Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 09:28 | 16/09/2026
Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.

TS. Phạm Văn Hiển

Trường Sĩ quan Pháo binh, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa

Email: [email protected]

Tóm tắt

Phát triển nguồn nhân lực số là yêu cầu quan trọng đối với quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số ở Việt Nam. Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực số trên 3 phương diện: số lượng, chất lượng và cơ cấu. Kết quả cho thấy, nguồn nhân lực số ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, quy mô ngày càng mở rộng, chất lượng từng bước được nâng lên và cơ cấu đào tạo có sự chuyển dịch theo hướng đáp ứng yêu cầu của các lĩnh vực công nghệ mới. Tuy nhiên, nguồn nhân lực số vẫn còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng và kỹ năng, đồng thời chưa hợp lý về cơ cấu ngành nghề và phân bố. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia.

Từ khóa: Nguồn nhân lực số, chuyển đổi số, kinh tế số, Việt Nam

Abstract

The development of digital human resources is an important requirement for digital transformation and the development of the digital economy in Viet Nam. This study assesses the current state of digital human resource development across three dimensions: quantity, quality, and structure. The findings show that digital human resources in Viet Nam have undergone positive changes, with the size of the workforce continuing to expand, quality gradually improving, and the training structure shifting towards meeting the requirements of emerging technology sectors. However, digital human resources remain insufficient in quantity, limited in quality and skills, and imbalanced in terms of occupational structure and distribution. On this basis, the study proposes solutions to improve the quality of digital human resources and meet the requirements of digital economy development and national digital transformation.

Keywords: Digital human resources, digital transformation, digital economy, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, năng lực số ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực và là yếu tố góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.

Nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Việt Nam đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghị quyết số 57-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024).

Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế số đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về quy mô, trình độ, kỹ năng và cơ cấu của lực lượng lao động. Khoảng cách giữa năng lực của nguồn nhân lực hiện có và yêu cầu của các công nghệ mới, sự thay đổi nhanh chóng của kỹ năng nghề nghiệp, cũng như yêu cầu gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động đang trở thành những vấn đề cần được quan tâm. Vì vậy, nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC SỐ Ở VIỆT NAM

Kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số, nguồn nhân lực số của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Về số lượng

Việt Nam hiện vẫn đang trong thời kỳ dân số vàng với lực lượng lao động dồi dào. Dân số Việt Nam năm 2025 là 102,1 triệu người, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt khoảng 53,5 - 53,8 triệu người, chiếm khoảng 67% dân số, tạo ra nguồn cung lao động lớn cho phát triển kinh tế số. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế số, quy mô nguồn nhân lực số trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông cũng tăng nhanh. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), đến cuối năm 2024 nước ta có 73.788 doanh nghiệp công nghệ số, tăng 10,1 % so với năm 2023; lĩnh vực thông tin và truyền thống sử dụng khoảng 1,26 triệu lao động, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có lực lượng lao động công nghệ số lớn ở Đông Nam Á. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp công nghệ số đạt gần 158 tỷ USD, tăng 10,2 % so với năm trước, phản ánh nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn nhân lực số chất lượng cao. Bên cạnh đó, hệ thống đào tạo nhân lực số tiếp tục được mở rộng. Cả nước hiện có 168 cơ sở giáo dục đại học, 520 cơ sở giáo dục nghệ nghiệp tham gia đào tạo các ngành công nghệ thông tin; mỗi năm cung cấp khoảng 84.000 sinh viên tốt nghiệp (trong đó có 50.000 sinh viên tốt nghiệp có trình độ đại học, 34.000 sinh viên có trình độ cao đẳng, trung cấp) (Thu Hằng, 2025). Đây là nguồn bổ sung quan trọng cho thị trường lao động trong những năm tới.

Về chất lượng

Chất lượng nguồn nhân lực số của Việt Nam từng bước được cải thiện thông qua đổi mới giáo dục, tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số. Nhiều trường đại học đã mạnh dạn mở các các mã ngành đào tạo về trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, an ninh mạng, điện toán đám mây, bán dẫn, internet vạn vật (IoT), thiết kế vi mạch…, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực. Đặc biệt, chất lượng đào tạo nhân lực số ngày càng được chú trọng theo hướng gắn liền với nhu cầu doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lớn như FPT, Viettel, CMC và các tập đoàn công nghệ quốc tế đã tăng cường hợp tác với các trường đại học trong đào tạo, thực tập, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động.

Bên cạnh đó, năng lực tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới của người lao động cũng được cải thiện rõ rệt. Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ ứng dụng AI trong công việc ở mức cao trong khu vực, nhiều doanh nghiệp đã đưa AI vào hoạt động quản trị, sản xuất và cung ứng dịch vụ góp phần nâng cao năng xuất lao động và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đồng thời, đội ngũ kỹ sư công nghệ thông tin của Việt Nam cũng ngày càng khằng định được năng lực trên thị trường quốc tế thông qua việc phát triển các sản phẩm công nghệ, phần mềm và dịch vụ số cho nhiều tập đoàn lớn trên thế giới.

Về cơ cấu nguồn nhân lực số

Cơ cấu nguồn nhân lực số đang có sự dịch chuyển theo hướng phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số. Tỷ trọng lao động trong các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, thương mại điện tử, tài chính số, logistic số, sản xuất thông mình và các ngành ứng dụng công nghệ số ngày càng tăng. Đồng thời, cơ cấu đào tạo cũng có sự chuyển dịch theo hướng ưu tiên các công nghệ cao. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu nhân lực số cho nền kinh tế số, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, Quyết định số 1002/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035 và định hướng tới năm 2045 đã đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo khoảng 100.000 sinh viên công nghệ thông tin tốt nghiệp mỗi năm, nâng tỷ lệ sinh viên theo học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học lên khoảng 35% tổng quy mô đào tạo đại học và từng bước hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, dữ liệu lớn và an ninh mạng (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Đây là những định hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Một số vấn đề đặt ra

Mặc dù vậy, nguồn nhân lực số vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia. Một số vấn đề nổi bật đặt ra gồm:

Thứ nhất, thiếu hụt về số lượng, đặc biệt là nhân lực công nghệ cao. Quy mô nguồn nhân lực số chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường lao động, nhất là nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ lõi như AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, an ninh mạng, Blockchain và tự động hóa. Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 500.000 lao động công nghệ cao, trong khi nhu cầu dự kiến lên tới 2 triệu người vào năm 2030 (Thu Hằng, 2025).

Thứ hai, chất lượng và kỹ năng của nguồn nhân lực số còn hạn chế. Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ có xu hướng tăng, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn; đội ngũ nhân lực công nghệ cao còn mỏng và chưa được đào tạo chuyên sâu. Một bộ phận lao động còn thiên về lý thuyết, hạn chế về kỹ năng thực hành, khả năng ứng dụng công nghệ mới, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường số. Bên cạnh đó, các kỹ năng làm việc nhóm, ngoại ngữ, giao tiếp, khả năng thích ứng với thay đổi, tác phong và ý thức kỷ luật lao động cũng còn những hạn chế nhất định. Thể lực, sức khỏe nghề nghiệp và khả năng chịu áp lực của một bộ phận người lao động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công việc trong môi trường số có cường độ cao và tính cạnh tranh ngày càng lớn.

Thứ ba, cơ cấu và phân bố nguồn nhân lực số chưa thực sự hợp lý. Nhân lực số còn tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn và một số lĩnh vực công nghệ thông tin, trong khi nhiều địa phương và ngành kinh tế vẫn thiếu lao động có kỹ năng số. Sự mất cân đối giữa cơ cấu đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu nhân lực ở các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin dự báo cung - cầu lao động chưa hoàn thiện, trong khi cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục, đào tạo và chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực này còn bất cập, chưa tạo được động lực đủ mạnh cho phát triển nguồn nhân lực số.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC SỐ Ở VIỆT NAM

Hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển nguồn nhân lực số

Xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực số; đổi mới cơ chế thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn; đồng thời nâng cao năng lực dự báo nhu cầu nhân lực để chủ động điều chỉnh chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của nền kinh tế số.

Đổi mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực số

Nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động; chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực có nhu cầu nhân lực cao như khoa học và công nghệ, AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng và bán dẫn; đồng thời đẩy mạnh đào tạo lại, đào tạo nâng cao và cập nhật kỹ năng số cho người lao động.

Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp

Thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình, đào tạo, thực tập và đánh giá năng lực người học; mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo theo nhu cầu thực tiễn. Qua đó, thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động, nâng cao khả năng thích ứng của nguồn nhân lực số với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ.

Phát triển nguồn nhân lực số theo cơ cấu hợp lý

Điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp với nhu cầu của từng ngành, lĩnh vực và trình độ; ưu tiên phát triển nhân lực chất lượng cao trong các công nghệ mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo và phân bổ nhân lực số cho các ngành kinh tế và địa phương còn thiếu hụt. Tăng cường kết nối thông tin về cung - cầu lao động nhằm hạn chế tình trạng mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện để người học và người lao động tiếp cận tri thức, công nghệ và chuẩn kỹ năng quốc tế. Đồng thời, thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển các môi trường làm việc có khả năng thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số và năng lực cạnh tranh quốc gia.

KẾT LUẬN

Phát triển nguồn nhân lực số là yếu tố then chốt để thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực về quy mô, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nguồn nhân lực số vẫn còn những hạn chế về chất lượng, kỹ năng, cơ cấu và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, đổi mới giáo dục và đào tạo, phát triển kỹ năng số, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nguồn nhân lực số chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số và thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Các doanh nghiệp “Sản xuất tại Việt Nam” là “động lực” của nền kinh tế số Việt Nam. https://english.mst.gov.vn/make-in-vietnam-enterprises-are-locomotive-of-vns-digital-economy-197250115142307602.htm?

3. Thu Hằng (2025). Không tăng tốc đào tạo, Việt Nam sẽ khủng hoảng thiếu hàng triệu nhân lực công nghệ cao. https://vneconomy.vn/khong-tang-toc-dao-tao-viet-nam-se-khung-hoang-thieu-hang-trieu-nhan-luc-cong-nghe-cao.htm.

4. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025 phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035 và định hướng tới năm 2045.

Ngày nhận bài: 17/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/8/2026; Ngày duyệt đăng: 9/9/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn là một trong những vấn đề trung tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ cho tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, khả năng sinh lời, mức độ tự chủ tài chính, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của doanh nghiệp.