Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Nghiên cứu - Trao đổi 09:06 | 16/09/2026
Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.

Lê Ngọc Diệp

Email: [email protected]

Trịnh Quang Thoại

Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp tại tỉnh Đồng Nai

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai giai đoạn 2023-2025 thông qua phân tích các tiêu chí về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, kỹ năng tin học, ngoại ngữ, công tác đào tạo, bồi dưỡng và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội ngũ Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc tại đơn vị, trình độ chuyên môn từng bước được nâng cao và công tác đào tạo, bồi dưỡng được quan tâm thực hiện thường xuyên. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như thiếu hụt nhân lực ở một số vị trí, tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học và sau đại học còn thấp, năng lực ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ chuyên sâu còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ rừng trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Nguồn nhân lực, kiểm lâm, chuyên trách bảo vệ rừng, Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Abstract

This study assesses the current quality of human resources in forest management and protection at the Dong Nai Nature - Culture Reserve during the 2023-2025 period by analyzing criteria including workforce size and structure, professional qualifications, information technology skills, foreign language proficiency, training and professional development, and task performance. The results show that the forest ranger force and specialized forest protection personnel generally meet the unit's work requirements, that professional qualifications have gradually improved, and that training and professional development have received regular attention. However, several limitations remain, including personnel shortages in certain positions, a relatively low proportion of personnel with undergraduate and postgraduate qualifications, and limited proficiency in foreign languages and capabilities in applying advanced technologies. On this basis, the study proposes recommendations to improve the quality of human resources and meet the requirements of forest management and protection in the coming period.

Keywords: Human resources, forest rangers, specialized forest protection personnel, Dong Nai Nature - Culture Reserve

GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện thông qua hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (Chính phủ, 2019, 2024).

Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (KBT) là một trong những khu bảo tồn có quy mô lớn của Việt Nam, đồng thời là vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai. Với diện tích quản lý là 100.571 ha gồm hơn 68.000 ha rừng, đất rừng và 32.500 ha mặt nước hồ Trị An. Nhiệm vụ chính của đơn vị là quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng và các giá trị đa dạng sinh học; bảo tồn di tích văn hóa, lịch sử, du lịch.

Hạt Kiểm lâm thuộc KBT là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng. Mặc dù đội ngũ cán bộ, viên chức đã từng bước được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, song vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu hụt nhân lực ở một số vị trí việc làm, tỷ lệ nhân lực có trình độ cao còn thấp, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại. Trước thực tế đó, việc đánh giá thực trạng và đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Hạt Kiểm lâm thuộc KBT có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên trong giai đoạn hiện nay.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp được kế thừa, tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; các quy định, chính sách của tỉnh Đồng Nai liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp; các báo cáo kinh tế - xã hội của địa phương; báo cáo chuyên ngành và tài liệu liên quan đến lực lượng Kiểm lâm và chuyên trách bảo vệ rừng tại KBT; cùng các công trình nghiên cứu đã công bố (Đoàn Thị Hân, Bùi Hồng Hạnh, 2022; Phùng Văn Khoa và cộng sự, 2020).

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Các tài liệu thu thập được phân loại, chọn lọc theo từng nội dung nghiên cứu; hệ thống hóa bằng bảng biểu, chỉ tiêu và xử lý trên phần mềm Excel làm cơ sở cho phân tích.

Phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phản ánh thực trạng nguồn nhân lực; phương pháp so sánh nhằm đánh giá sự thay đổi qua các năm; phương pháp tổng hợp để rút ra nhận định, kết luận về chất lượng nguồn nhân lực tại Hạt kiểm lâm thuộc KBT.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Giới thiệu Khu Bảo tồn và Hạt Kiểm lâm trực thuộc

Hình 1: Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của Khu bảo tồn

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

Hình 2: Cơ cấu tổ chức của Khu Bảo tồn

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

KBT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND TP. Đồng Nai, được thành lập theo Quyết định số 4679/2003/QĐ-UBT ngày 3/12/2003 của UBND tỉnh Đồng Nai (nay là TP. Đồng Nai). Từ khi thành lập đến nay, KBT luôn thực hiện tốt các nhiệm vụ, lĩnh vực được giao về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên rừng và vùng đất ngập nước nội địa hồ Trị An; phục hồi các sinh cảnh rừng, cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học; phục hồi và phát triển ổn định nguồn lợi thủy sản; bảo tồn, trùng tu tôn tạo và phát huy giá trị 3 Di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia và 2 Di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh; đồng thời là đơn vị được giao tham mưu, thực hiện công tác cho Ban thư ký của Ban quản lý Khu dự trữ Sinh quyển Thế giới Đồng Nai. Hiện nay tổng số viên chức và lao động hợp đồng tại đơn vị là 231 người (Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, 2026).

Hạt Kiểm lâm là đơn vị chuyên môn trực thuộc KBT có chức năng tham mưu và trực tiếp tổ chức thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phòng cháy, chữa cháy rừng trên phạm vi được giao quản lý. Với lực lượng nòng cốt là kiểm lâm và chuyên trách bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng trong xử lý vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, đồng thời tham gia tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý rừng ngày càng cao và ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, Hạt Kiểm lâm giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên rừng và các giá trị đa dạng sinh học của KBT (Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, 2026).

Bảng 1: Biên chế được giao và số người làm việc hiện có theo vị trí việc làm năm 2025

Stt

Tổ chức/Đơn vị

Số lượng thực tế hiện có theo vị trí việc làm

Kế hoạch Biên chế

viên chức

được giao năm 2026

Số lượng biên chế hiện còn dư (+)

thiếu (-)

Viên chức

Hợp đồng 111

khoán việc

1

Ban Giám đốc

3

0

4

-1

2

Phòng Tổ chức - Hành chính

11

6

15

-4

3

Phòng Kế hoạch - Tài chính

9

0

10

-1

4

Phòng Kỹ thuật lâm sinh & đất đai

14

0

13

1

5

Phòng Bảo tồn thiên nhiên & Hợp tác

15

0

15

0

6

Hạt Kiểm lâm (gồm văn phòng Hạt và 18 trạm trực thuộc)

166

0

178

-12

7

Trung tâm Sinh thái - Văn hóa - Lịch sử Chiến khu Đ

13

0

14

-1

Tổng số

231

6

249

-18

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

Bảng 1 cho thấy tổng số biên chế được UBND TP. Đồng Nai giao tại KBT là 249 người, tuy nhiên số lượng thực tế hiện có chỉ đạt 231 người, thiếu 18 biên chế so với nhu cầu. Tình trạng thiếu nhân lực tập trung chủ yếu tại Hạt Kiểm lâm (thiếu 12 biên chế)

Đặc điểm nguồn nhân lực tại Hạt kiểm lâm thuộc Khu Bảo tồn

Nguồn nhân lực tại đơn vị mang những đặc trưng riêng biệt, bao gồm lực lượng Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng. Đây là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò trực tiếp trong việc thực thi pháp luật về lâm nghiệp, bảo vệ tài nguyên rừng và duy trì cân bằng sinh thái trên địa bàn.

Bảng 2: Đặc điểm nguồn nhân lực tại Hạt Kiểm lâm

ĐVT: Người

TT

Tiêu chí phân loại

Năm 2023

Năm 2024

Năm 2025

1

Độ tuổi

Dưới 30

28

28

16

Từ 30 đến 45

93

99

109

Từ 46-60

38

38

41

2

Giới tính

Nam

156

160

161

Nữ

3

5

5

3

Thâm niên công tác

Dưới 5 năm

49

56

50

Từ 5 đến 15

53

57

60

Trên 15 năm

57

52

56

4

Trình độ chuyên môn

Sơ cấp

0

0

0

Trung cấp-Cao Đẳng

64

52

51

Đại học

94

112

114

Thạc sỹ

1

1

1

Tiến sỹ

0

0

0

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

Công việc của cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm gắn liền với địa bàn rộng lớn, điều kiện tự nhiên phức tạp, thường xuyên phải tuần tra, kiểm soát trong môi trường rừng núi hiểm trở, xa khu dân cư, đòi hỏi sức khỏe, sự bền bỉ và khả năng thích nghi cao.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp tuần tra, canh gác, phát hiện sớm các nguy cơ xâm hại tài nguyên rừng. Lực lượng này thường xuyên bám địa bàn, am hiểu địa hình, tập quán địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rừng theo hướng gần dân, sát thực tiễn. Tuy nhiên, so với kiểm lâm, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ của lực lượng này còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến động lực và sự ổn định lâu dài của nguồn nhân lực.

Thực trạng chất lượng nhân lực tại Hạt Kiểm lâm

Hàng năm, KBT có cử Kiểm lâm viên và chuyên trách bảo vệ rừng tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ như: Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước (QLNN) và nghiệp vụ ngạch kiểm lâm viên chính; Bồi dưỡng kiến thức QLNN và nghiệp vụ ngạch kiểm lâm viên; Bồi dưỡng kiến thức QLNN và nghiệp vụ ngạch kiểm lâm viên trung cấp; Bồi dưỡng kiến thức theo chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Bảng 3: Trình độ chuyên môn của lực lượng Kiểm lâm và quản lý bảo vệ rừng

ĐVT: Người

STT

Nội dung đào tạo

Năm 2023

Năm 2024

Năm 2025

1

QLNN Chuyên viên chính, kiểm lâm viên chính

2

2

2

2

QLNN ngạch chuyên viên, Kiểm lâm viên, Quản lý bảo vệ rừng viên

76

95

99

3

Kiểm lâm viên Trung cấp, Quản lý bảo vệ rừng trung cấp (chưa xét thăng hạng)

81

68

65

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

Nhiều cán bộ đã được cử tham gia một số lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ như: Tập huấn nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy rừng; Tập huấn nghiệp vụ xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng; Tập huấn nghiệp vụ về theo dõi diễn biến tài nguyên rừng,…

Trình độ tin học của đội ngũ nhân lực chủ yếu tập trung ở mức cơ bản và trung cấp; năng lực ngoại ngữ (tiếng Anh) chủ yếu dừng ở bậc B1, không có trường hợp đạt từ B2 trở lên và vẫn còn một tỷ lệ nhất định chưa biết ngoại ngữ. Trong đó nhóm “chưa biết ngoại ngữ” bao gồm một bộ phận viên chức là người đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện được miễn yêu cầu ngoại ngữ theo quy định.

Bảng 4: Trình độ tin học và ngoại ngữ của lực lượng Kiểm lâm và quản lý bảo vệ rừng

Năm

Tin học

Ngoại ngữ

Cơ bản (Word,

Excel)

Trung cấp

(ứng dụng

chuyên môn, GIS)

Nâng cao (phân tích

dữ liệu, phần mềm

chuyên sâu)

Chưa biết ngoại ngữ

Trình độ

A1-A2

Trình độ

B1

Trình độ

B2 trở lên

2023

106

51

0

15

16

128

0

2024

113

52

0

23

17

125

0

2025

114

52

0

23

17

126

0

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

Nguyên nhân của thực trạng trên chủ yếu xuất phát từ tính chất công việc thiên về thực địa, chưa đặt nặng yêu cầu sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin ở mức chuyên sâu; cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo nâng cao còn hạn chế; chính sách khuyến khích học tập chưa đủ mạnh; đồng thời điều kiện công tác tại vùng sâu, vùng xa cũng ảnh hưởng đến khả năng học tập, bồi dưỡng và cập nhật kỹ năng mới của đội ngũ nhân lực. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng xử lý thông tin trong quản lý, bảo vệ rừng, hạn chế việc tiếp cận tài liệu quốc tế và tham gia hợp tác, khiến năng lực cập nhật kiến thức và hội nhập còn yếu, làm giảm hiệu quả công việc và cản trở quá trình hiện đại hóa ngành.

Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 48/2023/NĐ-CP ngày 17/7/2023 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định 90/2020/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/9/2023 đã quy định cụ thể hệ thống tiêu chí và mức độ đánh giá theo hướng chặt chẽ, minh bạch. Theo đó, việc đánh giá hằng năm được phân thành 4 mức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ; và Không hoàn thành nhiệm vụ.

Bảng 5: Tổng hợp đánh giá xếp loại viên chức, người lao động

ĐVT: Người

Năm

Tổng số

Mức độ phân loại đánh giá

Không đánh giá

do thời gian

công tác chưa đủ 6 tháng

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Hoàn thành tốt nhiệm vụ

Hoàn thành nhiệm vụ

Không hoàn thành nhiệm vụ

2023

159

27

127

4

1

0

2024

165

29

123

1

0

12

2025

166

32

134

0

0

0

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính, KBT

Kết quả đánh giá, xếp loại viên chức và người lao động trong thời gian qua cho thấy phần lớn cán bộ đều hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kết quả này phản ánh đội ngũ nhân lực có tinh thần trách nhiệm, kinh nghiệm thực tiễn và thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn. Số trường hợp hoàn thành nhiệm vụ hoặc không hoàn thành nhiệm vụ rất ít, chủ yếu do năng lực thực hiện công việc còn hạn chế hoặc chưa đáp ứng yêu cầu ở một số thời điểm. Riêng năm 2024 có 12 trường hợp không được đánh giá do thời gian công tác chưa đủ 6 tháng, chủ yếu là viên chức mới được tuyển dụng hoặc tiếp nhận về đơn vị.

Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Hạt Kiểm lâm

Các yếu tố khách quan

Các chế độ, chính sách của Nhà nước

Hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững, chế độ tiền lương, phụ cấp nghề nghiệp, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực. Những chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch, thăng hạng góp phần tạo động lực cho cán bộ, viên chức nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Tuy nhiên, một số chính sách còn chậm được điều chỉnh; chế độ đãi ngộ đối với lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ rừng chưa thật sự tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của nghề nên phần nào ảnh hưởng đến động lực làm việc và khả năng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của đơn vị và địa phương

KBT có diện tích quản lý rộng, địa hình phức tạp, nhiều khu vực rừng sâu, giao thông khó khăn, gây áp lực lớn cho lực lượng quản lý, bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, tình trạng xâm lấn đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, săn bắt động vật hoang dã vẫn còn diễn biến phức tạp. Điều kiện kinh tế - xã hội của một bộ phận người dân sống ven rừng còn khó khăn cũng làm gia tăng nguy cơ tác động đến tài nguyên rừng, từ đó đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng nguồn nhân lực kiểm lâm và bảo vệ rừng.

Đặc thù ngành Kiểm lâm và đặc thù của Khu bảo tồn

Kiểm lâm là lĩnh vực có tính chất đặc thù, thường xuyên làm việc trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm, đòi hỏi cán bộ phải có sức khỏe, tinh thần trách nhiệm cao và kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn tốt. Đối với KBT, ngoài nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng còn phải thực hiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phối hợp với cộng đồng dân cư địa phương. Điều này yêu cầu đội ngũ nhân lực phải có kiến thức chuyên môn đa dạng và khả năng thích ứng cao.

Các yếu tố chủ quan

Nhận thức của nguồn nhân lực trong lĩnh vực kiểm lâm và bảo vệ rừng

Đa số cán bộ, viên chức của đơn vị có tinh thần trách nhiệm và ý thức nâng cao trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận chưa chủ động tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực, còn tâm lý ngại thay đổi hoặc chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Chất lượng công tác đánh giá nhân lực hằng năm

Công tác đánh giá cán bộ, viên chức có vai trò quan trọng trong việc xác định năng lực, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của từng cá nhân. Nếu công tác đánh giá được thực hiện khách quan, đúng thực chất sẽ tạo động lực phấn đấu và làm cơ sở bố trí, sử dụng nhân lực hiệu quả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc đánh giá còn mang tính hình thức, chưa phản ánh đầy đủ năng lực thực tế và hiệu quả công việc.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân lực

Những năm qua, đơn vị đã quan tâm cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Tuy nhiên, một số chương trình đào tạo chuyên sâu chưa được triển khai đầy đủ; việc tham gia các lớp bồi dưỡng của lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách còn chưa đồng bộ. Ngoài ra, công tác bố trí, sử dụng nhân lực ở một số vị trí đôi khi chưa thật sự phù hợp với năng lực chuyên môn của cán bộ.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị và môi trường làm việc

Trang thiết bị phục vụ tuần tra, bảo vệ rừng, ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện làm việc và điều kiện sinh hoạt tại các trạm bảo vệ rừng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công việc và chất lượng nguồn nhân lực. Nếu cơ sở vật chất còn thiếu thốn sẽ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nhiệm vụ, tâm lý và động lực làm việc của cán bộ, nhân viên.

Yếu tố sức khỏe và áp lực công việc

Lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ rừng thường xuyên làm việc ngoài hiện trường, chịu áp lực cao về thời gian, khối lượng công việc và nguy cơ đối mặt với các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Vì vậy, sức khỏe thể chất, tinh thần và khả năng chịu áp lực là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

Trong giai đoạn 2023-2025, KBT tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đơn vị chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực đội ngũ Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, góp phần đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên rừng trong bối cảnh tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển lâm nghiệp bền vững.

Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác phát triển nguồn nhân lực của đơn vị trong thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực. Đội ngũ cán bộ, viên chức cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tỷ lệ hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ luôn chiếm trên 95%, trình độ chuyên môn từng bước được chuẩn hóa. Tuy nhiên, nguồn nhân lực vẫn còn một số hạn chế như số lượng nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu quản lý diện tích rừng lớn, còn thiếu ở một số vị trí việc làm; tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học còn thấp; kỹ năng ngoại ngữ, công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ chuyên sâu còn hạn chế; điều kiện làm việc và chính sách đãi ngộ chưa thực sự tương xứng với tính chất đặc thù của nghề.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị về bổ sung và phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và hoàn thiện chính sách sử dụng, đãi ngộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học tại KBT.

Một số khuyến nghị

Hoàn thiện công tác quy hoạch, tuyển dụng và bố trí nhân lực

Cần tiếp tục rà soát, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng phòng, đơn vị trực thuộc KBT. Trên cơ sở vị trí việc làm và nhu cầu thực tế, đơn vị cần xây dựng kế hoạch tuyển dụng phù hợp nhằm bổ sung nhân lực còn thiếu, đặc biệt là tại các trạm bảo vệ rừng trực thuộc hiện đang thiếu số lượng lớn nhân lực thực hiện nhiệm vụ trực tiếp ngoài hiện trường.

Bên cạnh đó, cần ưu tiên tuyển dụng nguồn nhân lực trẻ có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực lâm nghiệp, quản lý tài nguyên rừng, đa dạng sinh học nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đồng thời, việc bố trí, sử dụng cán bộ cần phù hợp với năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và điều kiện sức khỏe của từng cá nhân.

Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

Đơn vị cần tiếp tục tạo điều kiện cho cán bộ, viên chức tham gia các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn ngạch như Kiểm lâm viên, Kiểm lâm viên chính, Quản lý bảo vệ rừng viên và các lớp bồi dưỡng QLNN.

Đồng thời, cần mở rộng và đa dạng hóa nội dung bồi dưỡng chuyên sâu như: nghiệp vụ điều tra hình sự kiểm lâm; kỹ năng xử lý vi phạm hành chính; huấn luyện võ thuật, kỹ năng tự vệ; nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy rừng; ứng dụng GIS, viễn thám và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên rừng; kỹ năng tuyên truyền, giáo dục môi trường và làm việc với cộng đồng dân cư.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng cần bảo đảm việc tham gia tập huấn được thực hiện đồng bộ, thường xuyên nhằm nâng cao kỹ năng thực tiễn và khả năng phối hợp với lực lượng Kiểm lâm trong công tác tuần tra, bảo vệ rừng.

Nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ và năng lực ứng dụng công nghệ

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập hiện nay, KBT cần chú trọng nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ, viên chức, đặc biệt là khả năng sử dụng các phần mềm chuyên ngành, phần mềm theo dõi diễn biến rừng, hệ thống cảnh báo cháy rừng và cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên rừng.

Bên cạnh đó, cần khuyến khích cán bộ học tập, nâng cao trình độ ngoại ngữ nhằm phục vụ công tác hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học, tiếp cận tài liệu chuyên ngành và thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai.

Đổi mới công tác đánh giá, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực

Công tác đánh giá cán bộ, viên chức cần được thực hiện khách quan, công khai, gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ và vị trí việc làm. Kết quả đánh giá phải được sử dụng làm căn cứ cho công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, nâng ngạch và khen thưởng.

Đồng thời, cần quan tâm hơn đến chế độ chính sách, điều kiện làm việc và đời sống của lực lượng Kiểm lâm, bảo vệ rừng chuyên trách, nhất là đối với cán bộ công tác tại vùng sâu, vùng xa, thường xuyên làm việc trong điều kiện nguy hiểm. Việc thực hiện đầy đủ chế độ phụ cấp nghề nghiệp, hỗ trợ trang thiết bị và chăm sóc sức khỏe sẽ góp phần tạo động lực làm việc và giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và cải thiện môi trường làm việc

Đơn vị cần tiếp tục đầu tư phương tiện tuần tra, trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Đồng thời, cần cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt tại các trạm bảo vệ rừng. Ngoài ra, cần xây dựng môi trường làm việc đoàn kết, kỷ luật, hỗ trợ lẫn nhau; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm tạo động lực phấn đấu cho đội ngũ viên chức và người lao động.

Tăng cường phối hợp và huy động các nguồn lực hỗ trợ

KBT cần đẩy mạnh phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, các trường đại học, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, tổ chức bảo tồn và chính quyền địa phương để tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn chuyên sâu và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn.

Bên cạnh đó, cần tranh thủ các chương trình, dự án hỗ trợ trong và ngoài nước liên quan đến bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, chuyển đổi số và phát triển lâm nghiệp bền vững nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2019). Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 1/1/2019 về Kiểm lâm và Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.

2. Chính phủ (2024). Nghị định số 159/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 01/2019/NĐ-CP về Kiểm lâm và Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.

3. Đoàn Thị Hân, Bùi Hồng Hạnh (2022). Nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực kiểm lâm trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Tạp chí Khoa học và Công nghệ lâm nghiệp, số 7-2022.

4. Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (2026). Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy của Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai.

5. Phùng Văn Khoa và cộng sự (2020). Thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường. Tài liệu hội thảo đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành lâm nghiệp: thành tựu và định hướng phát triển. Trường Đại học Lâm nghiệp.

Ngày nhận bài: 20/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/9/2026; Ngày duyệt đăng: 14/9/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn là một trong những vấn đề trung tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ cho tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, khả năng sinh lời, mức độ tự chủ tài chính, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của doanh nghiệp.