Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam
ThS. Nguyễn Thị Thanh Hảo
Trường Đại học Tài chính - Marketing
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu này đo lường tác động của chuyển đổi số đến giá trị của các doanh nghiệp ngành logistics tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp logistics niêm yết trong giai đoạn 2020-2025. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chuyển đổi số có tác động tích cực đáng kể đến giá trị của doanh nghiệp ngành này; quy mô doanh nghiệp đóng vai trò điều tiết tích cực, nghĩa là các doanh nghiệp lớn có lợi thế cấu trúc để tối ưu hóa hiệu quả từ các khoản đầu tư công nghệ. Dựa trên kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm tối ưu hóa chiến lược đầu tư công nghệ, nâng cao chuỗi giá trị logistics tại Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Chuyển đổi số, giá trị doanh nghiệp, ngành logistics
Abstract
This study measures the impact of digital transformation on the value of logistics enterprises in Viet Nam. Data were collected from the financial statements of listed logistics enterprises during the 2020-2025 period. The results indicate that digital transformation has a significant positive effect on firm value in the logistics industry; firm size plays a positive moderating role, indicating that larger enterprises have structural advantages in optimizing the effectiveness of technology investments. Based on the empirical findings, the study proposes several managerial implications to optimize technology investment strategies and enhance the logistics value chain in Viet Nam in the digital era.
Keywords: Digital transformation, firm value, logistics industry
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành logistics Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, với tốc độ tăng trưởng hàng năm duy trì từ 14%-16%. Tuy nhiên, chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn ở mức tương đối cao, đặt ra áp lực lớn về mặt tối ưu hóa năng lực vận hành. Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn (Big Data)… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Mặc dù có sự đồng thuận cao về mặt lý thuyết rằng công nghệ thúc đẩy hiệu quả hoạt động, việc chứng minh chuyển đổi số có thực sự làm tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp hay không vẫn là một câu hỏi chưa được giải đáp ở thị trường Việt Nam. Phần lớn các nghiên cứu hiện tại ở Việt Nam tập trung vào việc đo lường hiệu quả tài chính ngắn hạn (như ROA, ROE) hoặc chỉ dừng lại ở các khảo sát định tính về mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ. Do đó, nghiên cứu này sử dụng chỉ số Tobin's Q - thước đo đại diện cho giá trị thị trường dài hạn của doanh nghiệp - để đánh giá tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp ngành logistics tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu còn kiểm định vai trò điều tiết của quy mô doanh nghiệp, nhằm làm rõ xem liệu quy mô lớn có tạo ra lợi thế cộng hưởng khi thực thi chiến lược công nghệ hay không.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Nghiên cứu của Kraus và cộng sự (2021), Zhang và cộng sự (2022) chứng minh chuyển đổi số giúp tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí vận hành, từ đó nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (ROA, ROE, Tobin's Q) ở thị trường Mỹ và Trung Quốc.
Nghiên cứu của Li và cộng sự (2021) trên các doanh nghiệp niêm yết toàn cầu cho thấy chuyển đổi số giúp giảm chi phí bất đối xứng thông tin, cải thiện tính minh bạch tài chính, từ đó làm giảm chi phí sử dụng vốn (WACC) và nâng cao giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Trong ngành logistics, Dobrovnik và cộng sự (2019) chứng minh ứng dụng Internet vạn vật (IoT) và Big Data giúp tối ưu hóa định tuyến vận tải, giảm hao phí lưu kho, trực tiếp gia tăng Tobin’s Q của các công ty logistics tại Châu Âu.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này đã khai thác một số nội dung như: Phạm Quang Hải và cộng sự (2023) đã hệ thống hóa định tính về thực trạng ứng dụng công nghệ, nhấn mạnh chuyển đổi số giúp cải thiện năng lực quản trị nội bộ doanh nghiệp logistics. Nguyễn Thị Phương Dung và cộng sự (2024) đã đo lường tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chuyển đổi số làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách rõ rệt. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về vai trò của các yếu tố khác như quy mô, thời gian hoạt động góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật và Kiều Thị Kim Ngân (2025) tập trung phân tích tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình chuyển đổi số chưa tạo ra tác động tích cực rõ ràng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu.
Nguyễn Văn Quới (2026) phân tích vai trò trung gian của chuyển đổi số trong mối quan hệ giữa thái độ, hiểu biết kỹ thuật số, lãnh đạo chuyên nghiệp và hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Nghiên cứu này cho thấy chuyển đổi số đóng vai trò trung gian bán phần và có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua chỉ tiêu ROA.
Như vậy, hầu hết các nghiên cứu hiện tại ở Việt Nam chỉ sử dụng phương pháp khảo sát định tính hoặc phân tích tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động (ROA, ROE) của doanh nghiệp. Chưa có nghiên cứu hệ thống nào sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 2020-2025 để đo lường định lượng tác động trực tiếp của chuyển đổi số đến Tobin’s Q của các doanh nghiệp logistics Việt Nam.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu bao gồm dữ liệu của 58 doanh nghiệp logistics niêm yết trên 2 sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 6 năm (từ 2020-2025). Sau khi loại bỏ các doanh nghiệp thiếu dữ liệu liên tục, mẫu cuối cùng đạt 318 quan sát, đảm bảo tính đại diện cao cho ngành logistics Việt Nam.
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Dựa trên các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đã tổng hợp, tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số và một số các yếu tố đến giá trị của các doanh nghiệp ngành logistics ở Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025 như sau:
TOBIN’S Qi,t = β0 + β1DIGITALi,t-1 + β2SIZEi,t-1 + β3DIGITAL*SIZEi,t-1 + β4LEVi,t + β5GROWTHi,t + β6ATOi,t + εi,t
Trong đó:
Biến phụ thuộc:
TOBIN’S Q: Là biến đại diện cho giá trị thị trường dài hạn của doanh nghiệp, được tính bằng tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với Tổng nợ phải trả, tất cả chia cho Tổng tài sản của doanh nghiệp.
Các biến độc lập gồm:
- DIGITAL (Biến độc lập chính): Là biến đại diện cho chuyển đổi số của doanh nghiệp, được tính bằng tỷ lệ giá trị còn lại của Tài sản cố định vô hình (phần mềm máy tính, bản quyền hệ thống quản lý công nghệ thông tin) trên Tổng tài sản của doanh nghiệp.
- SIZE (Biến điều tiết): Quy mô doanh nghiệp, tính bằng logarit tự nhiên của Tổng tài sản doanh nghiệp.
- DIGITAL * SIZE (Biến tương tác): Tích số giữa biến Chuyển đổi số và Quy mô doanh nghiệp để đánh giá hiệu ứng điều tiết.
- LEV (Biến kiểm soát): Đòn bẩy tài chính, tính bằng Tổng nợ phải trả chia cho Tổng tài sản.
- GROWTH (Biến kiểm soát): Tốc độ tăng trưởng doanh thu so với năm trước đó.
- ATO (Biến kiểm soát): Vòng quay tổng tài sản, tính bằng Doanh thu thuần chia cho Tổng tài sản của doanh nghiệp.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp và các khuyết tật của mô hình nghiên cứu
Đầu tiên, nghiên cứu thực hiện ước lượng hồi quy dữ liệu bảng bằng cả 2 mô hình là: mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Sau đó tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp hơn dựa trên kiểm định Hausman test. Kết quả so sánh mức độ phù hợp giữa FEM và REM cho thấy hệ số Prob>Chibar2 = 0,0557 > 0,05 nên REM là mô hình phù hợp hơn. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên REM để xác định sự ảnh hưởng của chuyển đổi số đến giá trị của các doanh nghiệp ngành logistics được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2020-2025.
