Kinh nghiệm triển khai dịch vụ bảo hiểm chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 10:26 | 19/06/2026
Già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi. Bảo hiểm chăm sóc dài hạn hướng tới việc giúp người cao tuổi duy trì cuộc sống độc lập, nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời giảm gánh nặng tài chính cho gia đình và xã hội.

TS. Nguyễn Đỗ Quyên

Email: [email protected]

ThS. Dương Minh Anh

Email: [email protected]

Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Ngoại thương

Tóm tắt

Trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, mặc dù nhu cầu chăm sóc người cao tuổi gia tăng, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn chính thức; hoạt động chăm sóc chủ yếu dựa vào gia đình, gây áp lực lên hộ gia đình và hệ thống an sinh xã hội. Thông qua phương pháp nghiên cứu tình huống, nghiên cứu xem xét các mô hình tại Đức, Trung Quốc và Nhật Bản với các cách tiếp cận thể chế khác nhau. Kết quả cho thấy, Đức chú trọng độ bao phủ và tính linh hoạt, Nhật Bản xây dựng hệ thống toàn dân, trong khi Trung Quốc áp dụng cách tiếp cận thí điểm. Tuy khác biệt, nhưng các mô hình đều đối mặt với thách thức về tài chính và nhân lực. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách cho Việt Nam, bao gồm thiết kế hệ thống sớm, đa dạng hóa nguồn tài chính và phát triển dịch vụ chăm sóc tại nhà và cộng đồng.

Từ khoá: Bảo hiểm chăm sóc dài hạn, già hóa dân số, chăm sóc người cao tuổi, an sinh xã hội, chính sách công

Abstract

In the context of rapid population aging, although the demand for elderly care is increasing, Viet Nam has yet to establish a formal long-term care insurance system. Care provision remains largely family-based, placing considerable pressure on households and the social security system. Using a case study approach, this study examines long-term care insurance models in Germany, China, and Japan, which represent different institutional approaches. The findings indicate that Germany emphasizes broad coverage and flexibility, Japan has developed a universal system, while China has adopted a pilot-based approach. Despite their differences, all three models face challenges related to financing and human resources. Based on these findings, the study proposes several policy implications for Viet Nam, including the early design of a long-term care insurance system, diversification of financing sources, and the development of home-based and community-based care services.

Keywords: Long-term care insurance, population aging, elderly care, social security, public policy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi. Bảo hiểm chăm sóc dài hạn (hay còn gọi là bảo hiểm điều dưỡng) cho người cao tuổi ra đời nhằm chi trả chi phí y tế và sinh hoạt cho người già khi mất khả năng tự chăm sóc do tuổi tác, bệnh tật hoặc suy giảm chức năng. Loại hình bảo hiểm này hướng tới việc giúp người cao tuổi duy trì cuộc sống độc lập, nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời giảm gánh nặng tài chính cho gia đình và xã hội. Từ góc độ tài chính cá nhân, bảo hiểm chăm sóc dài hạn còn là công cụ bảo vệ, giúp mỗi người chủ động dự phòng chi phí sức khỏe về già, hạn chế nguy cơ hao hụt tài sản hoặc phụ thuộc vào con cháu.

Tại Việt Nam, tốc độ già hóa ngày càng nhanh. Năm 2024, cả nước có khoảng 16 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 16% dân số; dự báo đến 2036, tỷ lệ người trên 65 tuổi sẽ vượt 14%, đưa Việt Nam chính thức bước vào “xã hội già” (Nguyễn Thị Thu Thanh, 2024). Già hóa đặt ra thách thức lớn về y tế và an sinh xã hội, đặc biệt là gánh nặng chi phí chăm sóc dài hạn. Trong bối cảnh đó, việc phát triển dịch vụ bảo hiểm điều dưỡng cho người cao tuổi là hết sức cấp thiết nhằm giúp hệ thống an sinh thích ứng, đồng thời đảm bảo an toàn tài chính cho cá nhân và cộng đồng (Trần Thị Minh và cộng sự, 2022).

Tuy nhiên, theo Asian Development Bank (2022), hệ thống chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi tại Việt Nam vẫn chưa được thiết lập như một hệ thống chính thức, mà chủ yếu dựa vào các hình thức chăm sóc phi chính thức, trong đó gia đình giữ vai trò trung tâm. Trên thực tế, gần như toàn bộ nhu cầu chăm sóc hiện nay được đáp ứng bởi các chăm sóc viên không chính thức, phản ánh đặc trưng văn hóa nhưng đồng thời đặt ra áp lực ngày càng lớn lên hộ gia đình trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng.

Bên cạnh đó, hệ thống dịch vụ chăm sóc dài hạn chính thức còn phát triển ở quy mô nhỏ, phân tán và thiếu tính tích hợp, trong khi lực lượng cung cấp dịch vụ vừa thiếu về số lượng vừa hạn chế về chuyên môn. Đáng chú ý, Việt Nam hiện vẫn chưa thiết lập được một cơ chế tài chính chuyên biệt cho chăm sóc dài hạn, làm gia tăng rủi ro tài chính đối với người cao tuổi và đặt ra thách thức đáng kể đối với tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Những hạn chế này cho thấy một khoảng trống chính sách rõ rệt trong việc tổ chức, tài trợ và cung ứng dịch vụ chăm sóc dài hạn trong bối cảnh nhu cầu ngày càng gia tăng.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này hướng tới việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách hệ thống hóa khung lý thuyết về bảo hiểm chăm sóc dài hạn, đồng thời phân tích kinh nghiệm triển khai tại các quốc gia tiêu biểu như Đức, Trung Quốc và Nhật Bản. Trên cơ sở so sánh quốc tế, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp nhằm phát triển hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi tại Việt Nam.

KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

Dịch vụ bảo hiểm chăm sóc xã hội toàn dân tại Đức

Đức là quốc gia tiên phong xây dựng hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn toàn dân từ năm 1995, trở thành “trụ cột thứ năm” của hệ thống an sinh xã hội. Tất cả người dân, dù tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) công hay tư, đều bắt buộc tham gia, giúp đạt độ bao phủ khoảng 90%. Quỹ Bảo hiểm được tài trợ theo cơ chế chia sẻ cộng đồng, với mức đóng khoảng 3,05%-3,3% tiền lương, chia đều giữa người lao động và người sử dụng lao động, đảm bảo nguồn lực tài chính ổn định. Quyền lợi bảo hiểm được phân theo 5 mức độ nhu cầu chăm sóc, cung cấp linh hoạt dưới dạng dịch vụ tại nhà, tại cơ sở hoặc trợ cấp tiền mặt. Người thụ hưởng có thể lựa chọn hình thức phù hợp (Milstein và các cộng sự, 2021; Bộ Y tế Liên bang Đức, 2025). Điều này vừa phù hợp văn hóa, vừa tiết kiệm chi phí.

Tuy nhiên, hệ thống áp dụng mô hình “phúc lợi một phần”, chỉ chi trả một phần chi phí, phần còn lại do cá nhân hoặc gia đình đồng chi trả. Ví dụ, trợ cấp dao động từ 125-2.005 Euro/tháng, nhưng người ở viện dưỡng lão vẫn phải trả thêm khoảng 1.830 Euro/tháng. Cơ chế này giúp kiểm soát chi phí nhưng tạo áp lực tài chính cho hộ gia đình. Sau hơn 20 năm, hệ thống trở thành trụ cột an sinh quan trọng, với chi tiêu khoảng 2,2% GDP và 4,25 triệu người thụ hưởng năm 2019 (Milstein và các cộng sự, 2021).

Tuy nhiên, Đức đối mặt với 3 thách thức chính: (i) Già hóa dân số làm tăng áp lực tài chính, buộc phải nâng mức đóng; (ii) Gánh nặng đồng chi trả cho hộ gia đình; (iii) Thiếu hụt nhân lực điều dưỡng. Chính phủ đã triển khai các giải pháp như tăng lương và thu hút lao động nước ngoài.

Có thể thấy, mô hình Đức thể hiện cách tiếp cận cân bằng giữa nhà nước, thị trường và gia đình, đồng thời trao quyền lựa chọn cho người cao tuổi, nhưng cần cải cách để đảm bảo bền vững tài chính trong bối cảnh già hóa.

Dịch vụ thí điểm bảo hiểm chăm sóc người cao tuổi dài hạn tại Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia đang phát triển có tốc độ già hóa dân số rất nhanh (Li và cộng sự, 2024). Trước áp lực này, từ năm 2016, chính phủ đã triển khai thí điểm Bảo hiểm chăm sóc dài hạn (LTCI) tại 15 thành phố, sau đó mở rộng lên 49 thành phố vào năm 2020. Cách tiếp cận thí điểm giúp Trung Quốc tích lũy kinh nghiệm trước khi triển khai trên phạm vi toàn quốc. Mô hình LTCI chủ yếu dựa trên hệ thống BHYT công hiện có, đặc biệt là BHYT lao động đô thị (UEMI). Người tham gia BHYT sẽ được đóng kèm để hưởng quyền lợi chăm sóc dài hạn. Tuy nhiên, phạm vi bao phủ ban đầu chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị, chưa bao phủ toàn bộ người cao tuổi.

Điều kiện hưởng là người suy giảm khả năng sinh hoạt hàng ngày và cần chăm sóc thường xuyên. Khi đủ điều kiện, họ có thể nhận dịch vụ tại nhà hoặc tại cơ sở, bao gồm chăm sóc sinh hoạt và điều dưỡng cơ bản. Mô hình này góp phần giảm tải bệnh viện bằng cách chuyển dịch chăm sóc sang hệ thống dài hạn. Về tài chính, quỹ LTCI được hình thành từ nhiều nguồn, chủ yếu từ quỹ BHYT và đóng góp nhỏ của cá nhân (khoảng 30 Nhân dân tệ/năm đối với lao động đô thị). Mức đóng thấp phù hợp khả năng chi trả nhưng khiến quỹ còn hạn chế và phụ thuộc vào BHYT.

Về chi trả, LTCI thường thanh toán khoảng 70% chi phí (có thể tới 90% với chăm sóc tại nhà), người dùng đồng chi trả 10-30%. Quỹ LTCI được tách biệt với BHYT nhằm đảm bảo sử dụng đúng mục đích. Dù mới thí điểm, LTCI đã giúp giảm chi phí cá nhân, giảm tải hệ thống y tế và nâng cao nhận thức xã hội về chăm sóc dài hạn (Li và cộng sự, 2024). Tuy nhiên, vẫn tồn tại các hạn chế như phạm vi bao phủ thấp (khoảng 18%), chênh lệch vùng miền, thiếu nhân lực và phụ thuộc tài chính vào BHYT.

Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, một hướng đi phù hợp cho các nước đang phát triển: triển khai thí điểm dựa trên hệ thống BHYT hiện có và mở rộng dần, qua đó chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước, gia đình và xã hội.

Hệ thống chăm sóc người cao tuổi toàn diện tại Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia có dân số già nhất thế giới và là nước châu Á đầu tiên triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn toàn dân (LTCI) từ năm 2000, trong bối cảnh bước vào “xã hội siêu già” (Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, 2021). LTCI được thiết kế như một chương trình BHXH bắt buộc, dựa trên nguyên tắc toàn xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi. Tất cả công dân từ 40 tuổi trở lên đều phải đóng phí LTCI. Nhóm 40-64 tuổi chỉ được hưởng khi mắc các bệnh lão hóa, trong khi nhóm từ 65 tuổi trở lên được hưởng quyền lợi khi có nhu cầu chăm sóc, không phụ thuộc thu nhập (JHPN, 2019). Hiện có hơn 5 triệu người cao tuổi (khoảng 17% nhóm 65+) đang thụ hưởng LTCI, phản ánh nhu cầu lớn.

Về tài chính, hệ thống áp dụng cơ chế kết hợp: 50% từ ngân sách nhà nước và 50% từ đóng góp của người dân (Hashi Consulting, 2020). Nhóm 40-64 tuổi đóng qua BHYT/BHXH, còn nhóm 65+ đóng trực tiếp theo thu nhập và thường được khấu trừ từ lương hưu. Cơ chế này đảm bảo chia sẻ giữa các thế hệ và giữa các nhóm thu nhập. Hệ thống dịch vụ LTCI rất toàn diện, bao gồm chăm sóc tại nhà, cộng đồng và cơ sở nội trú, với mục tiêu “già hóa tại nơi ở”. Người thụ hưởng được đánh giá theo 7 mức độ nhu cầu và có quản lý chăm sóc hỗ trợ xây dựng kế hoạch cá nhân. Dịch vụ đa dạng từ hộ lý tại nhà, chăm sóc ban ngày đến viện dưỡng lão, với giá dịch vụ do nhà nước quy định để kiểm soát chất lượng và chi phí.

Về chi trả, người thụ hưởng đồng chi trả cơ bản 10%, trong khi 90% do quỹ bảo hiểm chi trả. Từ năm 2015, Nhật Bản áp dụng đồng chi trả lũy tiến (20%-30%) với nhóm thu nhập cao nhằm đảm bảo công bằng và bền vững tài chính. Ngoài ra, người thu nhập thấp được hỗ trợ chi phí sinh hoạt tại cơ sở. Sau hơn 25 năm, LTCI đã giúp giảm gánh nặng cho gia đình, nâng cao chất lượng chăm sóc và phát triển thị trường dịch vụ đa dạng dưới sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, Nhật Bản đối mặt với áp lực tài chính lớn do già hóa nhanh, buộc phải tăng phí (khoảng 6.000 Yên/tháng giai đoạn 2021-2024, dự kiến 8.000 Yên/tháng năm 2025) và điều chỉnh chính sách (Hashi Consulting, 2020).

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt nhân lực chăm sóc ngày càng nghiêm trọng, khiến Nhật phải thu hút lao động nước ngoài.

Tóm lại, hệ thống LTCI của Nhật Bản là mô hình toàn diện và tiên tiến, kết hợp giữa vai trò mạnh của nhà nước, đóng góp của người dân và dịch vụ đa dạng theo nhu cầu. Tuy nhiên, việc đảm bảo cân bằng giữa phúc lợi và bền vững tài chính trong bối cảnh già hóa nhanh vẫn là thách thức lớn.

Bảng: So sánh các dịch vụ bảo hiểm điều dưỡng cho người cao tuổi

Tiêu chí

Đức

(Bảo hiểm chăm sóc dài hạn)

Trung Quốc

(LTCI - thí điểm)

Nhật Bản

(LTCI toàn dân)

Năm triển khai

1995 (trụ cột thứ 5 BHXH)

Thí điểm từ 2016, mở rộng dần (49 TP đến 2020)

2000 (quốc gia đầu tiên ở châu Á triển khai toàn dân)

Phạm vi bao phủ

Toàn dân có BHYT (~ 90% dân số)

Chủ yếu người tham gia BHYT cơ bản đô thị; bao phủ thí điểm, chưa toàn quốc

Toàn dân ≥40 tuổi phải đóng; nhóm ≥65 tuổi được hưởng theo nhu cầu

Căn cứ đánh giá nhu cầu

Xếp hạng nhu cầu 1-5

Đánh giá suy giảm ADLs; tùy địa phương

Đánh giá chuẩn 7 mức; quản lý bởi chính quyền thành phố

Hình thức quyền lợi

Dịch vụ tại nhà/cơ sở hoặc trợ cấp tiền mặt

Dịch vụ tại nhà/cơ sở; tách bạch khỏi quỹ BHYT chữa bệnh

Dịch vụ tại nhà, cộng đồng, cơ sở; có Quản lý chăm sóc lập kế hoạch

Đồng chi trả

Phúc lợi một phần: quỹ chi một phần, phần còn lại cá nhân/nhà ở trả thêm

Quỹ chi 70% (có nơi tới 90% tại nhà); người hưởng đồng chi 10-30%

Đồng chi trả chuẩn 10% (20-30% với thu nhập cao); không chi ăn ở nội trú

Tài chính

Đóng góp bắt buộc NLĐ & NSDLĐ trên lương: ~3,05-3,3%

Trích một phần từ quỹ BHYT + đóng góp nhỏ từ tài khoản BHYT cá nhân

50% ngân sách (TW & địa phương) + 50% phí bảo hiểm, điều chỉnh theo thu nhập

Ưu tiên chăm sóc

~80% chọn chăm sóc tại nhà; 2/3 do người thân chăm

Khuyến khích chăm sóc tại nhà để giảm tải BV

Già hoá tại nơi ở, đa dạng dịch vụ cộng đồng

Mở rộng/chi tiêu

2019: ~2,2% GDP cho dịch vụ chăm sóc dài hạn; 5% dân số thụ hưởng

Tỷ lệ bao phủ trung bình thí điểm ~18% dân số

> 5 triệu người cao tuổi đang hưởng; phí nhóm ≥ 65 tuổi tăng định kỳ 3 năm/lần

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Dữ liệu ở Bảng cho thấy, Đức có độ bao phủ rộng và cơ chế lựa chọn linh hoạt giữa tiền mặt và dịch vụ, hỗ trợ chăm sóc tại nhà; tuy nhiên vẫn chịu áp lực từ đồng chi trả, già hóa dân số và thiếu nhân lực. Trung Quốc, dù mới thí điểm, cho thấy cách tiếp cận linh hoạt khi tận dụng hệ thống BHYT để giảm chi phí và thúc đẩy chăm sóc tại nhà, nhưng còn hạn chế về phạm vi bao phủ, dịch vụ và sự phụ thuộc tài chính vào BHYT. Trong khi đó, Nhật Bản đã phát triển hệ thống toàn dân với dịch vụ toàn diện và cơ chế đồng chi trả theo thu nhập, song vẫn đối mặt với áp lực tài chính và thiếu hụt nhân lực trong xã hội siêu già.

Nhìn chung, 3 mô hình nhấn mạnh vai trò của chuẩn bị sớm, phân chia trách nhiệm giữa nhà nước - xã hội - cá nhân và thiết kế tài chính linh hoạt, qua đó cung cấp cơ sở tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn.

BÀI HỌC VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

Thứ nhất, xây dựng lộ trình triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, việc phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Hiện nay, hệ thống an sinh mới bao gồm BHYT và BHXH hưu trí, trong khi chăm sóc người cao tuổi vẫn chủ yếu dựa vào gia đình và các cơ sở công lập còn hạn chế. Kinh nghiệm từ Đức và Nhật Bản cho thấy, việc tích hợp bảo hiểm chăm sóc dài hạn như một trụ cột chính thức giúp giảm gánh nặng cho gia đình và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ.

Việt Nam có thể lựa chọn cách tiếp cận thận trọng tương tự Trung Quốc, bắt đầu bằng các chương trình thí điểm tại đô thị lớn, nơi nhu cầu cao và hạ tầng dịch vụ tương đối phát triển. Trên cơ sở đó, tiến tới xây dựng hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn toàn dân (bắt buộc hoặc bán bắt buộc) dựa trên nền tảng BHYT. Tuy nhiên, lộ trình cần cân nhắc đặc thù thu nhập còn thấp và bất bình đẳng thu nhập lớn, do đó có thể ưu tiên bao phủ trước nhóm có BHXH hoặc người hưởng lương hưu, đồng thời có hỗ trợ ngân sách cho nhóm yếu thế (World Bank, 2023; Nguyen, 2024).

Thứ hai, cho bảo hiểm chăm sóc người cao tuổi

Một bài học quan trọng từ các quốc gia đi trước là cần xây dựng cơ chế tài chính đa nguồn, đảm bảo chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước, xã hội và cá nhân. Việt Nam có thể tham khảo mô hình Nhật Bản khi kết hợp ngân sách công (khoảng 30-50%) với đóng góp của người dân. Nhóm lao động có thể đóng góp theo tỷ lệ nhỏ trên thu nhập (tích hợp vào BHXH/BHYT), trong khi nhóm người cao tuổi đóng theo mức thu nhập hưu trí, kèm theo cơ chế miễn/giảm cho người thu nhập thấp.

Bên cạnh đó, việc áp dụng đồng chi trả là cần thiết nhằm hạn chế lạm dụng dịch vụ và kiểm soát chi phí, với mức đề xuất khoảng 10-20% và có thể phân tầng theo thu nhập. Đồng thời, Việt Nam nên khuyến khích phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn tư nhân bổ sung, thông qua ưu đãi thuế hoặc cơ chế hỗ trợ, như kinh nghiệm tại Đức (Leimer và Kacem, 2024). Cách tiếp cận đa tầng này giúp tăng tính bền vững tài chính và giảm áp lực lên ngân sách nhà nước.

Thứ ba, thiết kế gói quyền lợi và dịch vụ bảo hiểm chăm sóc phù hợp với nhu cầu và nguồn lực

Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Việt Nam nên ưu tiên phát triển các dịch vụ chăm sóc tại nhà và cộng đồng, phù hợp với văn hóa gia đình và chi phí thấp hơn so với chăm sóc nội trú. Có thể áp dụng cơ chế trợ cấp tiền mặt cho người thân chăm sóc kết hợp với dịch vụ chuyên môn như điều dưỡng tại nhà, tương tự mô hình của Đức.

Nghiên cứu xây dựng hệ thống đánh giá nhu cầu chăm sóc theo các mức độ rõ ràng (như mô hình Nhật Bản), từ đó xác định mức chi trả phù hợp. Việc áp dụng trần chi phí bảo hiểm chi trả theo từng mức độ sẽ giúp đảm bảo công bằng và tránh quá tải quỹ trong giai đoạn đầu.

Thứ tư, phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ và nhân lực chăm sóc người cao tuổi

Hiệu quả của bảo hiểm phụ thuộc trực tiếp vào năng lực cung ứng dịch vụ. Do đó, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển hệ thống cơ sở chăm sóc dài hạn đa dạng, bao gồm cả khu vực công và tư. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế và tín dụng, đồng thời triển khai mô hình hợp tác công - tư (PPP) để huy động nguồn lực xã hội.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng phát triển dịch vụ chăm sóc tại nhà và xây dựng cơ chế kết nối giữa người có nhu cầu và nhà cung cấp dịch vụ, tương tự vai trò “care manager” tại Nhật Bản. Về nhân lực, cần đầu tư đào tạo chuyên ngành điều dưỡng lão khoa, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao nhận thức xã hội về nghề chăm sóc. Đồng thời, có thể huy động lực lượng cộng đồng và các tổ chức xã hội tham gia hỗ trợ, góp phần giảm áp lực lên hệ thống chuyên nghiệp.

Thứ năm, hoàn thiện khung pháp lý và quản lý giám sát về bảo hiểm chăm sóc người cao tuổi

Việc triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn đòi hỏi một khung pháp lý rõ ràng và đồng bộ. Việt Nam cần nghiên cứu ban hành các quy định về nguồn quỹ, đối tượng tham gia, quyền lợi, tiêu chuẩn dịch vụ và cơ chế giám sát. Kinh nghiệm từ Đức cho thấy, việc tách bảo hiểm chăm sóc dài hạn thành một nhánh riêng giúp nâng cao hiệu quả quản lý và chuyên môn hóa hệ thống (Milstein và các cộng sự, 2021). Đồng thời, cần đẩy mạnh truyền thông để nâng cao nhận thức xã hội, giúp người dân hiểu rõ vai trò của bảo hiểm chăm sóc dài hạn trong việc chuẩn bị cho tuổi già.

Thứ sáu,

Bảo hiểm chăm sóc dài hạn không chỉ là công cụ an sinh xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính cá nhân. Khi có cơ chế bảo hiểm, người cao tuổi có thể giảm thiểu rủi ro tài chính do chi phí chăm sóc dài hạn, từ đó chủ động hơn trong kế hoạch chi tiêu và tích lũy. Ở cấp độ vĩ mô, bảo hiểm chăm sóc dài hạn góp phần giảm áp lực lên hệ thống y tế và ngân sách nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh già hóa dân số nhanh. Việc phát triển hệ thống này do đó không chỉ mang ý nghĩa phúc lợi xã hội mà còn là một chiến lược đầu tư dài hạn nhằm đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội.

KẾT LUẬN

Kinh nghiệm từ Đức, Trung Quốc và Nhật Bản cho thấy, không có mô hình nào hoàn hảo tuyệt đối, nhưng tựu trung đều nhấn mạnh sự cần thiết của việc chuẩn bị sớm và thiết kế hệ thống phù hợp văn hóa, kinh tế mỗi nước. Đối với Việt Nam, việc học hỏi ưu điểm (như tính bao phủ rộng và linh hoạt của Đức, cách làm thí điểm của Trung Quốc, sự toàn diện trong dịch vụ của Nhật) và tránh nhược điểm (như thiếu nguồn lực, thiếu dịch vụ hoặc bất cập tài chính) từ các nước đi trước sẽ giúp xây dựng được một hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn hiệu quả. Đây chính là một trụ cột mới của an sinh xã hội, góp phần bảo vệ an ninh tài chính cá nhân khi về già và đảm bảo phát triển bền vững trong bối cảnh dân số đang già hóa nhanh chóng.

Đồng thời, việc sớm triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn ngay từ bây giờ, với những bước đi vững chắc, sẽ giúp Việt Nam chủ động “đón đầu” thời kỳ dân số già, giảm thiểu những cú sốc về kinh tế - xã hội do gánh nặng chăm sóc người cao tuổi gây ra, và quan trọng hơn cả là đảm bảo mọi người cao tuổi đều được sống những năm tháng cuối đời một cách an lành, tự trọng và được chăm sóc đầy đủ.

Tài liệu tham khảo:

1. Asian Development Bank (2022). Long-term care for older people in Viet Nam: The current scenario, and next steps toward a healthy aging population (ADB Brief No. 218). https://doi.org/10.22617/BRF220311-2

2. Bộ Y tế Liên bang Đức (2025). Long-term care insurance. Federal Ministry of Health. https://bundesgesundheitsministerium.de

3. Milstein, R., Müller, M., & Lorenzoni, L. (2021). Germany’s difficult balancing act: Universality, consumer choice and quality long-term care for older persons (WKC Policy Series on Long-Term Care No. 3). WHO Centre for Health Development. https://extranet.who.int

4. Leimer, T. M., & Kacem, Y. (2024, August 24). What is long-term care insurance (Pflegeversicherung)? Feather Insurance. https://feather-insurance.com/blog/long-term-care-insurance-pflegeversicherung-explained/

5. Li, Q., Chen, Y., Zhang, Y., & Liu, X. (2024). Evaluation of China’s long‑term care insurance policies. Frontiers in Public Health, 12, Article 1252817. https://doi.org/10.3389/fpubh.2024.1252817

6. Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (2021). Long-term care insurance system of Japan - Annual report. Ministry of Health, Labour and Welfare. https://extranet.who.int

7. Japan Health Policy NOW (2019). Long-term care insurance in Japan. https://japanhpn.org/en/longtermcare/

8. Hashi Consulting. (2020). How does the healthcare system work in Japan? https://hashi.biz

9. Nguyen, T. T. (2024). Income inequality in Vietnam: Current situation and solutions. International Journal of Research, 13(5), 112–120. https://ijor.co.uk/ijor/article/view/3836

10. Nguyễn Thị Thu Thanh (2024). Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn

11. Trần Thị Minh, Nguyễn Văn A, & Trần Thị B. (2022). Đề xuất chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý và Chính sách Y tế, 2(2022), 45-56. https://vietnam.unfpa.org

12. World Bank (2023). Vietnam overview. https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview

Ngày nhận bài: 17/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/5/2026; Ngày duyệt bài: 19/6/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.