Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 15:36 | 19/09/2026
Nghệ An là địa phương có địa bàn rộng, thị trường lao động phân hóa giữa đô thị, đồng bằng, ven biển và miền núi; đồng thời đang tăng tốc thu hút đầu tư. Quá trình dịch chuyển lao động và mở rộng cầu nhân lực kỹ thuật đang tạo áp lực lớn lên hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Nguyễn Bá Thành

NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]

TS. Nguyễn Thị Thúy Quỳnh

Trường Đại học Vinh

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2025, đặt trong bối cảnh đổi mới quản trị công, tái cấu trúc mạng lưới GDNN, chuyển đổi số, gia tăng nhu cầu lao động kỹ năng và thay đổi tổ chức bộ máy quản lý nhà nước. Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả, so sánh theo thời gian và phân tích chính sách; dữ liệu thực tiễn được tổng hợp từ báo cáo của Tỉnh và kết quả nghiên cứu trong luận án về quản lý nhà nước đối với các cơ sở GDNN tại Nghệ An, kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách giai đoạn này đã giúp mạng lưới cơ sở được sắp xếp theo hướng tinh gọn; số người được đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đều tăng; liên kết doanh nghiệp, chuyển đổi số, thanh tra và kiểm định chất lượng đều được mở rộng. Tuy nhiên, chính sách vẫn thiên về quản lý đầu vào và chỉ tiêu hành chính; cơ cấu đào tạo ngắn hạn còn lớn; dữ liệu thị trường lao động phân tán; phân bổ ngân sách chưa gắn chặt với đầu ra; hợp tác doanh nghiệp chưa đủ chiều sâu; giám sát còn nặng về tuân thủ. Nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “quản lý cơ sở GDNN” sang “quản trị hệ sinh thái kỹ năng địa phương”, với 6 trọng tâm.

Từ khóa: Giáo dục nghề nghiệp, chính sách công, quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nghệ An

Abstract

This study analyzes management policies for vocational education and training institutions in Nghe An Province during the 2020-2025 period, in the context of public governance reform, restructuring of the vocational education and training network, digital transformation, increasing demand for skilled labor, and changes in the state management apparatus. The study employs document analysis, descriptive statistics, temporal comparisons, and policy analysis. Empirical data were synthesized from provincial reports and findings from a doctoral dissertation on state management of vocational education and training institutions in Nghe An. The results show that policies during this period contributed to streamlining the institutional network; increasing the number of people receiving training, the proportion of trained workers, and the employment rate after training; and expanding enterprise linkages, digital transformation, inspection, and quality accreditation. However, policies remain oriented toward input management and administrative targets; short-term training still accounts for a large share; labor market data remain fragmented; budget allocation is not closely linked to outputs; enterprise cooperation lacks sufficient depth; and monitoring remains heavily compliance-oriented. The study proposes shifting from a model of “vocational education and training institution management” to “local skills ecosystem governance,” with six key priorities.

Keywords: Vocational education and training, public policy, state management, vocational education and training institutions, Nghe An Province

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong điều kiện mô hình tăng trưởng ngày càng phụ thuộc vào năng suất, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, GDNN không còn chỉ được nhìn nhận đơn thuần như một lĩnh vực đào tạo nghề tách biệt. GDNN trở thành mắt xích ngày càng quan trọng giữa chính sách giáo dục, chính sách việc làm, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, an sinh xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. OECD (2023) nhấn mạnh hệ thống GDNN tương lai cần đủ linh hoạt để phản ứng với sự thay đổi của nhu cầu kỹ năng, hỗ trợ quá trình chuyển tiếp từ học tập sang việc làm và khai thác công nghệ số trong tổ chức đào tạo và quản trị. UNESCO (2022) cũng xác định giáo dục và đào tạo nghề (TVET) là công cụ quan trọng để hỗ trợ việc làm có năng suất, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bao trùm.

Đối với Việt Nam, vấn đề kỹ năng lao động đã được đặt ra từ sớm. World Bank chỉ ra rằng, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam không chỉ đòi hỏi lao động đông về số lượng mà phải có sự kết hợp giữa kỹ năng kỹ thuật, nhận thức và hành vi phù hợp với công việc; đồng thời cần một hệ thống đào tạo kết nối chặt hơn giữa doanh nghiệp, người học và cơ sở giáo dục - đào tạo (Bodewig và Badiani-Magnusson, 2014).

Ở cấp chính sách quốc gia, Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo khung định hướng quan trọng cho hiện đại hóa, nâng cao chất lượng và gắn GDNN với thị trường lao động; Chương trình chuyển đổi số trong GDNN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đặt dữ liệu và công nghệ vào vị trí ngày càng quan trọng trong quản trị hệ thống (Thủ tướng Chính phủ, 2021b, 2021a). Đến năm 2025-2026, môi trường thể chế tiếp tục thay đổi mạnh: chức năng quản lý nhà nước về GDNN được đặt trong cơ cấu của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 37/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2025); Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 (Quốc hội, 2025b) và Quyết định số 327/QĐ-TTg về kế hoạch triển khai Luật (Thủ tướng Chính phủ, 2026).

Nghệ An là địa phương có địa bàn rộng, thị trường lao động phân hóa giữa đô thị, đồng bằng, ven biển và miền núi; đồng thời đang tăng tốc thu hút đầu tư công nghiệp, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển các khu, cụm công nghiệp. Quá trình dịch chuyển lao động và mở rộng cầu nhân lực kỹ thuật đang tạo áp lực lớn lên hệ thống GDNN. Trong khi đó, mạng lưới cơ sở đào tạo đã bước vào quá trình tái cấu trúc, chất lượng đầu ra được cải thiện nhưng cơ cấu đào tạo vẫn thiên về sơ cấp và đào tạo ngắn hạn.

Về chính sách cấp tỉnh, Đề án số 14-ĐA/TU ngày 25/1/2022 về đào tạo, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề được cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 188/KH-UBND (UBND tỉnh Nghệ An, 2022). Đến đầu năm 2025, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước về GDNN từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; tháng 3/2025 Tỉnh công bố 29 thủ tục hành chính GDNN thuộc phạm vi quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo. Đây không đơn thuần là thay đổi tên cơ quan quản lý mà làm phát sinh yêu cầu thiết kế lại cơ chế phối hợp, dữ liệu, chuyên môn và trách nhiệm giải trình.

Từ thực tiễn trên, câu hỏi quan trọng không còn là Nghệ An có ban hành đủ chính sách GDNN hay không, mà là: (1) hệ thống chính sách hiện hành đã chuyển hóa đến đâu thành kết quả đào tạo và việc làm?; (2) những khoảng trống chính sách chủ yếu nằm ở khâu nào?; (3) cần tái thiết công cụ quản lý nhà nước như thế nào trong giai đoạn tới? Nghiên cứu tập trung giải đáp các vấn đề này.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết về chính sách quản lý đối với giáo dục nghề nghiệp

Nghiên cứu tiếp cận chính sách quản lý đối với cơ sở GDNN không phải theo nghĩa hẹp là tập hợp văn bản pháp luật, mà là hệ thống mục tiêu, thể chế, công cụ, nguồn lực và cơ chế thực thi mà nhà nước sử dụng để điều tiết hành vi của các cơ sở đào tạo và các chủ thể liên quan nhằm tạo ra kết quả kỹ năng phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội.

Trước hết, Lý thuyết vốn nhân lực của Becker (1964) cung cấp căn cứ giải thích vì sao nhà nước cần đầu tư và điều tiết GDNN. Giáo dục và đào tạo là một khoản đầu tư làm tăng năng suất và khả năng tạo thu nhập của người lao động. Do đó, hiệu quả chính sách GDNN phải được đánh giá bằng sự gia tăng năng lực nghề, khả năng có việc làm và năng suất, chứ không chỉ bằng số người tuyển sinh hoặc số chương trình được tổ chức. Quan điểm này đặc biệt phù hợp với nhận định của World Bank rằng thách thức của Việt Nam nằm ở việc chuyển từ lợi thế số lượng lao động sang chất lượng và sự phù hợp của kỹ năng với công việc (Bodewig và Badiani-Magnusson, 2014).

Thứ hai, Lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984) cho thấy chính sách GDNN không thể vận hành hiệu quả theo quan hệ một chiều cơ quan nhà nước - trường nghề. Doanh nghiệp, người học, cơ sở đào tạo, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đều là các chủ thể có lợi ích và thông tin khác nhau. Vì vậy, chính sách tốt phải thiết lập được cơ chế để doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu kỹ năng, xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đánh giá và sử dụng lao động. Đây cũng là cơ sở để chuyển từ mô hình nhà nước quản lý trường nghề sang nhà nước điều phối hệ sinh thái kỹ năng.

Thứ ba, tiếp cận quản trị theo kết quả nhấn mạnh sự khác biệt giữa đầu vào, hoạt động, đầu ra, tác động. Quản lý truyền thống thường quan tâm số văn bản, ngân sách, chỉ tiêu tuyển sinh và số cuộc kiểm tra; quản trị hiện đại phải trả lời người học có việc làm hay không, việc làm có phù hợp hay không, doanh nghiệp đánh giá kỹ năng như thế nào và mỗi đồng ngân sách tạo ra bao nhiêu giá trị xã hội. UNESCO cũng sử dụng tiếp cận quản lý dựa trên kết quả và hệ thống chỉ số để theo dõi Chiến lược TVET 2022-2029.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu xem xét chính sách quản lý GDNN ở 6 cấu phần có quan hệ với nhau: (i) thể chế, quy hoạch và phân cấp; (ii) tổ chức thực thi và điều phối hệ thống; (iii) chính sách tài chính và đầu tư; (iv) liên kết với doanh nghiệp và thị trường lao động; (v) chuyển đổi số, dữ liệu và dự báo kỹ năng; (vi) thanh tra, kiểm tra, kiểm định và trách nhiệm giải trình. Khung này phù hợp với cách tiếp cận quản lý nhà nước theo 3 khâu lớn gồm hoạch định chính sách; tổ chức thực hiện, điều phối và thanh tra, giám sát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp đối với tỉnh Nghệ An. Khoảng thời gian phân tích thực trạng là 2020-2025; các văn bản có hiệu lực từ năm 2026 chỉ được sử dụng để xác định bối cảnh và hàm ý chính sách tiếp theo.

Các phương pháp được sử dụng gồm: thống kê mô tả nhằm phản ánh xu thế; so sánh năm đầu và năm cuối giai đoạn; phân tích chính sách nhằm xác định quan hệ giữa mục tiêu - công cụ - thực thi - kết quả; và tổng hợp lý thuyết để xác định các giải pháp. Nghiên cứu ưu tiên sử dụng một chuỗi số liệu thống nhất để bảo đảm khả năng so sánh theo thời gian. Cần lưu ý rằng, một số công bố hành chính sử dụng phạm vi thống kê cơ sở GDNN khác nhau; chẳng hạn, số liệu chính thức 11 tháng năm 2024 ghi nhận 54 cơ sở GDNN và cơ sở tham gia đào tạo, trong khi chuỗi nghiên cứu sử dụng phạm vi phân loại khác. Vì vậy, số lượng cơ sở cần được đọc cùng định nghĩa thống kê thay vì so sánh cơ học giữa các nguồn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Sự phát triển của khung chính sách quản lý giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An

Giai đoạn 2020-2021 chủ yếu là duy trì và điều chỉnh hệ thống theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và các chương trình đang thực hiện. Điểm nổi bật là GDNN vẫn được quản lý chủ yếu dưới logic bảo đảm quy mô đào tạo, phân luồng, hỗ trợ lao động nông thôn và thực hiện các chương trình mục tiêu.

Giai đoạn 2022-2024 thể hiện sự chuyển hướng rõ hơn sang chính sách phát triển kỹ năng. Kế hoạch số 188/KH-UBND triển khai Đề án số 14-ĐA/TU đặt đào tạo nghề vào mối quan hệ với phát triển nhân lực có kỹ năng đến năm 2030. Quá trình triển khai song hành với chiến lược quốc gia về phát triển GDNN và chuyển đổi số. Đến năm 2024, Tỉnh tiếp tục giao 9.560 chỉ tiêu tuyển sinh ở các cơ sở GDNN thuộc diện giao chỉ tiêu, gồm 1.310 chỉ tiêu cao đẳng, 4.370 trung cấp và 3.880 sơ cấp.

Giai đoạn từ năm 2025 nổi bật bởi thay đổi thiết chế quản lý. Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về GDNN từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Việc UBND tỉnh công bố 29 thủ tục hành chính GDNN thuộc phạm vi quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo là dấu hiệu cụ thể của quá trình chuyển giao này. Đồng thời, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 làm thay đổi nền tảng phân cấp, phân quyền tại địa phương (Quốc hội, 2025a).

Như vậy, chính sách GDNN ở Nghệ An đang chuyển dần từ một hệ thống quản lý ngành mang tính hành chính sang một hệ thống cần điều phối trực tiếp hơn giữa tỉnh - cấp xã - cơ sở GDNN - doanh nghiệp - thị trường lao động. Đây là thay đổi về logic quản trị chứ không chỉ thay đổi đầu mối cơ quan.

Kết quả thực thi chính sách giai đoạn 2020-2025

Bảng 1: Một số kết quả phát triển giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025

Chỉ tiêu

2020

2021

2022

2023

2024

2025

So sánh (%)

2020-2025

Số người được đào tạo

60.000

62.500

65.000

67.500

70.000

74.400

+24,0

Cao đẳng

4.800

5.000

5.200

5.400

5.600

5.900

+22,9

Trung cấp

9.000

9.300

9.700

10.200

10.800

10.500

+16,7

Sơ cấp và dưới 3 tháng

46.200

48.200

50.100

51.900

53.600

58.000

+25,5

Lao động qua đào tạo (%)

65,5

66,8

67,9

68,88

70,1

71,5

+6,0 điểm

Có bằng/chứng chỉ (%)

25,5

26,5

27,2

27,96

29,0

31,0

+5,5 điểm

Có việc làm sau đào tạo (%)

78,0

79,0

80,0

80,5

81,0

82,0

+4,0 điểm

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An và cơ quan quản lý GDNN

Bảng 1 cho thấy chính sách đã tạo ra sự mở rộng quy mô đồng thời với một mức cải thiện nhất định về đầu ra. Tổng số người được đào tạo tăng 24% sau 6 năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng 6 điểm phần trăm và tỷ lệ việc làm sau đào tạo tăng khoảng 4 điểm phần trăm.

Tuy nhiên, chất lượng cơ cấu đào tạo là vấn đề đáng lưu ý. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 71,5% nhưng tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ chỉ khoảng 31%, tạo chênh lệch 40,5 điểm phần trăm. Điều đó cho thấy chính sách đã thúc đẩy mở rộng độ bao phủ nhưng chưa tạo được bước chuyển tương ứng sang kỹ năng được chuẩn hóa, có khả năng công nhận và chuyển đổi trên thị trường lao động.

Ở một góc nhìn khác, tỷ lệ việc làm giữa các trình độ rất khác nhau. Trong chuỗi dữ liệu nghiên cứu, tỷ lệ có việc làm của người học cao đẳng năm 2024-2025 đạt khoảng 98,4%, trung cấp khoảng 97,5%, trong khi sơ cấp chỉ khoảng 78,2%. Điều này hàm ý chính sách không nên tiếp tục đánh giá thành công chủ yếu bằng tổng số người được đào tạo; cơ cấu trình độ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thị trường lao động.

Bảng 2: Nguồn lực tài chính cho giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025

Chỉ tiêu

2020

2021

2022

2023

2024

2025

So sánh (%)

2020-2025

Hỗ trợ từ NSNN (tỷ đồng)

250

260

265

270

273,47

280

+12,0

Ngân sách Trung ương (tỷ đồng)

175

180

185

188

190

195

+11,4

Ngân sách địa phương (tỷ đồng)

75

80

80

82

83,47

85

+13,3

Đầu tư cơ sở vật chất (tỷ đồng)

280

290

300

310

321,4

330

+17,9

Nguồn xã hội hóa (tỷ đồng)

35

38

40

45

47,93

50

+42,9

Tỷ trọng xã hội hóa (%)

12,5

13,1

13,3

14,5

14,9

15,2

+2,7 điểm

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An và cơ quan quản lý GDNN

Bảng 2 cho thấy nguồn lực tăng qua các năm nhưng cấu trúc tài chính vẫn phản ánh sự phụ thuộc tương đối lớn vào khu vực công. Dù nguồn xã hội hóa tăng gần 43%, tỷ trọng đến năm 2025 mới khoảng 15,2%. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nguồn lực doanh nghiệp chủ yếu xuất hiện thông qua thực hành, tuyển dụng và hỗ trợ riêng lẻ, chưa hình thành cơ chế đồng đầu tư thường xuyên.

Điểm cần thảo luận không phải chỉ là ngân sách còn ít, mà là cách phân bổ ngân sách. Nếu vốn công tiếp tục phân bổ dựa trên quy mô cơ sở, biên chế hoặc nhu cầu đầu vào, các cơ sở đào tạo sẽ có ít động lực để tối ưu chương trình và kết quả việc làm. Chính sách tài chính cần chuyển dần sang đặt hàng và phân bổ theo hiệu quả.

Chính sách tổ chức thực hiện, doanh nghiệp, số hóa và giám sát

Bảng 3: Một số chỉ tiêu phản ánh cường độ thực thi chính sách giáo dục nghề nghiệp

Chỉ tiêu

2020

2021

2022

2023

2024

2025

So sánh (%)

2020-2025

Văn bản/kế hoạch GDNN được ban hành

12

14

16

18

20

22

+83,3

Cơ sở được kiểm tra, hướng dẫn chính sách

25

28

30

32

35

38

+52,0

Lớp tập huấn, triển khai chính sách

15

18

20

22

25

27

+80,0

Lượt doanh nghiệp hợp tác

220

240

265

290

320

330

+50,0

Cơ sở có liên kết doanh nghiệp (%)

55

58

62

65

70

72

+17 điểm

Cơ sở ứng dụng chuyển đổi số

10

15

20

28

35

40

Gấp 4 lần

Số cuộc thanh tra/kiểm tra

18

20

22

25

28

30

+66,7

Thực hiện kiến nghị sau thanh tra (%)

65

68

70

72

75

78

+13 điểm

Cơ sở được kiểm định chất lượng

5

6

7

9

11

13

+160

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An và cơ quan quản lý GDNN

Số liệu tại Bảng 3 cho thấy cường độ quản lý tăng khá nhanh. Số văn bản tăng 83,3%, số lớp tập huấn tăng 80% hay số cuộc thanh tra tăng 66,7% là biểu hiện của hoạt động quản lý nhiều hơn, nhưng không tự động chứng minh rằng chất lượng quản lý tăng tương ứng.

Về liên kết doanh nghiệp, hơn 320 lượt doanh nghiệp đã hợp tác với các cơ sở GDNN trong tuyển sinh, chương trình, thực tập và việc làm; kết quả này cũng được HĐND tỉnh ghi nhận trong quá trình giám sát. Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn cho thấy nhiều mối quan hệ vẫn chủ yếu tập trung ở tiếp nhận thực tập và tuyển dụng cuối khóa; doanh nghiệp chưa trở thành đồng tác giả thường xuyên của chuẩn đầu ra, chương trình và quá trình đánh giá.

Chuyển đổi số cũng đặt ra vấn đề tương tự. Số cơ sở ứng dụng công nghệ số tăng từ 10 lên 40, nhưng bản chất phần lớn vẫn là số hóa tác nghiệp, chưa hình thành một nền tảng dữ liệu thống nhất về tuyển sinh, đào tạo, người học, thiết bị, doanh nghiệp và việc làm. Như vậy, cần phân biệt có phần mềm với ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Hoạt động giám sát tuy được mở rộng, nhưng đến năm 2025 tỷ lệ thực hiện kiến nghị sau thanh tra mới đạt 78%; số cơ sở được kiểm định vẫn chưa bao phủ toàn hệ thống. Đặc biệt, kiểm tra còn nặng về hồ sơ và tuân thủ, trong khi các chỉ số việc làm đúng nghề, thu nhập, sự hài lòng của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng thiết bị chưa trở thành trọng tâm.

Những kết quả này cho thấy hạn chế cơ bản của chính sách hiện nay là logic quản lý còn thiên về đầu vào. Hệ thống quản lý vẫn đặt nặng số người tuyển sinh, số văn bản, số cơ sở và số hoạt động kiểm tra; dự báo nhu cầu nhân lực còn yếu; phân bổ nguồn lực chưa gắn chặt với đầu ra; dữ liệu chưa tích hợp; tự chủ chưa đi kèm đầy đủ với trách nhiệm giải trình.

Giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Thứ nhất, tái cấu trúc mạng lưới theo không gian kinh tế thay vì địa giới hành chính

Mục tiêu của chính sách không nên là giảm cơ học số lượng cơ sở. Việc giảm đầu mối chỉ có ý nghĩa nếu đồng thời nâng công suất sử dụng, chất lượng đào tạo và khả năng tiếp cận.

Nghệ An cần xây dựng bản đồ mạng lưới GDNN - kinh tế - lao động. Các cơ sở có thể được phân thành 3 nhóm: cơ sở hạt nhân đào tạo chất lượng cao; cơ sở vệ tinh phục vụ vùng và nhóm lao động đặc thù; và cơ sở cần tái cấu trúc do quy mô nhỏ, ngành nghề trùng lặp hoặc hiệu quả thấp. Đây cũng là hướng được đề xuất trong nghiên cứu gốc.

Các cực đào tạo nên gắn với nhu cầu thực tế: điện - điện tử, cơ khí - tự động hóa và công nghiệp hỗ trợ tại vùng công nghiệp; logistics và dịch vụ ở hành lang phát triển; du lịch ở vùng có lợi thế; chế biến nông - lâm sản, dược liệu và sinh kế xanh đối với miền Tây Nghệ An.

Thứ hai, chuyển từ giao chỉ tiêu sang quản lý theo kết quả đầu ra

Đây cần được xem là thay đổi trung tâm. Thay vì trọng tâm quản lý là bao nhiêu người được tuyển, mỗi cơ sở cần có bộ KPI tối thiểu gồm: tỷ lệ tốt nghiệp; việc làm đúng nghề sau 6-12 tháng; thu nhập người học; tỷ lệ duy trì việc làm; mức độ hài lòng của doanh nghiệp; tỷ lệ chương trình có doanh nghiệp tham gia; hiệu suất sử dụng thiết bị; và chi phí ngân sách trên một người học đạt chuẩn.

Chính sách theo kết quả phải gắn KPI với quyền tự chủ, đầu tư, đặt hàng và mở rộng ngành nghề. Cơ sở có đầu ra tốt được trao quyền và đầu tư nhiều hơn; cơ sở có kết quả thấp kéo dài phải xây dựng kế hoạch cải thiện hoặc tái cấu trúc.

Thứ ba, xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục nghề nghiệp và dự báo thị trường lao động cấp tỉnh

Đây là giải pháp có tính hạ tầng. Cần tích hợp ít nhất 3 lớp dữ liệu: cung kỹ năng của cơ sở GDNN; kết quả việc làm của người tốt nghiệp; và cầu kỹ năng của doanh nghiệp. Khi 3 nguồn dữ liệu này liên thông, Tỉnh mới có căn cứ khoa học để giao chỉ tiêu, mở ngành, đầu tư thiết bị và điều chỉnh mạng lưới.

Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã cần trở thành điểm dữ liệu cơ sở về nhu cầu học nghề, thất nghiệp, chuyển đổi việc làm và nhóm yếu thế. Sở Giáo dục và Đào tạo phải là đầu mối dữ liệu đào tạo; các đơn vị phụ trách lao động - việc làm cung cấp dữ liệu thị trường; doanh nghiệp cung cấp thông tin tuyển dụng và tiêu chuẩn kỹ năng.

Khi đủ dữ liệu, chính sách có thể chuyển từ quản lý sau sự việc sang dự báo trước nhu cầu, đúng với định hướng của OECD về hệ thống GDNN có khả năng phản ứng nhanh trước sự thay đổi của thị trường kỹ năng (OECD, 2023).

Thứ tư, thể chế hóa mô hình đồng quản trị kỹ năng với doanh nghiệp

Doanh nghiệp không nên chỉ được mời ký biên bản hợp tác. Cơ chế chính sách cần quy định rõ doanh nghiệp có thể tham gia ở 5 khâu: xác định nhu cầu; đồng xây dựng chuẩn đầu ra và chương trình; tổ chức thực hành; đánh giá kỹ năng; và tuyển dụng/công nhận kết quả đào tạo.

Cần mở rộng đặt hàng đào tạo theo doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp. Với các dự án đầu tư lớn, đặc biệt là dự án FDI, kế hoạch nhân lực phải được kết nối sớm với kế hoạch đào tạo, thay vì chờ doanh nghiệp đi vào hoạt động mới xử lý thiếu hụt lao động.

Cơ chế đồng đầu tư thiết bị cũng cần được thiết kế rõ hơn. Nghiên cứu đề xuất sử dụng chung thiết bị, chia sẻ cơ sở thực hành và tạo lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp tham gia đào tạo. Đây là cách khắc phục tình trạng thiết bị nhà trường luôn chậm hơn công nghệ sản xuất.

Thứ năm, đổi mới chính sách tài chính từ cấp phát cho cơ sở sang mua kết quả kỹ năng

Nguồn lực ngân sách phải được sử dụng như một công cụ tạo động lực. Một phần kinh phí thường xuyên có thể bảo đảm chức năng công ích; phần đầu tư tăng thêm và đặt hàng nên dựa trên kết quả. Các tiêu chí tài chính có thể gồm việc làm đúng nghề, tỷ lệ đạt chuẩn kỹ năng, doanh nghiệp hài lòng, sử dụng thiết bị và khả năng huy động đối ứng. Cách tiếp cận này phù hợp với đề xuất trong nghiên cứu về chuyển ngân sách từ cấp phát theo đầu vào sang phân bổ theo kết quả.

Đồng thời, cần tập trung nguồn lực cho một số cơ sở và nghề có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh, thay vì đầu tư dàn đều. Xã hội hóa không nên được hiểu đơn giản là giảm chi ngân sách, mà là chia sẻ đầu tư, rủi ro và lợi ích giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.

Thứ sáu, đổi mới thanh tra và kiểm định theo rủi ro, dữ liệu và trách nhiệm giải trình

Nghệ An cần chuyển từ kiểm tra đồng loạt sang giám sát có trọng điểm. Cơ sở có tỷ lệ việc làm thấp kéo dài, tuyển sinh giảm, thiết bị sử dụng kém hiệu quả hoặc nhiều kiến nghị chưa khắc phục phải được xếp nhóm rủi ro cao.

Quy trình giám sát phải trở thành chu trình khép kín: phát hiện → kiến nghị → khắc phục → xác minh → công khai kết quả. Đồng thời, các chỉ số cơ bản về tuyển sinh, tốt nghiệp, việc làm và kiểm định của từng cơ sở nên được công bố định kỳ. Khi dữ liệu minh bạch, doanh nghiệp và người học cũng trở thành chủ thể giám sát, qua đó tạo kỷ luật chất lượng ngoài hệ thống hành chính.

Giải pháp này càng có ý nghĩa khi Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 đã có hiệu lực từ đầu năm 2026 và Chính phủ đang triển khai kế hoạch thi hành Luật. Nghệ An nên tận dụng giai đoạn chuyển tiếp này để chuẩn hóa lại toàn bộ quy trình quản lý thay vì chỉ sửa đổi về thủ tục.

KẾT LUẬN

Phân tích thực tiễn Nghệ An giai đoạn 2020-2025 cho thấy chính sách quản lý đối với các cơ sở GDNN đã tạo ra kết quả tích cực cả về quy mô, mạng lưới, liên kết doanh nghiệp, chuyển đổi số và giám sát. Số người được đào tạo tăng khoảng 24%; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng 6 điểm phần trăm; việc làm sau đào tạo cải thiện; nguồn đầu tư và xã hội hóa đều tăng. Đáng chú ý, các hoạt động quản lý cũng được tăng cường rất mạnh, thể hiện qua số văn bản, hoạt động hướng dẫn, số cơ sở chuyển đổi số và số cuộc thanh tra, kiểm định.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy bài toán trung tâm không còn là thiếu chính sách, mà là chất lượng thiết kế và cơ chế chuyển hóa chính sách thành kết quả. Khoảng cách lớn giữa tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ lao động có văn bằng/chứng chỉ, tỷ trọng đào tạo ngắn hạn cao, liên kết doanh nghiệp chưa sâu, nguồn xã hội hóa còn hạn chế, hệ thống dữ liệu phân tán và giám sát thiên về thủ tục là các bằng chứng cho thấy mô hình quản lý đầu vào đã đạt tới giới hạn.

Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi logic quản lý: từ quản lý trường nghề sang quản trị hệ sinh thái kỹ năng; từ giao chỉ tiêu sang mua và đánh giá kết quả; từ báo cáo hành chính sang dữ liệu thời gian thực; từ doanh nghiệp là nơi tiếp nhận lao động sang doanh nghiệp là đối tác đồng quản trị; từ thanh tra tuân thủ sang giám sát rủi ro và chất lượng đầu ra.

Với việc chức năng quản lý GDNN đã được tổ chức lại từ năm 2025, Luật Giáo dục nghề nghiệp mới có hiệu lực từ năm 2026 và mô hình chính quyền địa phương thay đổi, Nghệ An đang có nền tảng chính sách thuận lợi để tái thiết phương thức quản lý. Nếu cải cách chỉ dừng ở chuyển đầu mối hành chính, hiệu quả sẽ hạn chế; nếu đồng thời cải cách dữ liệu, tài chính, phân cấp, kiểm định và quan hệ doanh nghiệp, địa phương có thể chuyển GDNN từ một lĩnh vực chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đào tạo sang một hạ tầng chiến lược của phát triển năng suất và năng lực cạnh tranh.

Tài liệu tham khảo:

1. Becker, G. S. (1964). Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education. New York: National Bureau of Economic Research.

2. Bodewig, C., & Badiani-Magnusson, R. (2014). Skilling Up Vietnam: Preparing the Workforce for a Modern Market Economy. Washington, DC: World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-0231-7

3. Chính phủ (2025). Nghị định số 37/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

4. Freeman, R. E. (1984). Strategic Management: A Stakeholder Approach. Boston, MA: Pitman.

5. OECD (2023). Building Future-Ready Vocational Education and Training Systems. Paris: OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/28551a79-en

6. Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.

7. Quốc hội (2025b). Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 ngày 10/12/2025.

8. Thủ tướng Chính phủ (2021a). Quyết định số 2222/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

9. Thủ tướng Chính phủ (2021b). Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

10. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 327/QĐ-TTg ngày 24/2/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15.

11. UBND tỉnh Nghệ An (2022). Kế hoạch số 188/KH-UBND ngày 20/3/2022 thực hiện Đề án số 14-ĐA/TU về đào tạo, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

12. UNESCO (2022). Transforming Technical and Vocational Education and Training for Successful and Just Transitions: UNESCO Strategy for TVET 2022-2029. Paris: UNESCO.

Ngày nhận bài: 5/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 13/9/2026; Ngày duyệt đăng: 18/9/2026

Các tin khác

Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Trong những năm gần đây, công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hệ thống thông tin mà nhà đầu tư sử dụng để đánh giá chất lượng doanh nghiệp.
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ xã hội đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân lực không thể dừng lại ở hoạt động tuyển dụng và đào tạo, mà cần được tiếp cận theo hướng chiến lược, trong đó tạo động lực làm việc giữ vai trò trung tâm.
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Mất cân bằng giới tính khi sinh thường được xem như một chỉ tiêu dân số, trong khi các tác động của nó có thể lan sang thị trường lao động, tích lũy vốn con người, cấu trúc gia đình và hệ thống an sinh.
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Tại Việt Nam, mức độ áp dụng kế toán quản trị chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào lập dự toán, phân tích chi phí và kiểm soát tài chính, trong khi kế toán trách nhiệm và kế toán quản trị chiến lược chưa được triển khai phổ biến.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Việc sử dụng Fintech của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lòng tin, rủi ro nhận thức, thói quen, ảnh hưởng xã hội và điều kiện hỗ trợ. Nghiên cứu làm rõ mức độ tác động của các yếu tố này, qua đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ tài chính số.
Nghiên cứu hệ thống quản trị chất lượng của Công ty Cổ phần Vicostone và gợi ý giải pháp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu hệ thống quản trị chất lượng của Công ty Cổ phần Vicostone và gợi ý giải pháp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh

Quản trị chất lượng giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai hệ thống quản trị chất lượng tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế.
Mô hình phát triển năng lực nhận diện rủi ro thông minh trong doanh nghiệp công nghệ: Tích hợp năng lực AI và trực giác quản trị

Mô hình phát triển năng lực nhận diện rủi ro thông minh trong doanh nghiệp công nghệ: Tích hợp năng lực AI và trực giác quản trị

Trong doanh nghiệp công nghệ, khả năng nhận diện sớm rủi ro ngày càng phụ thuộc vào sự kết hợp giữa năng lực AI và trực giác quản trị. Nghiên cứu đề xuất khái niệm năng lực nhận diện rủi ro thông minh nhằm làm rõ cách hai nguồn lực này hỗ trợ nâng cao chất lượng quyết định kinh doanh.
Lựa chọn giải pháp nâng cao thương hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội: Sử dụng kết hợp phương pháp SWOT và AHP mờ

Lựa chọn giải pháp nâng cao thương hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội: Sử dụng kết hợp phương pháp SWOT và AHP mờ

Trong những năm gần đây, Đại học Quốc gia Hà Nội đã thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo thông qua tái cấu trúc ngành đào tạo, phát triển các lĩnh vực công nghệ cao, mở rộng chương trình quốc tế và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Đánh giá chất lượng dịch vụ thuế và tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp: Nghiên cứu tại Cơ quan Thuế Thành phố Hồ Chí Minh

Đánh giá chất lượng dịch vụ thuế và tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp: Nghiên cứu tại Cơ quan Thuế Thành phố Hồ Chí Minh

Trong lĩnh vực thuế, chất lượng dịch vụ của cơ quan thuế có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thái độ và hành vi của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế