Quy mô vốn chủ sở hữu nhà nước và các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tài chính - Ngân hàng 07:55 | 21/05/2026 Phùng Việt Hà
Phân tích dựa trên mẫu dữ liệu gồm 35 ngân hàng, kết quả đạt được là cơ sở để nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro toàn diện phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

TS. Phùng Việt Hà

Trường Đại học Thương mại

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích tỷ lệ sở hữu nhà nước và các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam, dựa trên mẫu dữ liệu gồm 35 ngân hàng trong giai đoạn từ quý I/2020 đến quý IV/2025. Sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng, kết quả thực nghiệm cho thấy quy mô ngân hàng và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính. Ngược lại, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ sở hữu nhà nước tác động tiêu cực đáng kể đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Dưới góc độ lý thuyết đại diện, mức độ sở hữu nhà nước cao có thể khiến các ngân hàng ưu tiên thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội thay vì theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất cần từng bước giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước và tăng cường hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro toàn diện phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Từ khóa: Sở hữu nhà nước, hiệu quả tài chính, ngân hàng thương mại, dữ liệu bảng, quản trị rủi ro, khả năng sinh lời

Abstract

This study examines the impact of state ownership and financial factors on the financial performance of Vietnamese commercial banks, based on a dataset of 35 banks over the period from the first quarter of 2020 to the fourth quarter of 2025. Using panel data estimation methods, the empirical findings indicate that bank size and the equity-to-total-assets ratio positively affect financial performance. In contrast, the deposit-to-total-assets ratio, loan loss provision expenses, and state ownership ratio exert significant negative effects on bank profitability. From the perspective of agency theory, a high level of state ownership may lead banks to prioritize socio-economic objectives rather than profit maximization goals. Based on these findings, the study suggests gradually reducing state ownership and strengthening comprehensive risk management systems to enhance the operational efficiency of Vietnamese commercial banks.

Keywords: State ownership, financial performance, commercial banks, panel data, risk management, profitability

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập sâu rộng với kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tài chính. Để thực hiện các mục tiêu điều tiết kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, Nhà nước vẫn duy trì sở hữu vốn tại một số NHTM có quy mô lớn. Tuy nhiên, sự tham gia của Nhà nước trong hoạt động quản trị và điều hành ngân hàng có thể tạo ra những tác động đa chiều đến hiệu quả tài chính của các NHTM. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh vai trò hỗ trợ ổn định hệ thống tài chính và thực thi chính sách tiền tệ, sở hữu nhà nước cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh và khả năng tối đa hóa lợi nhuận của NHTM. Vì vậy, việc nghiên cứu tác động của quy mô sở hữu nhà nước đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng hiện nay.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung đánh giá mức độ ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến hiệu quả tài chính của các NHTM thông qua phân tích tác động của các yếu tố gồm tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP), tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (LTA), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DTA), quy mô ngân hàng (SIZE), sở hữu nhà nước (OWN) và tốc độ tăng trưởng GDP đến các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA). Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm điều chỉnh quy mô vốn chủ sở hữu nhà nước tại các NHTM Việt Nam theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (LTA) phản ánh mức độ tập trung tín dụng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính. Lee và Hsieh (2013) cho thấy LTA tác động tiêu cực đến ROA và ROE. Hassan và Bashir (2003) nhấn mạnh LTA cần được duy trì ở mức hợp lý nhằm cân bằng giữa lợi nhuận và thanh khoản.

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LLR) phản ánh chất lượng tín dụng và mức độ phòng ngừa rủi ro của ngân hàng. Lee và Hsieh (2013) xác nhận mối quan hệ ngược chiều giữa LLR và khả năng sinh lời. Tuy nhiên, Masood và Ansari (2016) lại cho rằng LLR có thể tác động tích cực đến lợi nhuận. Tại Việt Nam, Van và Huynh (2019) giải thích tác động này thông qua cơ chế “lá chắn thuế” và khả năng hoàn nhập dự phòng khi nợ xấu được xử lý hiệu quả.

Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DTA) đại diện cho nguồn vốn huy động chi phí thấp, góp phần mở rộng tín dụng và nâng cao hiệu quả tài chính (Klett và Weber, 2003). Tuy nhiên, việc gia tăng tiền gửi quá mức có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng thiếu kiểm soát, làm gia tăng rủi ro và suy giảm lợi nhuận (Acharya và Naqvi, 2012; Foos và cộng sự, 2010). Lee và Hsieh (2013) cùng Van và Huynh (2019) cho thấy DTA có tác động ngược chiều đến lợi nhuận khi ngân hàng đầu tư vào tài sản kém chất lượng hoặc chịu áp lực thanh khoản.

Quy mô ngân hàng (SIZE), đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả tài chính. Van và Huynh (2019) cho rằng mở rộng quy mô quá mức làm gia tăng chi phí quản lý và rủi ro hoạt động. Ngược lại, Wong và cộng sự (2005) nhấn mạnh các ngân hàng lớn có lợi thế về đa dạng hóa đầu tư, quản trị rủi ro và khả năng nắm giữ tài sản sinh lời cao. Trong bối cảnh Việt Nam, Lê Thanh Tâm và cộng sự(2017) cũng cho rằng quy mô lớn góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.

Sở hữu nhà nước (OWN) có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả tài chính. Iannotta và cộng sự (2007) cho thấy sở hữu nhà nước giúp cải thiện lợi nhuận ngân hàng. Tuy nhiên, Đỗ Hoài Linh và Vũ Kiều Trang (2019) nhận định tác động này không rõ rệt tại các ngân hàng có vốn nhà nước do được hỗ trợ mạnh về thanh khoản từ Chính phủ.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) là yếu tố vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. GDP tăng trưởng thúc đẩy nhu cầu tín dụng và cải thiện lợi nhuận của NHTM (Lee và Hsieh, 2013). Wong và cộng sự (2005) cho rằng môi trường kinh tế ổn định giúp ngân hàng mở rộng tài sản sinh lời và giảm áp lực rủi ro. Ngược lại, suy thoái kinh tế làm gia tăng rủi ro tín dụng và giảm lợi nhuận ngân hàng (Aktas và cộng sự, 2015). Tuy nhiên, Đỗ Hoài Linh và Vũ Kiều Trang (2019) cho rằng tăng trưởng GDP chưa có ý nghĩa thống kê rõ rệt đối với lợi nhuận ngân hàng tại Việt Nam.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU

Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hai biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả tài chính là ROE và ROA. Biến độc lập cốt lõi được đưa vào kiểm định là tỷ lệ vốn chủ sở hữu ngân hàng trên tổng tài sản (CAP), được kỳ vọng có mối tương quan dương (H1+) với hiệu quả tài chính dựa trên cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu của Altunbas và cộng sự (2007) hay Lee và Hsieh (2013). Bên cạnh đó, mô hình tích hợp một hệ thống các biến kiểm soát đa dạng nhằm đảm bảo tính toàn diện . Nhóm nhân tố đặc trưng nội tại của ngân hàng bao gồm: tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (LTA) và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LLR), cả hai đều được giả thuyết có tác động tích cực (H2+, H3+) ; quy mô ngân hàng (SIZE) tính theo quy mô tài sản cũng được kỳ vọng mang lại tác động thuận chiều (H5+); trong khi đó, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DTA) được giả thuyết có mối tương quan nghịch chiều (H4-) đến hiệu quả tài chính. Đối với các nhân tố bên ngoài và cấu trúc, biến sở hữu của nhà nước (OWN) được kỳ vọng tác động tích cực (H6+) dựa theo luận điểm của Iannotta và cộng sự (2007). Cuối cùng, biến vĩ mô tốc độ tăng trưởng GDP cũng được đưa vào mô hình với giả thuyết có tác động thuận chiều (H7+) đến hiệu quả tài chính của hệ thống ngân hàng [cite: 260]. Tất cả các giả thuyết này đều được kế thừa và đối chiếu trực tiếp từ các bằng chứng thực nghiệm uy tín trong và ngoài nước.

Dựa trên nghiên cứu gốc của Lee và Hsieh (2013), Dietrich và Wanzenried (2011), Dietrich và Wanzenried (2014) mô hình, với β0 là hệ số chặn, nghiên cứu được đề xuất như sau :

ROEit = β0 + β1CARit + β2LTAit + β3LLRit + β4DTAit + β5SIZEit + β6OWNit + β7GDPit + εit (MH1)

ROAit = β0 + β1CARit + β2LTAit + β3LLRit + β4DTAit + β5SIZEit + β6OWNit + β7GDPit + εit (MH2)

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

Để phân tích tác động của quy mô vốn chủ sở hữu nhà nước đến lợi nhuận của NHTM tại Việt Nam, bài nghiên cứu đã sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp của 35 NHTM (trong đó 31 NHTM cổ phần và 04 NHTM nhà nước) trong giai đoạn từ quý 1/2020 đến quý 4/2025. Các số liệu tính toán các chỉ số được thu thập từ Báo cáo tài chính đã kiểm toán của các ngân hàng trên trang thông tin chính thức của các NHTM này.

Kết quả thống kê từ mẫu nghiên cứu và số liệu từ Ngân hàng nhà nước cho thấy: tổng tài sản các ngân hàng trong mẫu chiếm 97,5% tổng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam. Như vậy, mẫu nghiên cứu có tính chất đại diện cao cho toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Phân tích hệ số tương quan

Theo Kennedy (2008), hệ số tương quan giữa 2 biến có giá trị tuyệt đối lớn hơn 0.8 thì xem như mô hình mắc khuyết tật đa cộng tuyến cao; đồng thời, hệ số ước lượng dễ mất ý nghĩa thống kê và đầu của chúng có thể ngược với kỳ vọng; kết quả ước lượng thiếu tin cậy.Theo kết quả phân tích ma trận hệ số tương quan, không có cặp hệ số tương quan nào lớn hơn 0.8 nên tương quan giữa các biến đều ở mức chấp nhận được (trừ ROA và ROE, tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu, 2 biến này đều là biến phụ thuộc, và quan hệ mật thiết với nhau). Do đó, đây là một dấu hiệu tương quan tốt trong việc kiểm định và lựa chọn mô hình phù hợp; CAP tương quan ngược chiều với ROE và tương quan thuận chiều với ROA, điều này hàm ý việc tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng có ảnh hưởng suy yếu ROE và ROA có xu hướng cải thiện (Bảng 1).

Bảng 1: Ma trận hệ số tương quan

Variables

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

(9)

(10)

(1) ROE

1.000

(2) ROA

0.877

1.000

(3) CAP

-0.036

0.277

1.000

(4) LTA

0.239

0.176

0.131

1.000

(5) LLR

0.098

0.072

-0.023

0.077

1.000

(6) DTA

-0.079

-0.173

-0.045

0.610

0.038

1.000

(7) SIZE

0.550

0.385

-0.323

0.361

0.367

0.174

1.000

(8) OWN

0.211

0.025

-0.229

0.260

0.423

0.117

0.577

1.000

(9) GDP

-0.018

-0.037

-0.031

-0.011

-0.054

-0.023

-0.029

0.017

1.000

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM)

Kiểm định Hausman test để lựa chọn một cách chính xác và chắc chắn nhất mô hình FEM hay REM phù hợp với bộ dữ liệu đã thu thập. Kiểm định Hausman test đặt ra 2 giả thuyết sau:

H0: Mô hình tác động ngẫu nhiên REM phù hợp và hiệu quả.

H1: Mô hình tác động cố định FEM phù hợp và hiệu quả.

Nếu giá trị P-value < 0.05 thì ta bác bỏ H0, chấp nhận H1. Ngược lại, nếu P-value > 0.05 thì ta chưa có cơ sở để bác bỏ H0 hay chấp nhận H0. Kết quả cho thấy Prob>chi2 (MH1) = 0.345 > 0.05 và Prob > chi2 (MH2) = 0.073 > 0.05, với độ tin cậy là 95% ta chưa đủ cơ sở bác bỏ H0, do đó mô hình REM được lựa chọn.

Dựa vào kết quả Bảng 2, cho thấy hệ số xác định R-squared của cả hai mô hình lần lượt là 41.2% và 45.5%. Hệ số xác định của mô hình 1 cho biết với độ tin cậy là 95%, các biến độc lập trong mô hình giải thích được 33.6% thay đổi của ROE trong mẫu. Tương tự, hệ số xác định của mô hình 2 cho biết với độ tin cậy là 95%, trong 100% sự biến động của ROA, có 44.7% do 7 yếu tố trong mô hình, còn 55.3% là do các yếu tố ngẫu nhiên và các yếu tố khác không có trong mô hình tác động. Nhìn chung, giá trị của hệ số xác định R-squared của hai mô hình khá thấp (nhỏ hơn 50%) thể hiện mức độ biến độc lập giải thích cho hai biến phụ thuộc trong mô hình là không cao. Hệ số phóng đại phương sai (VIF) để kiểm tra đa cộng tuyến thể hiện các biến tác giả lựa chọn đưa vào mô hình nghiên cứu đều có hệ số VIF nhỏ hơn 5 và trung bình VIF là 1.367. Điều này khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích gây ra sự ước lượng không chính xác.

Bảng 2: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FEM và REM

Biến độc lập

(1) ROE_fe

(2) ROE_re

(3) ROA_fe

(4) ROA_re

CAP

.062

(.065)

.072

(.063)

.039***

(.006)

.04***

(.006)

LTA

.208***

(.027)

.2***

(.026)

.02***

(.003)

.018***

(.002)

LLR

-2.078***

(.453)

-2.09***

(.444)

-.138***

(.043)

-.14***

(.042)

DTA

-.201***

(.021)

-.193***

(.021)

-.022***

(.002)

-.021***

(.002)

SIZE

.042***

(.005)

.043***

(.005)

.003***

(.001)

.003***

(0)

OWN

-

-.043*** (.026)

-

-.018*** (.002)

GDP

.05

(.135)

.057

(.134)

-.009

(.013)

-.008

(.013)

Hằng số (_cons)

-1.25***

(.171)

-1.275***

(.152)

-.09***

(.016)

-.095***

(.014)

Ghi chú: *** p<0.01. Số trong ngoặc đơn là sai số chuẩn.

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tác động dương tới ROE và ROA. Khi ngân hàng sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu, họ có xu hướng huy động thêm nhiều vốn và cấp nhiều tín dụng (Berger, 1995). Điều này làm cho hoạt động ngân hàng trở nên tăng trưởng tương đối tốt, và phục vụ cho những mục tiêu vì lợi nhuận khác nhau của ngân hàng (Goddard và cộng sự, 2011), từ đó tăng lợi nhuận dẫn tới tăng cả ROA và ROE. Hơn nữa, vốn chủ sở hữu cao làm cho người đại diện có niềm tin ở ngân hàng mình hơn, từ đó làm cho họ có khả năng sử dụng vốn vào nhiều mục đích khác nhau (Modigliani và Miller, 1963), làm tăng kết quả kinh doanh. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Berger và Bouwman (2013), Lee và Hsieh (2013), Pasiouras và cộng sự (2007). Ngân hàng có vốn hoá cao thể hiện uy tín tín dụng cao đối với doanh nghiệp và công chúng (Iannotta và cộng sự, 2007), từ đó họ thường thận trọng trong các quyết định của mình, ngày càng nâng cao chất lượng quản lý và năng lực cạnh tranh. Hơn nữa, vốn được coi là một “tấm nệm” giúp ngân hàng tự bảo vệ trước rủi ro, do đó các ngân hàng này đối mặt với chi phí phá sản dự kiến thấp hơn (Berger, 1995) làm tăng lợi nhuận và tăng ROA. Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu của Demirgüç-Kunt, A., & Huizinga, H.(1999), Goddard (2004) và Iannotta và cộng sự (2007), Lee và Hsieh (2013). Khi các ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn sẽ làm vốn tự có tăng lên, nếu vượt 8% theo quy định của ngân hàng nhà nước, các NHTM có khả năng sử dụng vốn vào các mục tiêu khác nhau để tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn.

Đối với các biến kiểm soát: Biến tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LLR) tác động nghịch chiều lên cả ROE và ROA, ngược với một số nghiên cứu của Van và Huynh (2019), nhưng lại đồng thuận với Lee và Hsieh (2013) và Altunbas (2007). Thực tế, hầu hết các ngân hàng tăng mức dự phòng rủi ro tín dụng do tăng tỷ lệ nợ xấu dẫn đến tăng chi phí dự phòng rủi ro và chi phí thu hồi nợ làm giảm hiệu quả hoạt động. Khi dự phòng tăng lên thì tổng chi phí của ngân hàng tăng theo, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lợi nhuận sẽ giảm xuống và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến ROA và ROE của ngân hàng. Biến tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DTA) tác động nghịch chiều lên ROE và ROA, phù hợp với nghiên cứu của Lee và Hsieh (2013), Van và Huynh (2019), Đỗ Hoài Linh và Vũ Kiều Trang (2019). Kết quả này ngụ ý việc tăng trưởng tỷ lệ tiền gửi thu hút các đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ, cùng với việc kiểm soát khoản vay không phù hợp và tăng sử dụng khoản nợ chi phí cao sẽ làm giảm lợi nhuận từ đó giảm ROE và ROA. Bên cạnh đó, theo Acharya và Naqvi (2012), nhà quản lý ngân hàng tiếp cận nhiều tiền gửi thường có xu hướng mở rộng hoạt động cho vay mạnh mẽ để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn, đe dọa trực tiếp đến sự an toàn và hiệu quả của NHTM. Biến quy mô ngân hàng (SIZE) tác động thuận chiều lên biến lợi nhuận. Khi gia tăng quy mô, các ngân hàng sẽ đạt được lợi thế đa dạng hoá tiềm năng (Hughes và cộng sự, 2001) do đó hiệu quả hoạt động gia tăng cùng chiều với quy mô. Kết quả trên được củng cố bởi Goddard và cộng sự (2004), Iannotta và cộng sự (2007), Bitar và cộng sự (2018).

Sở hữu Nhà nước (OWN) có ý nghĩa thống kê đối với cả hai mô hình nghiên cứu ở độ tin cậy 95% và có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM; kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Lê Đông Duy Trung (2019) hay Khuc và cộng sự (2023). Nguyên nhân được giải thích theo cơ chế của lý thuyết đại diện: khi nhà nước sở hữu vào các ngân hàng lớn, họ có xu hướng thay đổi để phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội nói chung chứ không phải vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thuần túy. Tăng trưởng GDP chỉ tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê với ROE nhưng dường như không ảnh hưởng đến ROA, đồng thuận với kết quả của Van và Huynh (2019).

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các NHTM, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách quan trọng như sau:

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu nhà nước (OWN) có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính của NHTM do các ngân hàng có vốn nhà nước thường phải thực hiện đồng thời các mục tiêu kinh tế - xã hội bên cạnh mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, Chính phủ cần tiếp tục đẩy mạnh lộ trình giảm tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước tại các NHTM theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường. Việc giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước sẽ góp phần nâng cao tính tự chủ, tăng cường năng lực quản trị và cải thiện khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế.

Thứ hai, do tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP) và quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu ROA và ROE, các ngân hàng cần chủ động nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn tự có và duy trì tỷ lệ an toàn vốn ở mức phù hợp, vượt yêu cầu tối thiểu theo quy định. Quy mô vốn lớn không chỉ giúp ngân hàng nâng cao khả năng chống chịu rủi ro mà còn tạo điều kiện để đa dạng hóa danh mục đầu tư, mở rộng hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả sinh lời trong dài hạn.

Thứ ba, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DTA) và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) có tác động ngược chiều đến hiệu quả tài chính của ngân hàng. Do đó, các NHTM cần kiểm soát chặt chẽ chi phí huy động vốn và hạn chế tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức dẫn đến gia tăng nợ xấu. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, áp dụng các mô hình đo lường và quản lý rủi ro hiện đại nhằm giảm thiểu chi phí dự phòng rủi ro, qua đó cải thiện hiệu quả hoạt động và bảo đảm lợi nhuận bền vững.

Kết quả thực nghiệm về tác động tiêu cực của sở hữu nhà nước đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam là một phát hiện có ý nghĩa quan trọng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và điều chỉnh chính sách giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. Acharya, V. V., & Naqvi, H. (2012). The seeds of a crisis: A Theory of bank liquidity and risk taking over the business cycle. Journal of Financial Economics, 106(2), 349-366.

2. Aktas, N., Croci, E., & Petmezas, D. (2015). Is working capital management value-enhancing? Evidence from firm performance and investments. Journal of Corporate Finance, 30, 98–141.

3. Altunbas, Y., et al. (2007). Examining the relationships between capital, risk and efficiency in European banking. European Financial Management, 13, 49-70.

4. Berger, A. N. (1995). The relationship between capital and earnings in banking. Journal of Money, Credit and Banking, 27, 432-456.

5. Berger, A. N., & Bouwman, C. H. (2013). How does capital affect bank performance during financial crises? Journal of Financial Economics, 109, 146-176.

6. Bitar, M., et al. (2018). The effect of capital ratios on the risk, efficiency and profitability of bank: Evidence from OECD Countries. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 53, 227-262.

7. Demirgüç-Kunt, A., & Huizinga, H. (1999). Determinants of commercial bank interest margins and profitability: Some international evidence. World Bank Economic Review, 13, 379-408.

8. Dietrich, A., & Wanzenried, G. (2011). Determinants of bank profitability before and during the crisis: Evidence from Switzerland. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 21, 307–327.

9. Dietrich, A., & Wanzenried, G. (2014). The determinants of commercial banking profitability in low-, middle-, and high-income countries. The Quarterly Review of Economics and Finance, 54, 337–354.

10. Do Hoai Linh, & Vu Kieu Trang. (2019). Impact of capital on profitability of banks: Evidence from Vietnamese commercial banks. Journal of Economics and Business, 2, 379–395.

11. Foos, D., et al. (2010). Loan growth and riskiness of bank. Journal of Banking & Finance, 34(12), 2929-2940.

12. Goddard, J. (2004). Dynamics of growth and profitability in banking. Journal of Educational Psychology, 93(3), 467-476.

13. Goddard, J., et al. (2011). The persistence of bank profit. Journal of Banking & Finance, 35, 2881-2890.

14. Hassan, M. K., & Bashir, A. H. M. (2003). Determinants of Islamic banking profitability. In 10th ERF Annual Conference, Morocco, 7(2), 45-60.

14. Hughes, J. P., et al. (2001). Are scale economies in banking elusive or illusive? Evidence obtained by incorporating capital structure and risk-taking into models of bank production. Journal of Banking and Finance, 25(12), 2169-2208.

16. Kennedy, P. (2008). A guide to econometrics. Blackwell Publishing.

17. Khuc, A. T., Linh, D. H., & Le, D. D. T. (2023). Does liquidity risk affect the profitability of Vietnamese commercial bank? Evidence from panel data threshold regression. Journal of Namibian Studies - History Politics Culture, 33(Special Issue 1).

18. Klett, & Weber (2008). How do banks determine capital? Evidence from Germany. German Economic Review, 9(3), 354-372.

19. Lê Đông Duy Trung (2019). Thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, 128, 63-75.

20. Lê Thanh Tâm, Đặng Trí Dũng, & Lê Nguyễn Minh Phương (2017). Mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn tự có và rủi ro của ngân hàng thương mại: Bằng chứng từ Việt Nam. Tạp chí UEF, 25, 54-61.

Lee, & Hsieh (2013). The impact of bank capital on profitability and risk in Asian banking. Journal of International Money and Finance, 32, 251-281.

21. Masood, O., & Ansari, S. (2016). Determinants of capital adequacy ratio a perspective from Pakistani banking sector. International Journal of Economics, Commerce and Management.

22. Modigliani, F., & Miller, M. H. (1963). Capital theory and investment behavior. The American Economic Review, 53, 433-443.

23. Nguyen Thi Hong Vinh, & Le Phan Thi Dieu Thao. (2016). Effects of bank capital on profitability and credit risk: The case of Vietnam's commercial banks. Journal of Economic Development (JED), 23, 117–137.

24. Pasiouras, F., Tanna, S., & Zopounidis, C. (2007). Regulations, supervision and banks' cost and profit efficiency around the world: A stochastic frontier approach. SSRN Electronic Journal.

25. Van, & Huynh (2019). Should Vietnamese banks need more equity? Evidence on risk-return trade-off in dynamic models of banking, Journal of Risk and Financial Management, 12, 84-97.

Ngày nhận bài: 12/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/5/2026; Ngày duyệt đăng: 19/5/2026

Các tin khác

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Đồng Nai

Đồng Nai là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị nhanh, mức độ phổ biến của công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng số, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh về trải nghiệm khách hàng.
Từ tự kiểm soát đến ý định đầu tư chứng khoán: Vai trò trung gian của hành vi tiết kiệm và vai trò điều tiết của ác cảm mất mát trong tài chính cá nhân tại Việt Nam

Từ tự kiểm soát đến ý định đầu tư chứng khoán: Vai trò trung gian của hành vi tiết kiệm và vai trò điều tiết của ác cảm mất mát trong tài chính cá nhân tại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích cơ chế từ tự kiểm soát đặc điểm đến ý định đầu tư chứng khoán thông qua hành vi tiết kiệm, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của ác cảm mất mát tại Việt Nam.
Công nghệ tài chính xanh - cơ chế giảm bất cân xứng thông tin trong tiếp cận vốn xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Công nghệ tài chính xanh - cơ chế giảm bất cân xứng thông tin trong tiếp cận vốn xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Công nghệ tài chính xanh (Green Fintech) - ứng dụng dữ liệu lớn, chuỗi khối và mô hình chấm điểm tín dụng thay thế - được xem như một cơ chế có khả năng xử lý trực diện gốc rễ bất cân xứng thông tin, thay vì chỉ đóng vai trò công cụ hỗ trợ giao dịch như cách tiếp cận phổ biến trước đây.
Thực trạng chuyển đổi số tại các công ty chứng khoán Việt Nam

Thực trạng chuyển đổi số tại các công ty chứng khoán Việt Nam

Chuyển đổi số đang trở thành động lực tái cấu trúc quan trọng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng. Từ kết quả phân tích cho thấy quá trình chuyển đổi số đang diễn ra theo 3 cấp độ chính, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách và quản trị nhằm thúc đẩy chuyển đổi số an toàn phù hợp với bối cảnh thị trường Việt Nam.
Thước đo tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Cơ sở lý thuyết, tổng quan quốc tế và khuyến nghị đo lường cho Việt Nam

Thước đo tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Cơ sở lý thuyết, tổng quan quốc tế và khuyến nghị đo lường cho Việt Nam

Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tâm lý nhà đầu tư và tổng quan 15 thước đo tiêu biểu được sử dụng trên thế giới và tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất Bộ chỉ số tâm lý nhà đầu tư kỳ vọng cung cấp một thước đo có cơ sở lý thuyết và thực nghiệm phù hợp với bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Internet Banking của người dân khu vực phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Internet Banking của người dân khu vực phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Internet Banking giúp giao dịch nhanh chóng, thuận tiện 24/7, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao khả năng quản lý tài chính cá nhân.
ESG và tài chính xanh trong thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

ESG và tài chính xanh trong thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Thúc đẩy ESG và tài chính xanh là yêu cầu quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu Net Zero, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới tăng trưởng bền vững. Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng trong nước, từ đó đề xuất hàm ý chính sách phù hợp cho Việt Nam.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.