Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024

Nghiên cứu - Trao đổi 17:53 | 19/09/2026
Chuyển đổi số đang tái định hình việc làm phi chính thức, tạo cơ hội tiếp cận việc làm mới nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.

Đinh Trần Dũng

Trường Đại học Công đoàn

Email: [email protected]

Tóm tắt

Chuyển đổi số có thể thúc đẩy quá trình chính thức hóa việc làm thông qua thay đổi phương thức quản trị, sản xuất và kết nối thị trường lao động. Nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa chuyển đổi số và tỷ lệ việc làm phi chính thức tại các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2020-2024, sử dụng Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) và 3 trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Mô hình hiệu ứng cố định theo tỉnh và năm cho thấy, DTI có mối liên hệ âm và có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ việc làm phi chính thức. Cả 3 trụ cột đều có hệ số âm, trong đó chính quyền số có độ lớn của hệ số ước lượng lớn nhất. Kết quả vẫn ổn định khi sử dụng biến chuyển đổi số trễ 1 năm. Quy mô kinh tế và tỷ lệ lao động qua đào tạo cũng gắn với mức độ phi chính thức thấp hơn, trong khi FDI chưa cho thấy ảnh hưởng rõ ràng. Kết quả gợi ý cần gắn chuyển đổi số với quản lý lao động, an sinh xã hội và nâng cao kỹ năng của người lao động.

Từ khóa: Chuyển đổi số, việc làm phi chính thức, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, dữ liệu bảng

Abstract

Digital transformation can promote the formalization of employment by changing approaches to management, production, and labor market connectivity. This study analyzes the relationship between digital transformation and the informal employment rate across provinces and centrally governed cities in Viet Nam during 2020-2024, using the Provincial Digital Transformation Index (DTI) and its three pillars: digital government, digital economy, and digital society. A province- and year-fixed effects model shows that DTI has a negative and statistically significant association with the informal employment rate. All three pillars have negative coefficients, with digital government having the largest estimated coefficient. The results remain stable when a one-year lagged digital transformation variable is used. Economic size and the share of trained workers are also associated with lower levels of informality, whereas FDI does not show a clear effect. The findings suggest the need to integrate digital transformation with labor management, social security, and workforce skills development.

Keywords: Digital transformation, informal employment, digital government, digital economy, digital society, panel data

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc làm phi chính thức là một đặc điểm nổi bật của thị trường lao động Việt Nam, bao gồm lao động trong khu vực phi chính thức và người làm việc trong khu vực chính thức nhưng không được bảo đảm đầy đủ về hợp đồng lao động và bảo hiểm xã hội. Theo thống kê lao động Việt Nam, việc làm phi chính thức bao gồm: lao động gia đình không hưởng lương, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức, người làm công không có hợp đồng hoặc không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và một số nhóm lao động tương tự. Mặc dù có xu hướng giảm trong những năm gần đây, việc làm phi chính thức vẫn chiếm quy mô lớn và có sự khác biệt đáng kể giữa các địa phương.

Trong những năm gần đây, Việt Nam thúc đẩy mạnh Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, với 3 trụ cột: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Ở cấp địa phương, Chỉ số chuyển đổi số (DTI) được xây dựng nhằm phản ánh mức độ phát triển số trên các phương diện về nhận thức số, thể chế số, hạ tầng số, nhân lực số, an toàn thông tin, đô thị thông minh và hoạt động của chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.

Số hóa có thể tác động đến tính phi chính thức của thị trường lao động theo 2 hướng. Một mặt, dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, thanh toán số và dữ liệu số có thể giảm chi phí đăng ký, thuế, bảo hiểm xã hội và các thủ tục tuân thủ, qua đó tạo thuận lợi cho chính thức hóa. Chacaltana, Leung và Lee (2018) gọi quá trình này là “chính thức hóa điện tử” (e-formality). Mặt khác, kinh tế nền tảng và các hình thức lao động linh hoạt có thể mở rộng những công việc không dựa trên quan hệ lao động truyền thống, từ đó tạo thêm các dạng phi chính thức mới (ILO, 2021b).

Trong khi nhiều nghiên cứu đã phân tích các yếu tố quyết định việc làm phi chính thức, bằng chứng về vai trò của chuyển đổi số ở cấp địa phương tại Việt Nam vẫn tương đối hạn chế. Do đó, nghiên cứu này tập trung làm rõ mối liên hệ giữa chuyển đổi số và tỷ lệ việc làm phi chính thức tại các địa phương ở Việt Nam, đồng thời so sánh sự khác biệt giữa 3 trụ cột của chuyển đổi số.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Tác động của chuyển đổi số đến thị trường lao động chủ yếu diễn ra thông qua thay đổi cơ cấu nhiệm vụ, yêu cầu kỹ năng và khả năng tiếp cận việc làm chính thức. Công nghệ có xu hướng bổ trợ cho lao động có kỹ năng, đồng thời thay thế mạnh hơn các nhiệm vụ đơn giản, lặp lại; vì vậy, nhóm lao động trình độ thấp thường đối mặt với rủi ro cao hơn trong quá trình chuyển dịch việc làm (Acemoglu và Autor, 2011). Trong khu vực phi chính thức, hạn chế về học vấn và kỹ năng làm giảm khả năng tiếp cận các công việc có hợp đồng và bảo trợ xã hội, khiến tác động của số hóa phụ thuộc nhiều vào năng lực thích ứng của người lao động (OECD, 2019; ILO, 2021a).

Chuyển đổi số cũng có thể thúc đẩy chính thức hóa thông qua giảm chi phí giao dịch và chi phí tuân thủ. Dịch vụ công trực tuyến, định danh số, thanh toán điện tử và dữ liệu giao dịch giúp doanh nghiệp và người lao động tiếp cận thị trường, tín dụng và an sinh thuận lợi hơn, đồng thời tăng tính minh bạch và khả năng quản lý hoạt động kinh tế (Chacaltana và cộng sự, 2018; Garcia-Murillo và Velez-Ospina, 2017; Jacolin và cộng sự, 2021). Tuy nhiên, số hóa không chỉ tạo tác động một chiều; sự phát triển của lao động nền tảng có thể mở rộng cơ hội việc làm nhưng đồng thời làm gia tăng các hình thức việc làm thiếu hợp đồng và bảo trợ xã hội đầy đủ (ILO, 2021b).

Từ đó, chuyển đổi số có thể tác động đến việc làm phi chính thức qua 3 kênh chính: Thứ nhất, chính quyền số giảm chi phí hành chính, tăng khả năng quản lý và kết nối người lao động với hệ thống an sinh. Thứ hai, kinh tế số thúc đẩy giao dịch chính thức, thanh toán điện tử và mở rộng thị trường, nhưng đồng thời có thể tạo ra lao động nền tảng phi chính thức. Thứ ba, xã hội số nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, kỹ năng và dịch vụ số của người dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 63 tỉnh, thành phố Việt Nam trong giai đoạn 2020-2024. Tỷ lệ việc làm phi chính thức, GRDP, FDI và tỷ lệ lao động qua đào tạo được thu thập từ nguồn thống kê chính thức; DTI tổng hợp cùng các chỉ số chính quyền số, kinh tế số và xã hội số được thu thập từ cơ quan phụ trách chuyển đổi số quốc gia.

Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô hình

Biến

Nội dung

Đơn vị/xử lý

Informal

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức

%

DTI

Chỉ số chuyển đổi số tổng hợp cấp tỉnh

Chỉ số

Gov_DTI

Chính quyền số

Chỉ số

Eco_DTI

Kinh tế số

Chỉ số

Soc_DTI

Xã hội số

Chỉ số

GRDP

Quy mô kinh tế địa phương

Chuẩn hóa

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chuẩn hóa

Trained

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

Chuẩn hóa

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Giá trị DTI trung bình trong mẫu là 0,533; chính quyền số đạt trung bình 0,590, kinh tế số 0,560 và xã hội số 0,543. Tỷ lệ việc làm phi chính thức trung bình đạt 72,37%.

Mô hình cơ bản được viết dưới dạng:

Informalit​ = α + βDigitalit​ + γXit​ + μi ​+ λt ​+ εit​

Trong đó, Informalit​ là tỷ lệ việc làm phi chính thức tại tỉnh i năm t; Digitalitlần lượt là DTI tổng hợp hoặc một trong 3 trụ cột; Xitgồm GRDP, FDI và tỷ lệ lao động qua đào tạo; μi là hiệu ứng cố định tỉnh và λt là hiệu ứng cố định năm. Việc sử dụng hiệu ứng cố định tỉnh giúp kiểm soát các yếu tố khó quan sát nhưng tương đối ổn định như vị trí địa lý, truyền thống sản xuất hoặc đặc điểm thể chế địa phương. Hiệu ứng năm kiểm soát các cú sốc chung như phục hồi sau COVID-19 hay những thay đổi chính sách quốc gia.

Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng sai số chuẩn cụm theo tỉnh. Kiểm định F và Hausman đều ủng hộ sử dụng mô hình hiệu ứng cố định. Để kiểm tra độ ổn định, các chỉ số chuyển đổi số được thay bằng giá trị trễ một năm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 2 trình bày kết quả ước lượng chính cho thấy, hệ số của DTI bằng -4,743 và có ý nghĩa ở mức 1%. Do DTI được đo chủ yếu trong khoảng từ 0 đến 1, cách diễn giải có ý nghĩa thực tế hơn là: khi DTI tăng 0,1 điểm, tỷ lệ việc làm phi chính thức giảm trung bình khoảng 0,474 điểm phần trăm, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.

Kết quả này phù hợp với lập luận về chính thức hóa điện tử. Khi thủ tục hành chính, đăng ký kinh doanh, thuế, bảo hiểm và giao dịch kinh tế được số hóa, chi phí tham gia khu vực chính thức có thể giảm. Công nghệ đồng thời tăng khả năng truy xuất giao dịch và kết nối người lao động với dịch vụ công, làm giảm một số lợi thế tương đối của việc duy trì hoạt động hoàn toàn phi chính thức.

Bảng 2: Chuyển đổi số và tỷ lệ việc làm phi chính thức

Biến

(1)

DTI

(2)

Chính quyền số

(3)

Kinh tế số

(4)

Xã hội số

Chỉ số chuyển đổi số

-4,743***

-4,315***

-3,810***

-3,796***

GRDP chuẩn hóa

-2,249**

-2,231**

-2,294***

-2,553***

FDI chuẩn hóa

-0,427

-0,438

-0,443

-0,409

Lao động qua đào tạo

-6,067***

-6,174***

-5,929***

-6,204***

within

0,599

0,600

0,599

0,593

Hiệu ứng cố định

Tỉnh + năm

Tỉnh + năm

Tỉnh + năm

Tỉnh + năm

Ghi chú: Sai số chuẩn cụm theo tỉnh; *** p < 0,01; ** p < 0,05; * p < 0,10.

Nguồn: Kết quả tính toán của nghiên cứu

Khi tách DTI thành 3 trụ cột, hệ số của chính quyền số là -4,315; tương ứng chỉ số tăng 0,1 điểm gắn với mức giảm khoảng 0,432 điểm phần trăm của tỷ lệ việc làm phi chính thức. Hệ số của kinh tế số và xã hội số lần lượt là -3,810 và -3,796. Dù chính quyền số có hệ số lớn nhất về độ lớn tuyệt đối nhưng chưa thể khẳng định trụ cột này có ảnh hưởng mạnh hơn nếu chưa kiểm định trực tiếp chênh lệch giữa các hệ số. Tuy vậy, kết quả cho thấy số hóa quản lý nhà nước có vai trò đáng kể trong quá trình chính thức hóa việc làm.

Tác động này có thể đến từ việc số hóa đăng ký kinh doanh, kê khai thuế, bảo hiểm xã hội và dịch vụ việc làm, qua đó giảm thời gian và chi phí thủ tục, đồng thời tăng khả năng quản lý hoạt động kinh tế. Với kinh tế số, thanh toán điện tử, thương mại điện tử và các nền tảng kinh doanh giúp tăng tính minh bạch giao dịch, mở rộng thị trường và hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển sang hoạt động có đăng ký. Tuy nhiên, lao động nền tảng cũng có thể làm phát sinh những việc làm chưa được bảo đảm đầy đủ về hợp đồng và an sinh xã hội. Đối với xã hội số, hệ số âm cho thấy khả năng tiếp cận Internet, dịch vụ số và kỹ năng công nghệ có liên hệ với tỷ lệ việc làm phi chính thức thấp hơn.

Trong nhóm biến kiểm soát, tỷ lệ lao động qua đào tạo có hệ số âm và ổn định, cho thấy chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với chính thức hóa việc làm. GRDP cũng có hệ số âm và có ý nghĩa thống kê, trong khi FDI chưa cho thấy ảnh hưởng rõ ràng. Kết quả với các biến chuyển đổi số trễ một năm vẫn giữ dấu âm và có ý nghĩa thống kê, cho thấy kết quả tương đối ổn định khi thay đổi thời điểm đo lường. Tuy nhiên, các ước lượng này mới phản ánh mối liên hệ thống kê, chưa đủ cơ sở để khẳng định quan hệ nhân quả.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết luận

Nghiên cứu cho thấy, chuyển đổi số ở cấp tỉnh có mối liên hệ đáng kể với tỷ lệ việc làm phi chính thức tại Việt Nam trong giai đoạn 2020-2024. DTI tổng hợp và cả 3 trụ cột đều có hệ số âm, trong khi kết quả vẫn duy trì với các biến chuyển đổi số trễ. Điều này cho thấy giá trị của chuyển đổi số đối với thị trường lao động không chỉ nằm ở việc tạo ra công nghệ hay ngành nghề mới, mà còn ở khả năng giảm chi phí chính thức hóa, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ của người lao động.

Hàm ý chính sách

Kết quả nghiên cứu gợi mở 3 nhóm chính sách.

Thứ nhất, cần gắn phát triển chính quyền số với quá trình chính thức hóa việc làm. Trọng tâm không nên chỉ là tăng số lượng dịch vụ công trực tuyến, mà cần liên thông dữ liệu lao động, đăng ký kinh doanh, thuế và bảo hiểm xã hội. Các thủ tục dành cho hộ kinh doanh, lao động tự làm và người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cần được thiết kế đơn giản, dễ sử dụng trên môi trường số.

Thứ hai, phát triển kinh tế số cần song hành với hoàn thiện khuôn khổ quản lý lao động nền tảng. Thanh toán không dùng tiền mặt, hóa đơn điện tử và thương mại điện tử có thể tăng tính minh bạch của hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, cần tránh đồng nhất số hóa giao dịch với chính thức hóa việc làm. Đối với người lao động thông qua nền tảng, vấn đề then chốt là xác định trách nhiệm đóng góp an sinh và cơ chế bảo vệ phù hợp với tính linh hoạt của loại hình việc làm này.

Thứ ba, chuyển đổi số cần được kết hợp với chính sách nâng cao kỹ năng. Kết quả về lao động qua đào tạo cho thấy công nghệ và vốn nhân lực không thể tách rời. Các chương trình đào tạo ngắn hạn về kỹ năng số, thương mại điện tử, tài chính số và kỹ năng nghề nên ưu tiên lao động tự làm, lao động nông thôn và nhóm có nguy cơ cao tiếp tục ở khu vực phi chính thức.

Hạn chế của nghiên cứu

Giai đoạn quan sát chỉ gồm 5 năm; chỉ số DTI phản ánh nhiều chiều của chuyển đổi số nhưng chưa trực tiếp đo mức độ sử dụng công nghệ của từng người lao động hoặc hộ kinh doanh; đồng thời mô hình hiệu ứng cố định chưa loại bỏ hoàn toàn khả năng nội sinh. Các nghiên cứu tiếp theo nên kết hợp dữ liệu vi mô về người lao động hoặc hộ kinh doanh, mở rộng thời gian quan sát và áp dụng những chiến lược nhận dạng mạnh hơn để làm rõ quan hệ nhân quả giữa chuyển đổi số và quá trình chính thức hóa thị trường lao động.

Tài liệu tham khảo:

1. Acemoglu, D., & Autor, D. (2011). Skills, tasks and technologies: Implications for employment and earnings. Handbook of Labor Economics, 4, 1043-1171.

2. Chacaltana, J., Leung, V., & Lee, M. (2018). New technologies and the transition to formality: The trend towards e-formality. ILO Employment Policy Department Working Paper No. 247.

3. Garcia-Murillo, M., & Velez-Ospina, J. A. (2017). ICTs and the informal economy: Mobile and broadband roles. Digital Policy, Regulation and Governance, 19(1), 58-76.

4. International Labour Organization. (2021a). Informal employment in Viet Nam: Trends and determinants. ILO.

5. International Labour Organization. (2021b). World employment and social outlook 2021: The role of digital labour platforms in transforming the world of work. ILO.

6. Jacolin, L., Keneck Massil, J., & Noah, A. (2021). Informal sector and mobile financial services in emerging and developing countries: Does financial innovation matter? The World Economy, 44(9), 2703-2737.

7. OECD. (2019). Tackling vulnerability in the informal economy. OECD Publishing.

Ngày nhận bài: 7/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 22/8/2026; Ngày duyệt đăng: 7/9/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Trên các sàn thương mại điện tử, khu vực đánh giá - nơi tập hợp điểm sao, lời bình luận, ảnh chụp thực tế và video phản hồi - là phần nội dung thường được tham khảo sau cùng trước khi khách hàng xác nhận đặt hàng.
Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới

Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới

Hạ tầng logistics nông nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, giảm chi phí, hạn chế tổn thất và tăng khả năng kết nối thị trường.
Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Việc tìm hiểu về hoạt động của 2 định chế tài chính quốc tế là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) thông qua các trường hợp cụ thể có thể góp phần làm rõ thêm bối cảnh triển khai, các chi phí liên quan cũng như một số bài học kinh nghiệm tham khảo.
​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

Việc có một cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ rõ ràng, nghiêm ngặt kết hợp cùng hạ tầng truyền thống số phát triển được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm sáng cho đổi mới sáng tạo và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia ASEAN+3 (gồm 10 nước thuộc ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Hiệu quả chuyển đổi số tại các DNNVV không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn gắn chặt với năng lực lãnh đạo, cấu trúc tổ chức và khả năng phối hợp nguồn lực. Nghiên cứu làm rõ vai trò của quản trị đồng tâm và khả năng học tập tổ chức trong việc nâng cao hiệu quả chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Với tiềm năng phát triển, dân số đông và vị trí địa lý thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh là nơi tập trung số lượng doanh nghiệp logistics lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70% trong tổng số khoảng 4.000 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam và đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chính của khu vực phía Nam.
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Trong những năm gần đây, công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hệ thống thông tin mà nhà đầu tư sử dụng để đánh giá chất lượng doanh nghiệp.
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ xã hội đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân lực không thể dừng lại ở hoạt động tuyển dụng và đào tạo, mà cần được tiếp cận theo hướng chiến lược, trong đó tạo động lực làm việc giữ vai trò trung tâm.
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Mất cân bằng giới tính khi sinh thường được xem như một chỉ tiêu dân số, trong khi các tác động của nó có thể lan sang thị trường lao động, tích lũy vốn con người, cấu trúc gia đình và hệ thống an sinh.