Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Nghiên cứu - Trao đổi 09:26 | 16/09/2026
Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.

ThS. Nguyễn Hải Lý

Email: [email protected]

ThS. Phạm Thị Thùy Dương

Trường Chính trị Lê Duẩn Quảng Trị

Tóm tắt

Trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng, kinh tế số đang tạo ra những phương thức mới trong tổ chức sản xuất, quản trị, kết nối thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu phân tích vai trò của kinh tế số đối với phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên trên cơ sở tổng hợp, phân tích số liệu thống kê và các báo cáo của Trung ương, địa phương giai đoạn 2021-2025. Qua đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm phát huy vai trò của kinh tế số, tạo động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và tăng trưởng bền vững của Vùng.

Từ khóa: Kinh tế số, kinh tế tư nhân, Trung Bộ và Tây Nguyên

Abstract

In the context of increasingly widespread digital transformation, the digital economy is creating new ways of organizing production, governance, connecting markets, and enhancing the competitiveness of enterprises. The study analyzes the role of the digital economy in the development of the private economic sector in the Central and Central Highlands regions, based on the compilation and analysis of statistical data and reports from central and local authorities for the 2021-2025 period. Accordingly, the study proposes several orientations to promote the role of the digital economy, create momentum for the development of the private economic sector, and achieve sustainable growth in the region.

Keywords: Digital economy, private economic sector, Central and Central Highlands regions

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chuyển đổi số (CĐS) đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản trị, qua đó tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong quá trình này, kinh tế số không chỉ hình thành các ngành, sản phẩm và mô hình kinh doanh mới mà còn thúc đẩy số hóa các ngành kinh tế truyền thống, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đối với khu vực kinh tế tư nhân, công nghệ số, dữ liệu và các nền tảng số ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, giảm chi phí giao dịch, đổi mới mô hình kinh doanh và tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực. Tuy nhiên, mức độ phát triển kinh tế số còn chênh lệch giữa các địa phương; năng lực ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp chưa đồng đều, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về vốn, nhân lực số và năng lực quản trị. Điều này đặt ra yêu cầu phải xác định rõ hơn những tác động của kinh tế số cũng như các điều kiện cần thiết để chuyển hóa tiềm năng số thành động lực phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

Xuất phát từ vấn đề trên, nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế số và tác động của kinh tế số đối với khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên giai đoạn 2021-2025. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm thúc đẩy CĐS, nâng cao năng lực của doanh nghiệp tư nhân và phát huy vai trò của kinh tế số như một động lực tăng trưởng mới của Vùng.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ SỐ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VÙNG TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Những năm gần đây, kinh tế số ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có bước phát triển tích cực, từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Bảng: Một số chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân vùng Trung Bộ và Tây Nguyên giai đoạn 2021-2025

Địa phương

Doanh nghiệp đang

hoạt động

Doanh nghiệp thành lập mới (2021-2025)

GRDP bình quân

(%)

Điểm nổi bật

Nghệ An

>35.000

8.900

8,3-8,5

Công nghiệp công nghệ cao

Hà Tĩnh

≈13.000

≈6.500

6,4

KKT Vũng Áng

Quảng Trị

≈8.500

5.400

6,8

Năng lượng tái tạo

Huế

≈7.500

≈3.680

7,16

DTI Top 5

Quảng Ngãi

>7.000

≈5.275

7,3

Dung Quất

Gia Lai

>9.000

5.000

≈6,5

Điện gió, điện mặt trời

Đắk Lắk

>17.000

9.345

6,24

Nông nghiệp CNC

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ báo cáo các địa phương

Đến năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục mở rộng về quy mô và trở thành lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế của các địa phương vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (Bảng). Giai đoạn 2021-2025, số lượng doanh nghiệp thành lập mới khá lớn tại nhiều địa phương, nổi bật là Đắk Lắk với 9.345 doanh nghiệp, Nghệ An 8.900 doanh nghiệp, Hà Tĩnh khoảng 6.500 doanh nghiệp, Quảng Trị 5.400 doanh nghiệp và Quảng Ngãi khoảng 5.275 doanh nghiệp. Trong đó, Nghệ An có số lượng doanh nghiệp đang hoạt động lớn nhất trong nhóm địa phương được khảo sát với trên 35.000 doanh nghiệp, tiếp đến là Đắk Lắk với trên 17.000 doanh nghiệp và Hà Tĩnh khoảng 13.000 doanh nghiệp (Bảng 1). Điều này cho thấy nền tảng doanh nghiệp của Vùng đang từng bước được mở rộng, tạo thêm dư địa cho ứng dụng công nghệ và phát triển các hoạt động kinh tế số.

Đáng chú ý, sự phát triển của khu vực doanh nghiệp có sự gắn kết tương đối rõ với lợi thế và định hướng kinh tế của từng địa phương. Nghệ An hướng tới công nghiệp và công nghệ cao; Hà Tĩnh và Quảng Ngãi phát huy vai trò của các khu kinh tế Vũng Áng và Dung Quất; Quảng Trị và Gia Lai có thế mạnh về năng lượng tái tạo; Đắk Lắk phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trong khi Huế có lợi thế về CĐS. Đây là những lĩnh vực có khả năng ứng dụng mạnh công nghệ số, từ quản trị sản xuất, tự động hóa và quản lý chuỗi cung ứng đến thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu số và các nền tảng kết nối thị trường. Vì vậy, kinh tế số không chỉ tạo thêm phương thức kinh doanh mới mà còn có khả năng nâng cao giá trị gia tăng của những ngành, lĩnh vực vốn là thế mạnh của từng địa phương.

Tuy nhiên, Bảng 1 cũng cho thấy sự chênh lệch đáng kể về quy mô doanh nghiệp giữa các địa phương. Trong khi Nghệ An và Đắk Lắk đã hình thành khu vực doanh nghiệp tương đối lớn thì số lượng doanh nghiệp tại Quảng Ngãi, Huế và Quảng Trị còn khiêm tốn hơn. Sự khác biệt về nền tảng doanh nghiệp, cơ cấu ngành và điều kiện phát triển có thể dẫn đến khả năng tiếp cận, đầu tư và khai thác công nghệ số không đồng đều. Do đó, tác động của kinh tế số đối với khu vực kinh tế tư nhân cần được xem xét trong mối quan hệ với trình độ phát triển kinh tế số của từng địa phương, đặc biệt thông qua tỷ trọng kinh tế số trong GRDP, mức độ CĐS và khả năng ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp.

Hình 1: Tỷ trọng giá trị tăng thêm kinh tế số trong GRDP cao nhất năm 2025 của 10 địa phương

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Nguồn: Cục Thống kê (2025)

Hình 1 cho thấy, mức độ phát triển kinh tế số đã có những chuyển biến tích cực tại một số địa phương trong Vùng. Cụ thể, Đà Nẵng có tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP cao nhất, đạt 12,1%, tiếp đến là Huế (9,2%) và Nghệ An (8,4%); tỷ trọng kinh tế số lõi tại các địa phương này cũng ở mức tương đối cao. Kết quả này cho thấy kinh tế số đang từng bước trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế địa phương, gắn với quá trình phát triển hạ tầng số, doanh nghiệp công nghệ và CĐS trong các ngành, lĩnh vực.

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, sự phát triển của kinh tế số tạo điều kiện để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vào quản trị, sản xuất và kinh doanh, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận thị trường thông qua thương mại điện tử và các nền tảng số. Đáng chú ý, Đà Nẵng và Huế có lợi thế về dịch vụ, công nghệ và hạ tầng số, trong khi Nghệ An có quy mô doanh nghiệp tương đối lớn; do đó, sự phát triển kinh tế số tại các địa phương này có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn tới khu vực doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ đóng góp của kinh tế số còn khác biệt giữa các địa phương, phản ánh sự không đồng đều về nền tảng và khả năng khai thác các lợi ích của CĐS.

Hình 2: Tỷ trọng giá trị tăng thêm kinh tế số trong GRDP năm 2025 của 10 địa phương

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Nguồn: Cục Thống kê (2025)

Hình 2 cho thấy sự chênh lệch đáng kể về mức độ phát triển kinh tế số giữa các địa phương trong Vùng. Cụ thể, Thanh Hóa và Quảng Ngãi có tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP lần lượt đạt 6,4% và 6,5%, thấp hơn nhóm địa phương dẫn đầu; tỷ trọng kinh tế số lõi cũng chỉ khoảng 2,4-3,0%. Sự khác biệt này cho thấy quá trình CĐS và khả năng tạo giá trị từ các hoạt động kinh tế số trong vùng chưa đồng đều.

Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế số có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng CĐS của khu vực kinh tế tư nhân. Tại những địa phương có nền tảng kinh tế số còn hạn chế, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể gặp nhiều khó khăn hơn trong tiếp cận hạ tầng, công nghệ, nhân lực số và các dịch vụ hỗ trợ CĐS. Tuy nhiên, tỷ trọng kinh tế số còn thấp cũng cho thấy dư địa tăng trưởng lớn nếu các địa phương đẩy mạnh đầu tư hạ tầng số, phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Thu hẹp khoảng cách số giữa các địa phương vì vậy là điều kiện quan trọng để kinh tế số tạo tác động lan tỏa rộng hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân trong toàn Vùng.

Thực tiễn cho thấy, kinh tế số đang tạo ra những tác động ngày càng rõ nét đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Bộ và Tây Nguyên. Việc ứng dụng công nghệ và nền tảng số giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, quản trị và phân phối, qua đó tiết giảm chi phí, nâng cao năng suất và khả năng tiếp cận thị trường. Thương mại điện tử và thanh toán số giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi địa phương; trong khi logistics thông minh, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) từng bước được ứng dụng trong quản lý chuỗi cung ứng, phân tích thị trường và hỗ trợ ra quyết định. Những thay đổi này đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp giảm bớt bất lợi về quy mô và tạo thêm cơ hội tham gia các chuỗi giá trị rộng hơn.

Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi từ kinh tế số còn khác biệt đáng kể giữa các địa phương và nhóm doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực có kỹ năng số và năng lực lựa chọn, tích hợp công nghệ phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, hạ tầng số, dịch vụ hỗ trợ CĐS và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại một số địa phương chưa phát triển đồng bộ. Những hạn chế này làm cho quá trình CĐS chủ yếu tập trung ở một bộ phận doanh nghiệp có quy mô và năng lực tốt hơn, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa khai thác đầy đủ lợi ích của kinh tế số. Đây cũng là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để kinh tế số thực sự trở thành động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh và bền vững trong toàn vùng.

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN NỀN TẢNG KINH TẾ SỐ NHẰM TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI CHO VÙNG TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Để kinh tế số thực sự trở thành động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và tạo nguồn tăng trưởng mới cho vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, thời gian tới cần tập trung vào một số định hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế số gắn với phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào công nghệ số, đổi mới sáng tạo và CĐS; đồng thời xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi nhằm phát huy tối đa các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế số.

Thứ hai, thúc đẩy CĐS trong khu vực doanh nghiệp tư nhân. Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng AI, Big Data, điện toán đám mây, thương mại điện tử và các nền tảng số vào quản trị, sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh.

Thứ ba, phát triển đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số và nguồn nhân lực số. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu và nền tảng số; đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng số, đáp ứng yêu cầu CĐS và phát triển doanh nghiệp trong nền kinh tế số.

Thứ tư, tăng cường liên kết vùng và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Phát huy lợi thế của từng địa phương, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và chính quyền nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng của Vùng.

KẾT LUẬN

Kinh tế số đang trở thành động lực mới của tăng trưởng và chuyển đổi mô hình phát triển ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên. Khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng trung tâm trong ứng dụng, lan tỏa và khai thác hiệu quả các thành tựu của kinh tế số. Vì vậy, phát triển kinh tế số gắn với phát triển khu vực kinh tế tư nhân là yêu cầu quan trọng nhằm hình thành động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững của Vùng.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2025). Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025. Bộ Tài chính.

2. Thành ủy Huế (2025). Báo cáo số 767-BC/TU Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XVI trình Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVII.

3. Tỉnh ủy Đắk Lắk (2025). Báo cáo số 68-BC/TU Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030.

4. Tỉnh ủy Hà Tĩnh (2025). Báo cáo số 01-BC/TU Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030.

5. Tỉnh ủy Lâm Đồng (2025). Báo cáo số 18-BC/TU Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

6. Tỉnh ủy Nghệ An (2025). Báo cáo số 692-BC/TU Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX.

7. Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2025). Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

8. Tỉnh ủy Quảng Trị (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

9. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2025). Báo cáo số 708-BC/TU: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa khóa XIX trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030.

Ngày nhận bài: 15/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 8/9/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn là một trong những vấn đề trung tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ cho tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, khả năng sinh lời, mức độ tự chủ tài chính, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của doanh nghiệp.