Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới
Tôn Nữ Hải Âu
Phạm Thị Thanh Xuân
Email: [email protected]
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Lê Thị Hương Loan; Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị
Trần Thị Hồng Vân; Trung tâm Khuyến nông TP. Huế
Võ Đại Phong; Công ty cổ phần Cảng Chân Mây
Trần Hồng Hiếu; Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích thực trạng và nhận diện các cơ hội liên quan đến hệ thống hạ tầng logistics nông nghiệp trên địa bàn TP. Huế. Qua tổng hợp và phân tích dữ liệu, nghiên cứu chỉ ra rằng, trong khi hạ tầng mềm của Huế đạt thành tựu đột phá thì hạ tầng cứng chuyên dụng vẫn là điểm nghẽn chiến lược. Kết quả cho thấy, mạng lưới giao thông tuy đa dạng nhưng thiếu tính kết nối đa phương thức, hệ thống kho bãi manh mún và đặc biệt là chuỗi cung ứng lạnh cực kỳ yếu kém. Thực trạng này dẫn đến chi phí logistics nông sản duy trì ở mức cao và tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lớn. Trên cơ sở nhận diện cơ hội và thách thức, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển hệ thống logistics nông nghiệp trên địa bàn TP. Huế.
Từ khóa: Hạ tầng, logistics nông nghiệp, TP. Huế, cơ hội, thách thức
Abstract
This study analyzes the current state of, and identifies opportunities for, the agricultural logistics infrastructure system in Hue City. Through data synthesis and analysis, the study shows that while Hue’s soft infrastructure has achieved significant breakthroughs, specialized hard infrastructure remains a strategic bottleneck. The results indicate that although the transportation network is diverse, it lacks multimodal connectivity; warehousing facilities remain fragmented; and, in particular, the cold chain is extremely underdeveloped. This situation has resulted in persistently high logistics costs for agricultural products and high post-harvest losses. Based on the identified opportunities and challenges, the study proposes several groups of solutions to develop the agricultural logistics system in Hue City.
Keywords: Infrastructure, agricultural logistics, Hue City, opportunities, challenges
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, logistics giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển vùng (Thanh và cộng sự, 2025). Theo Báo cáo Chỉ số Hiệu quả logistics 2023, Việt Nam xếp hạng 43/139 quốc gia, cho thấy dư địa cải thiện hạ tầng còn lớn, đặc biệt tại miền Trung. Đối với TP. Huế, dịch vụ logistics được định hướng là ngành có giá trị gia tăng cao, hướng tới xây dựng Huế thành trung tâm logistics quốc tế gắn với Hành lang kinh tế Đông - Tây (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là Sở tài chính TP. Huế, 2023).
Tuy nhiên, hạ tầng logistics phục vụ nông nghiệp tại Huế còn nhiều điểm nghẽn. Chi phí logistics chiếm khoảng 29% giá thành rau quả và 30% giá thành gạo, trong khi tổn thất sau thu hoạch ở mức 25-30% (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024). Địa phương chưa có trung tâm logistics quy mô lớn hoặc cảng cạn chính thức hoạt động, trong đó chuỗi cung ứng lạnh vẫn là mắt xích yếu (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS) và xu hướng logistics xanh, thông minh ngày càng phát triển, việc đánh giá thực trạng hạ tầng logistics nông nghiệp tại Huế là cần thiết để nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất giải pháp phát triển hệ sinh thái logistics tích hợp.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận về hệ thống logistics và hạ tầng logistics
Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng lưu chuyển, tồn trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin từ điểm đầu đến điểm cuối nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024). Tại Việt Nam, hoạt động logistics được quy định tại Điều 233 Luật Thương mại 2005. Hệ thống logistics là một hệ sinh thái tích hợp từ hoạch định, thực hiện đến tối ưu hóa, với các mô hình từ 1PL đến 4PL và dòng thông tin đóng vai trò kết nối nhằm tối ưu thời gian, chi phí (Bộ Công Thương, 2025).
Hạ tầng logistics gồm hạ tầng cứng, như: giao thông, kho bãi, cảng cạn, trung tâm logistics và hạ tầng mềm gồm thể chế, pháp lý, công nghệ thông tin và nhân lực (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023). Sự đồng bộ giữa 2 cấu phần là điều kiện quan trọng để giảm chi phí và nâng cao năng lực logistics. Đối với nông sản có tính mùa vụ và dễ hư hỏng, logistics còn đòi hỏi chuỗi cung ứng lạnh và quy trình xử lý sau thu hoạch phù hợp nhằm kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất và bảo đảm an toàn thực phẩm (Bộ Công Thương, 2025).
Bối cảnh nghiên cứu mới
CĐS trong logistics: Công nghệ 4.0 như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và Blockchain đang thúc đẩy số hóa logistics, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, tối ưu vận tải và quản lý kho (Bộ Công Thương, 2025). Tại Huế, CĐS được xác định là động lực phát triển kinh tế - xã hội, với mục tiêu kinh tế số đóng góp khoảng 30% GRDP vào năm 2030 (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Tác động của các hiệp định thương mại tự do: Việc tham gia CPTPP, EVFTA và RCEP mở rộng thị trường nông sản, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Đây vừa là áp lực, vừa là động lực nâng cấp hạ tầng logistics theo hướng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế (Bộ Công Thương, 2025).
Lợi thế từ Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC): EWEC kết nối Myanmar, Thái Lan, Lào với miền Trung Việt Nam qua Biển Đông, trong đó trục Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng có vai trò quan trọng. Việc gắn hành lang này với vùng nguyên liệu và các đầu mối cảng biển, sân bay như: Chân Mây, Phú Bài tạo điều kiện phát triển logistics nông nghiệp xuyên biên giới và nâng cao vai trò trung chuyển hàng hóa của Huế (Bộ Công Thương, 2025).
Như vậy, sự kết hợp giữa hệ thống logistics tích hợp, CĐS, hội nhập FTA và lợi thế EWEC là cơ sở để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hạ tầng logistics nông nghiệp bền vững tại Huế.
THỰC TRẠNG HẠ TẦNG LOGISTICS NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP. HUẾ
Huế có mạng lưới giao thông đa dạng với 5 phương thức chủ yếu: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường biển và đường hàng không (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023). Vị trí trên trục Bắc - Nam và là cửa ngõ ra Biển Đông của Hành lang Kinh tế Đông - Tây tạo lợi thế kết nối các nước tiểu vùng Mekong với hệ thống cảng biển miền Trung.
Đường bộ dài khoảng 8.480 km, giữ vai trò chủ đạo trong thu gom và phân phối nông sản. Cao tốc Cam Lộ - La Sơn và La Sơn - Túy Loan hình thành trục dọc, giảm tải Quốc lộ 1A và rút ngắn thời gian vận chuyển liên tỉnh; Quốc lộ 49 là tuyến ngang kết nối khu vực miền núi với đồng bằng. Tuy nhiên, một số đoạn xuống cấp, hạn chế vận tải hàng hóa trọng tải lớn (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024).
Kinh tế hàng hải được xác định là động lực phát triển với cảng Chân Mây và Thuận An. Tuy nhiên, kết nối hậu phương cảng chưa đồng bộ; Chân Mây thiếu kết nối trực tiếp bằng đường sắt và cao tốc, trong khi luồng hàng hải chưa đạt chuẩn và còn phụ thuộc thủy triều (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Sân bay Phú Bài với nhà ga T2 có công suất 5 triệu khách/năm, tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa giá trị cao, yêu cầu giao nhanh. Tuy nhiên, sân bay vẫn chủ yếu phục vụ nội địa, thiếu nhà ga hàng hóa chuyên biệt và dịch vụ bảo quản lạnh, hạn chế khả năng xuất khẩu nông sản trực tiếp (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023; Bộ Công Thương, 2025).
Đường sắt Bắc - Nam dài 112,5 km qua địa bàn nhưng thiếu kết nối trực tiếp với cảng biển và khu công nghiệp, làm tăng chi phí trung chuyển. Đường thủy dài khoảng 560 km nhưng chủ yếu phục vụ du lịch, dân sinh và thiếu cảng hàng hóa chuyên dụng (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Nhìn chung, hạ tầng giao thông Huế đa dạng nhưng chưa đồng bộ và kết nối đa phương thức còn hạn chế. Do đó, cần ưu tiên hoàn thiện các điểm kết nối, phát triển trung tâm logistics và cảng cạn tại các vị trí chiến lược như Phú Bài, Chân Mây nhằm giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản địa phương.
Bảng 1: Thực trạng hạ tầng giao thông vận tải tại TP. Huế
| Phương thức vận tải | Hạng mục/Chỉ tiêu | ĐVT/Diễn giải | Thông số kỹ thuật |
|---|---|---|---|
| Đường bộ | Mạng lưới | Km | 8.480 |
| Cao tốc | Km | 97 | |
| Quốc lộ | Km | 443,16 | |
| Đường tỉnh | Km | 620,655 | |
| Đường biển | Cảng Chân Mây | Xếp loại | Cảng loại I |
| Cảng Thuận An | Xếp loại | Cảng vệ tinh | |
| Hàng không | CHKQT Phú Bài | Công suất (triệu khách/năm) | 5 |
| Hàng hóa | Tấn | 5.421 | |
| Đường sắt | Tuyến Bắc – Nam | Km | 112,5 |
| Đường thủy nội địa | Mạng lưới | Km | 560 |
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023; Thống kê TP. Huế, 2025
Thực trạng hoạt động vận tải kho bãi và cung ứng lạnh trên địa bàn TP. Huế
Hạ tầng kho bãi
Xét về tổng thể, hạ tầng kho bãi tại TP. Huế đang ở tình trạng manh mún và phân tán, chủ yếu chỉ phục vụ lưu trữ nội bộ tại các khu công nghiệp và cụm công nghiệp để phục vụ tồn kho nguyên vật liệu và thành phẩm của doanh nghiệp sản xuất (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Bảng 2: Một số chỉ số phát triển lĩnh vực vận tải, kho bãi của TP. Huế
| Chỉ số | Đơn vị tính | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Số doanh nghiệp vận tải kho bãi | Doanh nghiệp | 267 | 263 | 288 | 281 | 288 |
| Tỷ trọng trong tổng doanh nghiệp | % | 7,0 | 6,5 | 6,6 | 6,2 | 6,0 |
| Lao động bình quân/doanh nghiệp | Lao động/doanh nghiệp | 14,8 | 14,3 | 11,4 | 13,7 | 13,8 |
| Vốn sản xuất kinh doanh/doanh nghiệp | Tỷ đồng/doanh nghiệp | 12,5 | 11,6 | 13,3 | 16,0 | 16,1 |
Nguồn: Thống kê TP. Huế, 2025
Về lực lượng doanh nghiệp, đến cuối năm 2023, Huế có khoảng 288 doanh nghiệp vận tải và kho bãi, trong đó phần lớn sử dụng dưới 10 lao động (Hình 1) và 75% có vốn dưới 10 tỷ đồng (Hình 2). Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp chủ yếu cung cấp dịch vụ đơn lẻ, hạn chế khả năng đầu tư công nghệ và phát triển chuỗi dịch vụ tích hợp. Sự phân tán trong thu gom, phân loại làm gia tăng chi phí trung gian và giảm sức cạnh tranh của nông sản Huế (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024).
Hình 1: Cơ cấu doanh nghiệp vận tải, kho bãi trên địa bàn TP. Huế theo quy mô lao động
![]() |
Nguồn: Thống kê TP. Huế, 2025
Hình 2: Cơ cấu doanh nghiệp vận tải, kho bãi trên địa bàn TP. Huế theo quy mô vốn
![]() |
Nguồn: Thống kê TP. Huế, 2025
Chuỗi cung ứng lạnh
Chuỗi cung ứng lạnh là yếu tố quan trọng đối với chất lượng nông sản sau thu hoạch nhưng vẫn là điểm nghẽn tại Huế. Hạ tầng lạnh chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp chế biến thủy sản lớn, trong khi toàn tỉnh có 246 cơ sở thu gom, chế biến nông - thủy sản nhưng chỉ 22 cơ sở có kho lạnh quy mô nhỏ. Thiếu kho lạnh chuyên dụng và hệ thống làm mát sơ bộ làm gia tăng tổn thất sau thu hoạch, gây khó khăn cho tiêu thụ nông sản thời vụ và tiếp cận các thị trường xuất khẩu như Mỹ, EU (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Hạ tầng hậu cần tại các đầu mối luân chuyển hàng hóa
Hạ tầng chợ đầu mối tại Huế còn hạn chế; điển hình như chợ đầu mối Phú Hậu thiếu kho lạnh đạt chuẩn, hạ tầng bốc dỡ và xử lý chất thải hiện đại. Bên cạnh đó, kết nối giữa vùng nguyên liệu và kho trung chuyển dễ bị gián đoạn do địa hình thấp trũng, ngập lụt, làm tăng rủi ro hư hỏng nông sản và đứt gãy chuỗi cung ứng lạnh (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Những chuyển dịch tích cực từ các dự án mới
Huế đang hình thành một số dự án logistics quy mô lớn, góp phần khắc phục tình trạng hạ tầng phân tán, điển hình như: Khu sơ chế tại phường Thuận An (1,96 ha): dự kiến xây dựng kho lạnh công suất 3.000-5.000 tấn, ứng dụng công nghệ CAS và IQF (UBND phường Thuận An, 2025); Trung tâm Logistics Viettel tại Phú Bài (24,96 ha) phát triển theo mô hình logistics thông minh, tích hợp kho bãi, phân phối và thương mại điện tử (UBND TP. Huế, 2026); Dự án dịch vụ kho bãi tại Hương Trà (8,14 ha): phục vụ lưu trữ, trung chuyển nhiều nhóm hàng, góp phần giảm áp lực kho bãi khu vực nội thành (UBND phường Hương Trà, 2025).
Các dự án này tạo cơ sở chuyển dịch hệ thống lưu trữ và logistics nông nghiệp theo hướng tập trung, hiện đại và chuyên sâu.
Thực trạng hạ tầng mềm tại TP. Huế
Thể chế chính sách và môi trường quản trị công
Huế đã hình thành môi trường chính sách thuận lợi cho phát triển hạ tầng và logistics thông qua các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 54-NQ/TW, cùng chính sách hỗ trợ mở tuyến container đến cảng Chân Mây và đổi mới công nghệ, truy xuất nguồn gốc nông sản (UBND TP. Huế, 2025).
Năng lực quản trị công được cải thiện, với chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) xếp thứ 1/63 năm 2021 và 2023, góp phần giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023; UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, 2024).
Năng lực chuyển đổi số và hệ sinh thái đô thị thông minh
Huế duy trì vị trí trong nhóm dẫn đầu về CĐS, với DTI thuộc Top 2-4 toàn quốc. Nền tảng Hue-S có gần 1,6 triệu lượt tải và hơn 1,5 triệu tài khoản, hỗ trợ tra cứu GIS, theo dõi thiên tai, ngập lụt và thanh toán số. Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC) vận hành gần 20 dịch vụ với khoảng 1.000 camera tích hợp AI, hỗ trợ giám sát và điều phối giao thông. Thành phố cũng đã số hóa 100% quy trình nội bộ và hơn 98% kết quả giải quyết thủ tục hành chính; kết nối LGSP với NDXP tạo nền tảng đồng bộ dữ liệu phục vụ logistics thông minh (UBND TP. Huế, 2025).
Nguồn nhân lực và hạ tầng khoa học công nghệ
Huế có hệ thống giáo dục và khoa học công nghệ với hạt nhân là Đại học Huế, trong đó Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế đóng vai trò cung ứng nhân lực logistics. Từ năm 2021, trường phát triển chuyên ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, với quy mô đào tạo khoảng 300-400 sinh viên/năm, góp phần bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực miền Trung.
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG LOGISTICS NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP. HUẾ
Cơ hội phát triển trong bối cảnh mới
Vị trí địa kinh tế và định hướng phát triển: Huế là cửa ngõ Hành lang Kinh tế Đông - Tây, kết nối tiểu vùng Mekong với các cảng biển miền Trung. Việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện huy động nguồn lực phát triển hạ tầng; đồng thời, Chiến lược phát triển logistics Việt Nam định hướng Huế trở thành trung tâm logistics quốc tế (Thủ tướng Chính phủ, 2025).
CĐS và đô thị thông minh: Hạ tầng số, Hue-S và Trung tâm IOC tạo nền tảng phát triển logistics thông minh. Ứng dụng AI, Blockchain và các công nghệ số trong quản lý chuỗi lạnh, truy xuất nguồn gốc có thể nâng cao tính minh bạch và giá trị nông sản (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
Cơ hội từ các FTA: EVFTA, CPTPP và RCEP mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, đồng thời thúc đẩy logistics nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, logistics xanh và phát triển bền vững (Thanh và cộng sự, 2025).
Các dự án logistics chuyên dụng: Khu sơ chế Thuận An với công nghệ CAS, IQF và Trung tâm Logistics Viettel tại Phú Bài theo định hướng thông minh sẽ bổ sung năng lực lưu trữ, bảo quản và phân phối, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn hạ tầng.
Những thách thức và điểm nghẽn cốt lõi
Hạ tầng kho bãi và chuỗi lạnh: Huế chưa có trung tâm logistics quy mô lớn hoặc cảng cạn đi vào hoạt động; chuỗi lạnh thiếu đồng bộ, đặc biệt thiếu hệ thống làm mát sơ bộ tại vùng nguyên liệu, làm gia tăng tổn thất sau thu hoạch (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024).
Chi phí logistics cao: Kết nối đa phương thức giữa đường sắt, cảng biển và hàng không còn hạn chế, trong khi sản lượng container qua Chân Mây và Phú Bài chưa ổn định, làm tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của nông sản Huế (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024; Vũ, 2025).
Quy mô doanh nghiệp nhỏ: Phần lớn doanh nghiệp logistics có vốn dưới 10 tỷ đồng, cung cấp dịch vụ đơn lẻ và hạn chế về năng lực đầu tư công nghệ. Thiếu doanh nghiệp đầu tàu theo mô hình 4PL làm giảm khả năng liên kết các khâu trong chuỗi cung ứng (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, 2024; Vũ, 2025).
Chất lượng nguồn nhân lực số: Dù Đại học Huế đào tạo nhân lực logistics, thị trường vẫn thiếu lao động có kỹ năng số và năng lực quản trị chuỗi cung ứng hiện đại; khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn công nghệ còn lớn (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023; Vũ, 2025).
Thiên tai và biến đổi khí hậu: Lũ lụt, sạt lở và thời tiết cực đoan thường xuyên gây chia cắt giao thông vùng nguyên liệu, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng rủi ro đối với nông sản tươi sống. Vì vậy, phát triển hạ tầng logistics có khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu dài hạn (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, 2023).
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Huế có lợi thế về vị trí địa kinh tế, hạ tầng số và quản trị công, nhưng logistics nông nghiệp vẫn thiếu các mắt xích hạ tầng chuyên dụng. Giao thông đa dạng nhưng kết nối đa phương thức hạn chế; kho bãi phân tán và chuỗi lạnh yếu làm gia tăng tổn thất nông sản và chi phí logistics.
Để phát triển Huế thành trung tâm logistics quốc tế, cần đẩy nhanh các dự án hạ tầng trọng điểm; tận dụng Hue-S và IOC để kết nối dữ liệu từ vùng nguyên liệu đến cảng biển, sân bay, tăng cường truy xuất nguồn gốc và tối ưu vận tải. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ tiếp cận công nghệ số và thúc đẩy liên kết nhà trường - doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực nhân lực và thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo với thực tiễn.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025: Logistics thông minh.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế (2023). Báo cáo tổng hợp quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
3. Thanh, N. V., Viễn, B. V., & Tuân, T. T. (2025). Phát triển hạ tầng logistics miền Trung. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Kế toán, (301), 75-78.
4. Thống kê TP. Huế (2025). Niên giám thống kê thành phố Huế 2024.
5. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.
6. UBND phường Thuận An (2025). Đề xuất dự án đầu tư.
7. UBND phường Hương Trà (2025). Tờ trình số 2298/TTr-UBND về việc đề nghị thẩm định chủ trương đầu tư dự án: Dịch vụ kho bãi, trung chuyển hàng hóa tổng hợp tại phường Hương Trà (tên cũ: Trung tâm Logistics tổng hợp Hương Trà).
8. UBND TP. Huế (2026). Công văn số 3078/UBND-TH về việc đề xuất dự án đầu tư Trung tâm Logistics Viettel Huế.
9. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2024). Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 5/1/2024 của Chính phủ và tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và năm 2024.
10. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2022). Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP và tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2022.
11. UBND TP. Huế (2025). Tình hình thực hiện Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 31/5/2025, Nghị quyết số 226/NQ-CP ngày 5/8/2025 của Chính phủ và tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2025.
12. Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (2024). Đánh giá thực trạng, tiềm năng và xác định giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực logistics phục vụ sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
13. Vũ, V. C. (2025). Dịch vụ logistics tại các cảng biển ở miền Trung Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
| Ngày nhận bài: 15/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/9/2026; Ngày duyệt đăng: 17/9/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam
Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024
Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