Tiếp theo, nghiên cứu tiến hành kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi trong mô hình nghiên cứu, kết quả như Bảng 1.
Bảng 1: Ma trận hệ số tương quan
|
|
TOBIN’S Q |
DIGITAL |
SIZE |
DIGITAL*SIZE |
LEV |
GROWTH |
ATO |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
TOBIN’S Q |
1,000 |
|
|
|
|
|
|
|
DIGITAL |
0,2535 |
1,000 |
|
|
|
|
|
|
SIZE |
-0,0367 |
-0,0422 |
1,000 |
|
|
|
|
|
DIGITAL*SIZE |
-0,1527 |
-0,0833 |
0,1723 |
1,000 |
|
|
|
|
LEV |
0,2166 |
0,4212 |
-0,1745 |
-0,2189 |
1,000 |
|
|
|
GROWTH |
0,1031 |
0,2611 |
-0,4478 |
-0,0896 |
0,3156 |
1,000 |
|
|
ATO |
0,0699 |
0,1357 |
-0,1144 |
-0,2155 |
0,1758 |
0,2031 |
1,000 |
Dựa vào bảng mô tả mối tương quan giữa các biến trong mô hình ở trên, có thể thấy hệ số tương quan giữa tất cả các cặp biến độc lập trong mô hình hồi quy đều có giá trị tuyệt đối nhỏ hơn 0,8. Ngoài ra, kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số nhân tử phóng đại phương sai cho thấy, tất cả các biến số đều có VIF < 10 (Bảng 2). Do đó, có thể khẳng định đa cộng tuyến không phải là vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến kết quả ước lượng của mô hình.
Bảng 2: Hệ số phóng đại phương sai (VIF) giữa các biến độc lập
|
|
VIF |
1/VIF |
|---|---|---|
|
DIGITAL |
2,57 |
0,3891 |
|
SIZE |
4,21 |
0,2375 |
|
DIGITAL*SIZE |
1,68 |
0,5952 |
|
LEV |
3,11 |
0,3215 |
|
GROWTH |
1,06 |
0,9434 |
|
ATO |
3,25 |
0,3077 |
Kết quả kiểm định Wooldridge test và Modified Wald test cho thấy mô hình có hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Vì vậy, tác giả đã tiến hành khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan bằng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS), mô hình thu được các ước lượng bền vững và hiệu quả hơn.
Kết quả hồi quy
Kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu được mô tả trong Bảng 3.
Bảng 3: Kết quả mô hình nghiên cứu
|
|
Hệ số hồi quy |
|---|---|
|
DIGITAL |
2,102** |
|
SIZE |
0,095* |
|
DIGITAL*SIZE |
0,816* |
|
LEV |
-0,195** |
|
GROWTH |
0,312*** |
|
ATO |
0,162** |
|
Số quan sát |
318 |
|
R2 |
56,06% |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Tác động của Chuyển đổi số
Kết quả mô hình hồi quy cho thấy hệ số hồi quy của biến DIGITAL là dương 2,102 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này có nghĩa là khi tăng tỷ trọng đầu tư vào tài sản công nghệ vô hình, Tobin's Q của doanh nghiệp logistics sẽ tăng mạnh. Như vậy, nhà đầu tư đánh giá cao những công ty logistics chủ động số hóa quy trình (như tích hợp dữ liệu thông minh giúp giảm thời gian giao hàng, định vị thời gian thực), xem công nghệ là đòn bẩy tạo dòng tiền tăng trưởng bền vững trong tương lai.
Vai trò điều tiết của Quy mô
Biến quy mô (SIZE) và biến tương tác (DIGITAL*SIZE) đều có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Như vậy, quy mô doanh nghiệp lớn có thể giúp gia tăng tác động tích cực của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp. Các tập đoàn logistics lớn nhờ lợi thế mạng lưới sẵn có đã tối ưu hóa hiệu năng của các phần mềm quản lý, chia sẻ tài nguyên dữ liệu trên quy mô rộng, mang lại hiệu quả vượt trội so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ bị giới hạn về cả vốn lẫn khách hàng.
Vai trò của các biến kiểm soát còn lại
Biến đòn bẩy tài chính (LEV) có tác động ngược chiều đến Tobin's Q, cho thấy áp lực nợ vay cao làm giảm giá trị doanh nghiệp logistics niêm yết do rủi ro tài chính gia tăng. Ngược lại, tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROWTH) và vòng quay tổng tài sản (ATO) đều có tác động thuận chiều, phản ánh các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng và năng lực khai thác đội xe, kho bãi tốt luôn được thị trường định giá cao hơn.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã làm rõ tác động của chuyển đổi số đến giá trị dài hạn của doanh nghiệp (Tobin's Q) trong ngành logistics tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp xử lý dữ liệu bảng nâng cao FGLS trên mẫu 58 doanh nghiệp từ 2020-2025, kết quả cho thấy: Số hóa tài sản thông qua gia tăng tỷ trọng tài sản công nghệ vô hình trực tiếp thúc đẩy giá trị thị trường của doanh nghiệp. Hơn nữa, sự tác động tích cực này cao hơn đáng kể ở nhóm các doanh nghiệp có lợi thế về quy mô tài sản lớn.
Dựa trên kết quả đó, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất đối với ban điều hành doanh nghiệp logistics Việt Nam như sau: Chuyển đổi số không phải là một khoản chi phí tiêu tốn tài nguyên, mà là một khoản đầu tư sinh lời và tạo lập giá trị doanh nghiệp bền vững. Doanh nghiệp cần chủ động lập ngân sách dài hạn để số hóa hạ tầng, thay thế các tài sản vật chất lỗi thời bằng các hệ thống quản trị vô hình thông minh. Các doanh nghiệp nhỏ có thể cân nhắc chiến lược liên kết chuỗi hoặc thuê ngoài (Outsourcing) dịch vụ công nghệ theo mô hình SaaS (Software as a Service) để giảm thiểu áp lực chi phí cố định ban đầu, từ đó vượt qua rào cản quy mô nhỏ.
Tài liệu tham khảo:
1. Dobrovnik, M., Herold, D. M., & Kummer, S. (2019). Digital transformation in logistics: Challenges and opportunities. International Journal of Production Economics, 214, 1-15.
2. Kraus, S., Schiavone, F., Pluzhnikova, A., & Invernizzi, A. C. (2021). Digital transformation in business and management research: An overview of the current status quo. International Journal of Agile Management Systems, 24(3), 411-425.
3. Li, L., et al. (2021). Digital transformation and enterprise value: Evidence from listed companies. International Review of Economics & Finance, 74, 301-315.
4. Nguyễn Minh Nhật & Kiều Thị Kim Ngân (2025). Chuyển đổi số và mối liên hệ với hiệu quả hoạt động: Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Tạp chí phát triển và hội nhập, số 84, 44-53.
5. Nguyễn Thị Phương Dung, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Lê Hoa Hạ & Nguyễn Minh Triết (2024). Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất tại Cần Thơ. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số đặc biệt tháng 12/2024, 97-106.
6. Nguyễn Văn Quới (2026). Tác động của công nghệ số đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 312, 45-54.
7. Phạm Quang Hải, Phùng Quang Phát, & Đỗ Hồng Quân (2023). Chuyển đổi số trong doanh nghiệp logistics Việt Nam. VNU Journal of Economics and Business, 3(1), 28-37.
8. Zhang, T., Shi, Z. Z., & Wang, Y. (2022). Digital transformation and firm value: Empirical evidence from China’s listed logistics companies. Transportation Research Part E: Logistics and Transportation Review, 164, 102-109.
| Ngày nhận bài: 26/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/9/2026; Ngày duyệt đăng: 14/9/2026 |
Các tin khác
Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai