7. Porter, M. (1985). Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance. Free Press
8. Phòng Kế hoạch, Công ty cổ phần Hòa Việt (2025). Báo cáo năng suất vùng nguyên liệu.
9.Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 926/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026 - 2030.
| Ngày nhận bài: 25/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/6/2026; Ngày duyệt đăng: 15/6/2026 |
Các tin khác
Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai
Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023
Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến
Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục
