​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 16:22 | 19/09/2026
Mất cân bằng giới tính khi sinh thường được xem như một chỉ tiêu dân số, trong khi các tác động của nó có thể lan sang thị trường lao động, tích lũy vốn con người, cấu trúc gia đình và hệ thống an sinh.

ThS. Trần Thị Cẩm Vân

Email: [email protected]

ThS. Trần Thụy Vũ

Email: [email protected]

ThS. Trương Hải Huyền Thanh

Email: [email protected]

Trường Đại Học Thủ Dầu Một

Tóm tắt

Mất cân bằng giới tính khi sinh (SRB) là một thách thức nhân khẩu học kéo dài ở Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu và phân tích dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê/Cục Thống kê, UNFPA và các nghiên cứu học thuật để đánh giá xu hướng, nguyên nhân và những tác động tiềm tàng của SRB cao đối với phát triển kinh tế bền vững. Kết quả cho thấy SRB năm 2024 đạt 111,4 bé trai trên 100 bé gái, cao hơn mức cân bằng sinh học khoảng 106. Sự mất cân bằng kéo dài có thể tạo ra thiếu hụt phụ nữ trong các thế hệ trưởng thành, gây sức ép lên thị trường hôn nhân, cấu trúc gia đình, nguồn nhân lực và an sinh xã hội. Nghiên cứu lập luận việc xử lý SRB không nên chỉ dựa vào biện pháp hành chính mà cần một cách tiếp cận tích hợp gồm: giáo dục, bình đẳng giới, an sinh tuổi già, thực thi pháp luật phù hợp với quyền sinh sản và hệ thống dữ liệu dân số chất lượng cao.

Từ khóa: Tỷ số giới tính khi sinh, mất cân bằng giới tính, nguồn nhân lực, phát triển bền vững, Việt Nam

Abstract

Sex ratio at birth (SRB) imbalance is a persistent demographic challenge in Viet Nam. This study employs a literature review and secondary data analysis, drawing on data from the General Statistics Office/Statistics Department, UNFPA, and academic studies, to assess trends, causes, and potential impacts of a high SRB on sustainable economic development. The results show that the SRB reached 111.4 boys per 100 girls in 2024, exceeding the biological balance level of approximately 106. Persistent imbalance may create a shortage of women in adult generations, placing pressure on the marriage market, family structure, human resources, and social security. The study argues that addressing SRB should not rely solely on administrative measures but requires an integrated approach encompassing education, gender equality, old-age social security, law enforcement consistent with reproductive rights, and a high-quality population data system.

Keywords: Sex ratio at birth, sex imbalance, human resources, sustainable development, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Dân số là nguồn nhân lực và nền tảng của phát triển dài hạn của mỗi quốc gia. Hiện nay Việt Nam đang đồng thời trải qua mức sinh thấp, già hóa dân số và mất cân bằng giới tính khi sinh. Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 ghi nhận tổng tỷ suất sinh ở mức 1,91 con/phụ nữ và SRB 111,4 bé trai/100 bé gái. Cơ quan thống kê quốc gia nhận định mức này cao hơn đáng kể so với mức cân bằng khoảng 106 và cho thấy tình trạng mất cân bằng kéo dài chưa được khắc phục (Tổng cục Thống kê, 2025). Các nghiên cứu trước đã giải thích SRB cao ở Việt Nam là sự kết hợp giữa chế độ gia đình phụ hệ, tâm lý ưa thích con trai, mức sinh giảm và sự phổ biến của công nghệ chẩn đoán trước sinh (Guilmoto và cộng sự, 2009). Phân tích gần đây còn cho thấy, trong bối cảnh gia đình ít con, việc mong muốn có con trai ngay ở lần sinh đầu có thể trở nên rõ hơn; đồng thời việc mở rộng cơ hội giáo dục cho phụ nữ có khả năng làm giảm hành vi thiên lệch này (Hasegawa, 2025). Khoảng trống cần được nhấn mạnh là SRB thường được xem như một chỉ tiêu dân số, trong khi các tác động của nó có thể lan sang thị trường lao động, tích lũy vốn con người, cấu trúc gia đình và hệ thống an sinh. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm: (i) tổng hợp xu hướng và các yếu tố thúc đẩy SRB cao ở Việt Nam; (ii) phân tích các kênh tác động đến phát triển kinh tế - xã hội bền vững; (iii) đề xuất một khung chính sách tích hợp dựa trên bình đẳng giới và phát triển con người.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tỷ số giới tính khi sinh và tâm lý ưa thích con trai

Mất cân bằng giới tính khi sinh (Sex Ratio at Birth - SRB) được đo bằng số trẻ trai sinh sống trên 100 trẻ gái. Biến động nhỏ quanh mức sinh học tự nhiên là bình thường, nhưng một tỷ số cao kéo dài có thể phản ánh sự can thiệp có chủ đích vào cơ cấu giới tính khi sinh. Tại Việt Nam, Guilmoto và cộng sự (2009) ghi nhận SRB tăng mạnh trong những năm đầu thế kỷ XXI và chỉ ra 3 điều kiện tương tác: thiên lệch giới trong hệ thống gia đình phụ hệ, mức sinh thấp làm giảm khả năng “sinh tiếp để có con trai” và khả năng tiếp cận công nghệ lựa chọn giới tính.

GSO và UNFPA (2020) ước tính SRB năm 2019 là 111,5 và cho rằng, so với mức tự nhiên khoảng 105, Việt Nam thiếu khoảng 45.900 bé gái trong năm đó. Báo cáo này đồng thời cho thấy hiện tượng không đồng đều giữa vùng, nhóm xã hội và thứ tự sinh, hàm ý rằng một chính sách đồng nhất cho toàn quốc có thể kém hiệu quả.

Bất bình đẳng giới, suy giảm mức sinh và phát triển bền vững

Mất cân bằng giới tính khi sinh là biểu hiện sớm của sự đánh giá không ngang bằng đối với trẻ em gái và trẻ em trai. Khi mức sinh giảm, các gia đình có ít cơ hội hơn để đạt được cơ cấu con mong muốn; vì vậy, định kiến giới có thể tạo áp lực mạnh hơn lên quyết định sinh sản. Nghiên cứu sử dụng 4 kỳ tổng điều tra dân số Việt Nam 1989-2019 cho thấy xu hướng “bắt đầu bằng con trai” rõ hơn trong các gia đình quy mô nhỏ và ước lượng rằng mở rộng giáo dục tiểu học cho phụ nữ làm giảm hành vi này khoảng 3,13 điểm phần trăm (Hasegawa, 2025). Kết quả gợi ý giáo dục không chỉ tạo vốn con người mà còn có thể thay đổi chuẩn mực và quyết định nhân khẩu học.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng thiết kế định tính kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp. Nguồn dữ liệu chính gồm kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 của Tống cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính), GSO-UNFPA về mất cân bằng giới tính khi sinh, các báo cáo dân số của UNFPA và các nghiên cứu bình duyệt về tâm lý chuộng con trai tại Việt Nam. Tài liệu được lựa chọn theo 3 tiêu chí: (i) liên quan trực tiếp đến SRB hoặc định kiến ưa thích con trai tại Việt Nam; (ii) có nguồn dữ liệu hoặc phương pháp nghiên cứu được mô tả rõ; (iii) hỗ trợ phân tích ít nhất một trong 3 nhóm vấn đề: xu hướng, nguyên nhân hoặc hệ quả. Phân tích được thực hiện theo phương pháp tổng hợp chủ đề. Các bằng chứng được mã hóa vào 4 nhóm yếu tố: (i) văn hóa - xã hội; (ii) chuyển đổi mức sinh và công nghệ; (iii) tác động nhân khẩu học - kinh tế; (iv) phản ứng chính sách. Các số liệu mô tả trong biểu đồ chỉ sử dụng những mốc có thể kiểm chứng từ nguồn được trích dẫn. Do khác biệt về nguồn dữ liệu và phương pháp đo, biểu đồ được hiểu là các mốc tham chiếu chứ không phải một chuỗi thời gian hoàn toàn đồng nhất.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng thiên về nam vẫn tiếp diễn

Bằng chứng cho thấy SRB cao tại Việt Nam không phải hiện tượng ngắn hạn. Guilmoto và cộng sự (2009) ghi nhận tỷ số khoảng 112 vào năm 2006. GSO-UNFPA (2020) báo cáo mức 111,5 năm 2019, trong khi Điều tra giữa kỳ 2024 ghi nhận 111,4 (Tổng cục Thống kê, 2025). Việc chỉ số vẫn nằm trên ngưỡng sinh học sau gần 2 thập niên (Hình) cho thấy quá trình điều chỉnh diễn ra chậm và các nguyên nhân nền tảng chưa được loại bỏ.

Hình: Một số ước tính về tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam

​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Ghi chú: Đường nét đứt thể hiện mức cân bằng sinh học xấp xỉ 106 bé trai trên 100 bé gái.

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Sự tương tác giữa tâm lý ưa thích con trai, mức sinh thấp và công nghệ

Kết quả tổng hợp ủng hộ cách giải thích theo cơ chế tương tác thay vì một nguyên nhân đơn lẻ. Tư tưởng coi con trai là người nối dõi, chăm sóc cha mẹ và đại diện cho dòng họ tạo ra nhu cầu nền; mức sinh thấp làm giảm số lần sinh mà gia đình có thể sử dụng để đạt cơ cấu con mong muốn; công nghệ chẩn đoán trước sinh làm tăng khả năng thực hiện lựa chọn. Đây là lý do các biện pháp chỉ tập trung vào cấm tiết lộ giới tính có thể không xử lý được động cơ xã hội đứng phía sau.

Dữ liệu hộ tịch giai đoạn gần đây cũng cho thấy sự khác biệt địa lý đáng kể. UNFPA, GSO, Department of Civil Status, Nationality and Authentication, & Vital Strategies (2025) ghi nhận nhiều tỉnh phía Bắc có SRB cao, có nơi gần 120 trẻ trai/100 trẻ gái, trong khi nhiều địa phương phía Nam nằm trong khoảng 105-108. Sự phân hóa này củng cố yêu cầu thiết kế can thiệp theo vùng và theo nhóm dân cư thay vì chỉ đặt một mục tiêu trung bình quốc gia.

Những hàm ý đối với thị trường hôn nhân và hình thành gia đình

Hệ quả cơ học của SRB cao kéo dài là số nam giới trong các đoàn hệ sinh vượt số nữ giới. Khi các đoàn hệ này bước vào tuổi trưởng thành, chênh lệch có thể chuyển thành mất cân đối trên thị trường hôn nhân. UNFPA (2019) cảnh báo rằng, thiếu hụt phụ nữ trưởng thành có thể tạo ra những tác động xã hội, văn hóa và kinh tế kéo dài. Tuy nhiên, quy mô tác động thực tế còn phụ thuộc vào tử vong, di cư, chênh lệch tuổi kết hôn và thay đổi hành vi hôn nhân. Vì vậy, không nên suy diễn trực tiếp SRB thành một con số cố định về “nam giới không thể kết hôn”.

Vốn nhân lực và phát triển kinh tế bền vững

Tác động kinh tế quan trọng hơn nằm ở chuẩn mực giới tạo ra SRB cao. Nếu con gái bị đánh giá thấp hơn, sự thiên lệch có thể ảnh hưởng đến đầu tư giáo dục, cơ hội nghề nghiệp, quyền sở hữu tài sản và khả năng tham gia thị trường lao động. Điều này làm suy giảm hiệu quả phân bổ vốn con người. Bằng chứng về tác động của giáo dục phụ nữ đối với việc giảm tâm lý chuộng con trai cho thấy chính sách giáo dục có thể tạo lợi ích kép: nâng năng suất trực tiếp và góp phần thay đổi chuẩn mực sinh sản.

Trong bối cảnh mức sinh năm 2024 chỉ còn 1,91 con/phụ nữ, Việt Nam cần sử dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực của cả 2 giới. Vì vậy, bình đẳng giới không chỉ là mục tiêu xã hội mà còn là điều kiện để mở rộng nguồn cung kỹ năng, nâng cao năng suất và tăng khả năng thích ứng của nền kinh tế trước già hóa dân số.

Hàm ý chính sách

Bảng: Tổng hợp một số hàm ý chính sách

Trụ cột chính sách

Hành động chính

Cơ chế tác động dự kiến

đến phát triển

Giáo dục và chuẩn mực xã hội

Mở rộng giáo dục chất lượng cho trẻ em gái; truyền thông thay đổi quan niệm về giá trị con trai/con gái.

Giảm “sự ưa thích con trai”; tăng vốn con người.

An sinh tuổi già

Mở rộng lương hưu, chăm sóc dài hạn và dịch vụ người cao tuổi.

Giảm động cơ phải có con trai để bảo đảm tuổi già.

Thực thi chính sách dựa trên quyền

Thực thi quy định về lựa chọn giới tính phi y tế nhưng không hạn chế quyền tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Giảm khả năng lựa chọn giới tính trong khi bảo vệ quyền phụ nữ.

Nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ

Tăng cơ hội việc làm, thu nhập, tài sản và vị trí quản lý cho phụ nữ.

Nâng giá trị kinh tế - xã hội của phụ nữ và hiệu quả sử dụng lao động.

Dữ liệu và định hướng chính

Theo dõi SRB theo địa phương, thứ tự sinh và nhóm dân cư; kết hợp dữ liệu điều tra và hộ tịch.

Can thiệp đúng nhóm, đánh giá chính sách tốt hơn.

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Thứ nhất, chính sách cần chuyển từ truyền thông chung chung sang thay đổi chuẩn mực xã hội có mục tiêu. Các thông điệp nên gắn giá trị của trẻ em gái với giáo dục, việc làm, quyền tài sản và trách nhiệm gia đình bình đẳng.

Thứ hai, an sinh tuổi già cần được xem như một phần của chính sách SRB: khi người cao tuổi ít phụ thuộc hơn vào con trai, một động cơ kinh tế của tâm lý chuộng con trai có thể suy yếu.

Thứ ba, thực thi pháp luật cần theo cách tiếp cận dựa trên quyền. UNFPA nhấn mạnh việc xử lý lựa chọn giới tính phải đồng thời tránh hạn chế quyền sức khỏe sinh sản của phụ nữ.

Thứ tư, cần ưu tiên các vùng có SRB cao và sử dụng dữ liệu hộ tịch để theo dõi thay đổi thường xuyên. Cuối cùng, chính sách nâng quyền năng kinh tế của phụ nữ phải được coi là giải pháp cấu trúc, bởi vị thế kinh tế - xã hội của phụ nữ quyết định trực tiếp cách gia đình đánh giá lợi ích dài hạn của việc có con gái.

KẾT LUẬN

Mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam là một vấn đề nhân khẩu học có nguồn gốc sâu trong cấu trúc xã hội và có khả năng tạo hệ quả kinh tế kéo dài. SRB 111,4 năm 2024 cho thấy khoảng cách đáng kể so với mức cân bằng sinh học vẫn tồn tại. Bằng chứng học thuật cho thấy tâm lý ưa thích con trai, mức sinh thấp và công nghệ lựa chọn giới tính tương tác với nhau, trong khi giáo dục phụ nữ có tiềm năng làm giảm thiên lệch.

Đối với phát triển bền vững, mục tiêu không chỉ là đưa SRB về một ngưỡng thống kê. Trọng tâm phải là xây dựng môi trường trong đó trẻ em gái và phụ nữ có giá trị, quyền và cơ hội kinh tế ngang bằng. Một chiến lược kết hợp giáo dục, an sinh tuổi già, quyền năng kinh tế của phụ nữ, thực thi pháp luật dựa trên quyền và dữ liệu dân số tốt hơn sẽ giúp Việt Nam xử lý đồng thời mất cân bằng giới tính, mức sinh thấp và già hóa dân số.

Tài liệu tham khảo:

1. General Statistics Office of Viet Nam (GSO) & United Nations Population Fund (UNFPA) (2020). Sex imbalances at birth in Viet Nam: Trends, variations, and determinants.

2. Guilmoto, C. Z., Hoàng, X., & Ngo Van, T. (2009). Recent increase in sex ratio at birth in Viet Nam. PLOS ONE, 4(2), e4624. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0004624

3. Hasegawa R. (2025). The evolution of birth-order-specific son preference and compulsory primary education: Evidence from Vietnam. PLOS ONE. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0335527

4. Tổng cục Thống kê (2025). Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2024/12/Dieu-tra-Dan-so-giua-ky-2024-31.12-2.pdf

5. UNFPA (2019). Global programme to prevent son preference and the undervaluing of girls: Improving the sex ratio at birth in select countries in Asia and the Caucasus - Viet Nam country profile.

6. UNFPA, GSO, Department of Civil Status, Nationality and Authentication, & Vital Strategies (2025). National vital statistics report in the period of 2021-2024.

Ngày nhận bài: 25/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/9/2026; Ngày duyệt đăng: 15/9/2026

Các tin khác

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

Việc có một cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ rõ ràng, nghiêm ngặt kết hợp cùng hạ tầng truyền thống số phát triển được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm sáng cho đổi mới sáng tạo và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia ASEAN+3 (gồm 10 nước thuộc ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Hiệu quả chuyển đổi số tại các DNNVV không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn gắn chặt với năng lực lãnh đạo, cấu trúc tổ chức và khả năng phối hợp nguồn lực. Nghiên cứu làm rõ vai trò của quản trị đồng tâm và khả năng học tập tổ chức trong việc nâng cao hiệu quả chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Với tiềm năng phát triển, dân số đông và vị trí địa lý thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh là nơi tập trung số lượng doanh nghiệp logistics lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70% trong tổng số khoảng 4.000 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam và đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chính của khu vực phía Nam.
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Trong những năm gần đây, công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hệ thống thông tin mà nhà đầu tư sử dụng để đánh giá chất lượng doanh nghiệp.
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ xã hội đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân lực không thể dừng lại ở hoạt động tuyển dụng và đào tạo, mà cần được tiếp cận theo hướng chiến lược, trong đó tạo động lực làm việc giữ vai trò trung tâm.
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Tại Việt Nam, mức độ áp dụng kế toán quản trị chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào lập dự toán, phân tích chi phí và kiểm soát tài chính, trong khi kế toán trách nhiệm và kế toán quản trị chiến lược chưa được triển khai phổ biến.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Việc sử dụng Fintech của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lòng tin, rủi ro nhận thức, thói quen, ảnh hưởng xã hội và điều kiện hỗ trợ. Nghiên cứu làm rõ mức độ tác động của các yếu tố này, qua đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ tài chính số.
Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp

Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp

Nghệ An là địa phương có địa bàn rộng, thị trường lao động phân hóa giữa đô thị, đồng bằng, ven biển và miền núi; đồng thời đang tăng tốc thu hút đầu tư. Quá trình dịch chuyển lao động và mở rộng cầu nhân lực kỹ thuật đang tạo áp lực lớn lên hệ thống giáo dục nghề nghiệp.
Nghiên cứu hệ thống quản trị chất lượng của Công ty Cổ phần Vicostone và gợi ý giải pháp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu hệ thống quản trị chất lượng của Công ty Cổ phần Vicostone và gợi ý giải pháp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh

Quản trị chất lượng giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai hệ thống quản trị chất lượng tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế.