Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh
ThS. Phạm Thị Vân Anh
Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu
Email: [email protected]
Tóm tắt
Kinh tế biển là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của Việt Nam. Đối với Quảng Ninh, với lợi thế về vị trí địa kinh tế, tài nguyên biển, hệ thống cảng biển, khu kinh tế ven biển và di sản thiên nhiên thế giới, kinh tế biển ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nghiên cứu phân tích trạng phát triển kinh tế biển ở Quảng Ninh, trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng nhằm tiếp tục phát huy kinh tế biển, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững của địa phương.
Từ khóa: Kinh tế biển, động lực phát triển, phát triển bền vững, Quảng Ninh
Abstract
The marine economy is one of the key drivers of green growth and sustainable development in Viet Nam. In Quang Ninh Province, its strategic geoeconomic location, marine resources, seaport system, coastal economic zones, and World Natural Heritage sites provide significant advantages for the development of the marine economy, which has increasingly played a key role in the province’s socio-economic development. The study analyzes the current state of marine economic development in the province and proposes several development orientations to further leverage the potential of the marine economy and contribute to achieving the province’s goals of rapid, green, and sustainable development.
Keywords: Marine economy, development drivers, sustainable development, Quang Ninh Province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Trên cơ sở quán triệt chủ trương của Trung ương, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI xác định, phát triển kinh tế biển là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, gắn với mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại của khu vực phía Bắc; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy khai thác đơn ngành sang phát triển đa ngành, tăng trưởng xanh và quản trị tổng hợp không gian biển. Định hướng đó đã được cụ thể hóa bằng nhiều chương trình, đề án và chính sách phát triển hạ tầng chiến lược, dịch vụ cảng biển và logistics, du lịch biển - đảo, nuôi biển công nghệ cao, công nghiệp ven biển và kinh tế cửa khẩu, góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đang đặt ra một số vấn đề khó khăn, thách thức, đòi hỏi cần có các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa tiềm năng và lợi thế biển trong giai đoạn phát triển mới của Quảng Ninh.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở QUẢNG NINH
Đối với Quảng Ninh, lợi thế nổi trội không chỉ nằm ở việc sở hữu trên 250 km đường bờ biển, hơn 2.000 hòn đảo cùng hệ thống vịnh, bãi triều, cửa sông và vùng biển rộng lớn (Đặng Dung, 2025), mà còn ở khả năng kết nối giữa không gian biển với không gian đất liền, giữa phát triển kinh tế biển với kinh tế cửa khẩu và hành lang kinh tế ven biển Bắc Bộ. Đây là địa phương duy nhất ở miền Bắc đồng thời hội tụ Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, cửa khẩu quốc tế Móng Cái và hệ thống cảng biển tổng hợp, tạo nên lợi thế phát triển đa ngành mà ít địa phương có được. Chính sự hội tụ này đã làm cho biển không còn là ranh giới tự nhiên, mà trở thành không gian liên kết giữa các cực tăng trưởng của tỉnh với vùng Đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải Bắc Bộ và thị trường Đông Bắc Á.
Đặc biệt, để tạo nền tảng phát triển kinh tế biển, ngày 23/4/2019, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (từ 1/9/2026 là TP. Quảng Ninh) đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn Tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 khẳng định sự kiên định và quyết tâm của tỉnh trong thực hiện mục tiêu trở thành địa phương mạnh từ biển, giàu từ biển. Ngay sau khi Nghị quyết số 15-NQ/TU ra đời, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã thành lập ngay Ban Chỉ đạo phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đồng thời tổ chức phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Tỉnh ủy, người đứng đầu cấp ủy các sở, ngành, địa phương, đơn vị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết. HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh đã tích cực cụ thể hóa, triển khai các nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh và Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát triển kinh tế biển; ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và đề ra các nhiệm vụ cụ thể để phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện theo lộ trình đề ra. Năm 2022, Tỉnh ủy Quảng Ninh tiếp tục ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 26/9/2022 về phát triển bền vững kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đặc biệt, trong Đề án thành lập TP. Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, Tỉnh đã xác định rất rõ, phát triển kinh tế biển không chỉ là khai thác lợi thế tự nhiên, mà là tái cấu trúc không gian phát triển, hình thành chuỗi giá trị kinh tế biển hiện đại, bền vững; là cửa ngõ trung chuyển của khu vực Đông Nam Á, một động lực phát triển của vùng và cả nước với hệ thống cảng biển nước sâu đồng bộ, hiện đại gắn với phát triển kinh tế chuỗi khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN), đô thị biển - ven biển dạng dải. Điểm khác biệt trong định hướng phát triển của Quảng Ninh là không phát triển đơn lẻ từng lĩnh vực, mà hướng tới chuỗi liên kết “cảng biển - khu kinh tế - khu công nghiệp - đô thị ven biển”. Triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ và sáng tạo nhiều giải pháp. Nhờ đó, kinh tế biển của Tỉnh đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP duy trì ở mức cao hai con số trong giai đoạn 2016-2025. Tổng thu ngân sách từ kinh tế biển giai đoạn 2020-2025 đạt trên 47.660 tỷ đồng, khẳng định vai trò ngày càng rõ nét của khu vực kinh tế này (Nguyễn Thanh, 2026).
Điểm nổi bật trong phát triển kinh tế biển của Quảng Ninh là sự chuyển đổi tư duy từ khai thác không gian biển sang tổ chức không gian phát triển biển. Thay vì phát triển từng ngành kinh tế biển riêng lẻ, Tỉnh từng bước hình thành các không gian phát triển có tính tích hợp, trong đó du lịch biển - đảo, dịch vụ cảng biển, logistics, công nghiệp ven biển, nuôi biển công nghệ cao và kinh tế cửa khẩu được quy hoạch theo hướng bổ trợ, liên kết và tạo giá trị gia tăng lẫn nhau. Hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược gồm cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, Hạ Long - Vân Đồn, Vân Đồn - Móng Cái, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, các cảng biển và mạng lưới logistics đã rút ngắn khoảng cách không gian, tăng cường khả năng kết nối giữa các khu vực ven biển với nội địa, đồng thời mở rộng khả năng liên kết vùng và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, hệ thống khu công nghiệp của Tỉnh được quy hoạch dọc các trục giao thông chiến lược. Hiện Quảng Ninh quy hoạch 25 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 18.500ha, tập trung tại khu vực Quảng Yên, Hạ Long, Hải Hà và Móng Cái (Mạnh Trường, 2026). Phần lớn các khu công nghiệp đều nằm gần cao tốc, cảng biển, cửa khẩu, hoặc sân bay, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển nguyên liệu, lưu thông hàng hóa và xuất, nhập khẩu. Đây cũng là nguồn “chân hàng” quan trọng để phát triển các trung tâm logistics, kho bãi và dịch vụ phân phối quy mô lớn. Thực tế cho thấy, dư địa phát triển lĩnh vực này vẫn còn rất lớn. Toàn Tỉnh hiện có 738 doanh nghiệp tham gia hoạt động trong lĩnh vực logistics, cùng 23 đại lý tàu biển và 10 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lai dắt, hỗ trợ tàu biển (Thu Hoài, 2026). Hệ thống cảng biển là một trong những nền tảng quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của kinh tế biển Quảng Ninh. Từ khu vực cảng Con Ong - Hòn Nét đến Cái Lân..., hoạt động bốc dỡ, chuyển tải và vận chuyển hàng hóa diễn ra ngày càng sôi động, kết nối Quảng Ninh với các trung tâm kinh tế trong nước và quốc tế.
Hiện Quảng Ninh có 15 cảng biển, 44 cầu cảng và 3 bến phao; 11 tuyến luồng như: Hòn Gai - Cái Lân, Cẩm Phả, Vạn Gia… Các cảng biển phát huy tốt năng lực nội tại khi liên tục tiếp nhận các tàu lớn, trong đó tàu lớn nhất có trọng tải 120.000 tấn tại khu neo Hòn Nét - Cẩm Phả hay các tàu tổng hợp, container, rời có trọng tải đến 85.000 tấn giảm tải tại cầu bến (Thu Hoài, 2026). Hệ thống cảng nước sâu ngày càng được hoàn thiện, từng bước nâng cao năng lực tiếp nhận tàu trọng tải lớn. Tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng 5 năm gần đây (2020-2025) đạt khoảng 627,7 triệu tấn; bình quân đạt 124,1 triệu tấn/năm, vượt mục tiêu đến năm 2025 của Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 23/4/2019 của Tỉnh ủy. Tổng lưu lượng hành khách vận tải biển (khách du lịch qua cảng) từ năm 2019 đến hết năm 2025 trên 293.000 lượt khách, đạt mục tiêu của kế hoạch đề ra đến năm 2025 (Mạnh Trường, 2026).
Bên cạnh phát triển cảng biển, du lịch biển trên địa bàn Tỉnh cũng là điểm nhấn nổi bật trong phát triển kinh tế biển. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, năm 2025, Quảng Ninh đón trên 21 triệu lượt khách - mức cao nhất từ trước tới nay, vượt hơn 2 triệu khách so với năm trước. Trong đó, sản phẩm du lịch biển đảo vẫn là mũi nhọn trong phát triển du lịch biển trên địa bàn Tỉnh. Theo đó, đứng đầu vẫn là vịnh Hạ Long với, khoảng 3,4 triệu lượt khách (Nguyễn Hùng, 2025). Du lịch tàu biển năm 2025 tiếp tục sôi động, với hàng chục chuyến tàu biển quốc tế cập vịnh Hạ Long của các hãng tàu biển lớn, với những con tàu siêu sang, như: Costa Serena, Celebrity Solstice, Mein Schiff 6, Pacific World… và mở lại tuyến Hạ Long - Quảng Châu. Nhìn chung, lĩnh vực du lịch ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi giai đoạn 2020-2025 tăng trưởng bình quân 21,2%/năm, trong 6 tháng đầu năm 2026, Quảng Ninh đón hơn 12,4 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt hơn 2,6 triệu lượt; doanh thu du lịch đạt gần 35.200 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2025... (Thu Hoài, 2026).
Cùng với cảng biển và du lịch, Quảng Ninh đang mở rộng các hoạt động kinh tế trên biển theo hướng đa dạng hơn, trong đó nuôi trồng thủy sản là một lĩnh vực giàu tiềm năng. Nhìn chung, ngành thủy sản phát triển toàn diện cả về nuôi trồng, khai thác và chế biến. Ngành thủy sản cũng chuyển dần từ khai thác sang nuôi trồng bền vững. Theo báo cáo của Chi cục Biển, Hải đảo và Thuỷ sản, Kiểm ngư tỉnh Quảng Ninh, năm 2025, sản lượng thủy sản toàn tỉnh Quảng Ninh đạt trên 181.300 tấn, khẳng định nỗ lực của ngành nông nghiệp và sự chủ động thích ứng của ngư dân trước tác động bất lợi của thời tiết, thị trường. Giai đoạn 2021-2025, tổng sản lượng thủy sản của Tỉnh ước đạt khoảng 830 nghìn tấn. Tỷ trọng nuôi trồng tăng từ 49,4% năm 2020 lên khoảng 56,5% năm 2025; nhiều mô hình nuôi biển bằng lồng HDPE, nuôi đa loài, nuôi tuần hoàn và nuôi nhuyễn thể tập trung được triển khai. Có thể thấy, những mô hình nuôi biển kết hợp trồng rong, nuôi hàu và phát triển du lịch trải nghiệm tại Vân Đồn… cho thấy tư duy mới trong khai thác tài nguyên. Thay vì phát triển riêng lẻ từng lĩnh vực, các mô hình đang hướng tới kết hợp sản xuất, dịch vụ và bảo vệ môi trường, tạo ra nhiều giá trị trên cùng một không gian biển. Việc ban hành quy chuẩn về vật liệu nổi thân thiện môi trường, thành lập Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần, bảo vệ bãi sinh sản và tái tạo nguồn lợi thủy sản cho thấy cách tiếp cận đang thay đổi: biển không chỉ là không gian để khai thác, mà còn là hệ sinh thái cần được phục hồi, gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau.
Cùng với phát triển các thế mạnh từ biển, công tác bảo vệ môi trường biển được triển khai quyết liệt, tiêu biểu là việc hoàn thành thay thế 10 triệu quả phao xốp bằng vật liệu HDPE. Tỉnh đã quy hoạch 3 khu bảo tồn biển, 13 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản quý hiếm và 4 vùng cấm khai thác có thời hạn. Đến nay, 100% hộ dân tại các xã đảo có điện sinh hoạt, được cấp thẻ BHYT; đồng thời tỉnh chú trọng phát triển nguồn nhân lực và xây dựng văn hóa biển (Nguyễn Thanh, 2026).
Một số vấn đề đặt ra
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng sự phát triển kinh tế biển của Quảng Ninh chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có của Tỉnh. Tỷ trọng đóng góp của các ngành kinh tế biển trong thu ngân sách và quy mô nền kinh tế của tỉnh chưa tương xứng với vị trí địa lý của một địa phương có lợi thế cạnh tranh nổi trội, với hơn 250 km chiều dài bờ biển. Ngoài ra, những quy định hành lang, pháp lý về hàng hải, cảng biển chưa đầy đủ; do thiếu nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc trong lĩnh vực cảng biển và dịch vụ cảng biển. Việc đầu tư vào kết cấu hạ tầng hàng hải cần nguồn vốn lớn, trong khi các cơ chế, chính sách của Tỉnh chưa đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư trong các ngành kinh tế biển, đặc biệt là cảng biển, dịch vụ cảng biển và logistics…
Đặc biệt, một thách thức đặt ra trong quá trình phát triển mạnh mẽ của du lịch biển tỉnh Quảng Ninh, đó là vào những ngày cao điểm, hàng chục nghìn du khách cùng đổ về khu vực ven biển, tàu du lịch nối nhau rời bến, khách sạn và nhà hàng hoạt động hết công suất. Điều này tạo ra lượng rác thải, nước thải và áp lực lớn lên cảnh quan, môi trường biển. Khi đó, mặt biển vốn là tài sản quý giá nhất của du lịch lại có nguy cơ trở thành nơi trực tiếp gánh chịu hệ quả của tăng trưởng. Đây cũng là bài toán khó mà Quảng Ninh phải giải quyết trong quá trình phát triển kinh tế biển. Việc mở rộng không gian du lịch, xây dựng đô thị, khu nghỉ dưỡng và các công trình ven biển có thể tạo thêm động lực tăng trưởng, nhưng đồng thời làm gia tăng nguy cơ thu hẹp rừng ngập mặn, bãi triều và nơi cư trú của nhiều loài sinh vật.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Quảng Ninh đã định hướng phát triển theo hướng xanh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc; mở rộng không gian tăng trưởng với động lực là khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, phát triển đồng bộ kinh tế xanh, kinh tế di sản, kinh tế biển và kinh tế biên giới. Để hiện thực hóa những định hướng này trong phát triển kinh tế biển, Quảng Ninh cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Xây dựng một nền kinh tế biển hiện đại, có sức cạnh tranh và khả năng kết nối quốc tế; đồng thời hình thành những đô thị biển năng động, thông minh, thân thiện với môi trường. Trong đó, cần tiếp tục rà soát, tích hợp quy hoạch không gian biển vào Quy hoạch tỉnh, thúc đẩy chuyển đổi số với công nghệ GIS (hệ thống thông tin địa lý) và Big Data (dữ liệu lớn) trong quản lý tài nguyên biển, thu hút nguồn vốn FDI xanh và mở rộng diện tích các khu bảo tồn nhằm gia tăng khả năng hấp thụ carbon xanh.
Đối với du lịch biển, trước những yêu cầu phát triển mới, Quảng Ninh cần xác định chuyển mạnh du lịch biển từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy chất lượng dịch vụ, giá trị gia tăng và khả năng chi tiêu của du khách làm thước đo thay cho việc chỉ gia tăng số lượng khách; đặc biệt, hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng du lịch ngày càng đồng bộ; nhiều sản phẩm, dịch vụ và sự kiện du lịch mới được đưa vào khai thác, tạo thêm dư địa tăng trưởng bền vững cho du lịch Quảng Ninh”. Theo đó, trọng tâm mà du lịch Quảng Ninh hướng đến là hình thành các dòng sản phẩm có sức cạnh tranh cao như nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp, du thuyền, thể thao biển, du lịch đêm, du lịch văn hóa - tâm linh và trải nghiệm di sản tại vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, Vân Đồn, Cô Tô; qua đó kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng không gian tiêu dùng du lịch.
Đối với phát triển hạ tầng chiến lược, cảng biển và logistics, cần chú trọng đầu tư hoàn thiện hệ thống cảng biển, dịch vụ cảng biển và hạ tầng giao thông kết nối; Đẩy mạnh liên kết vùng, đặc biệt phối hợp với Hải Phòng xây dựng đề án phát triển trung tâm kinh tế biển hiện đại mang tầm quốc tế. Đề xuất và xây dựng khu thương mại tự do ven biển tại Vân Đồn để thu hút dòng vốn đầu tư công nghệ cao.
Ngoài ra, đổi mới nuôi trồng và khai thác thủy sản công nghệ cao. Theo đó, cần chuyển dịch mạnh mẽ sang nuôi biển công nghệ cao, thân thiện với môi trường; Phát triển công nghiệp chế biến thủy hải sản theo hướng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và bảo đảm an toàn thực phẩm.
Đặc biệt, cần gắn kinh tế biển với bảo vệ môi trường và sinh thái, theo đó cần kiên định mục tiêu không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; Nhân rộng các vật liệu thân thiện với môi trường (như thay thế phao xốp bằng HDPE); Quy hoạch và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2019). Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 23/4/2019 về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2022). Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 26/9/2022 về phát triển bền vững kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Chi cục Biển, Hải đảo và Thuỷ sản, Kiểm ngư tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo tại hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026, ngày 26/12/2025.
4. Đặng Dung (2025). Quảng Ninh hướng tới trung tâm kinh tế biển hiện đại, https://quangninh.gov.vn/chuyen-de/chuyendoiso/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=152693.
5. Mạnh Trường (2026). Kiến tạo cực tăng trưởng mới từ logistics và cảng biển, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/nongthonmoi/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=168434.
6. Nguyễn Hùng (2025). Những điểm du lịch đón nhiều khách nhất của Quảng Ninh năm 2025, https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/nhung-diem-du-lich-don-nhieu-khach-nhat-cua-quang-ninh-nam-2025-1632566.ldo
7. Nguyễn Thanh (2026). Phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, https://baoquangninh.vn/dong-luc-tang-truong-moi-cua-quang-ninh-post3393443.html
8. Thu Hoài (2026). Quảng Ninh phát triển kinh tế biển, https://baoquangninh.vn/quang-ninh-phat-trien-kinh-te-bien-post3420420.html
| Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/9/2026; Ngày duyệt đăng: 15/9/2026 |
Các tin khác
Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh
Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh
Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp