Đặc điểm hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: Tiếp cận từ tổng quan tài liệu

Nghiên cứu - Trao đổi 09:49 | 11/08/2026
Trong số các yếu tố nội bộ có tầm ảnh hướng đến hiệu quả tài chính thì đặc điểm HĐQT được đánh giá có sức ảnh hưởng lớn đến khả năng ra quyết định, giám sát hoạt động điều hành để tối ưu hoá lợi nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả tài chính.

Đoàn Đình Khánh; Email: [email protected]

TS. Võ Minh Long; Email: [email protected]

Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

PGS, TS. Nguyễn Văn Chiến (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Trường Đại học Thủ Dầu Một

Tóm tắt

Nghiên cứu tổng hợp các đánh giá mối quan hệ đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) đến hiệu quả tài chính thông qua việc sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu hệ thống theo hướng dẫn của PRISMA 2020 nhằm hệ thống hoá các nghiên cứu tiêu biểu, uy tín trong và ngoài nước. Tổng quan cho thấy các nghiên cứu về đặc điểm HĐQT chủ yếu tập trung vào những đặc điểm bao gồm: quy mô HĐQT, tính độc lập, đa dạng giới, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, sự kiêm nhiệm chức danh và tần suất họp, hiệu quả tài chính được đo thông qua chỉ số ROA, ROE và Tobin’s Q. Kết quả tổng quan nhận thấy quy mô HĐQT, tính độc lập và đa dạng giới được nghiên cứu nhiều nhất và thường ghi nhận tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. Tuy nhiên kết quả đối với các yếu tố khác vẫn còn khác biệt giữa các quốc gia và ngành nghề.

Từ khoá: Đặc điểm HĐQT, hiệu quả tài chính, tổng quan tài liệu hệ thống, PRISMA

Abstract

Abstract This study synthesizes the evidence on the relationship between board characteristics and financial performance by conducting a systematic literature review in accordance with the PRISMA 2020 guidelines, with the aim of systematizing prominent and reputable studies from both domestic and international literature. The review shows that research on board characteristics has primarily focused on board size, board independence, gender diversity, major shareholder ownership, CEO duality, and board meeting frequency, while financial performance has commonly been measured using ROA, ROE, and Tobin’s Q. The review further finds that board size, board independence, and gender diversity have received the greatest research attention and are generally associated with positive effects on financial performance. However, findings regarding other board characteristics remain mixed across countries and industries.

Keywords: Board characteristics, financial performance, systematic literature review, PRISMA

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiệu quả tài chính luôn là một trong những mục tiêu quan trọng mà các doanh nghiệp tập trung hướng đến và cũng là chủ đề mà rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Trong số các yếu tố nội bộ có tầm ảnh hướng đến hiệu quả tài chính thì đặc điểm HĐQT được đánh giá có sức ảnh hưởng lớn đến khả năng ra quyết định, giám sát hoạt động điều hành để tối ưu hoá lợi nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả tài chính. Hiện nay có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính nhưng kết quả nghiên cứu chưa có sự thống nhất hoàn toàn.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm về HĐQT đã có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, phần lớn chỉ tập trung phân tích trên từng nhóm doanh nghiệp hoặc xem xét một số đặc điểm riêng lẻ của HĐQT. Do đó, nghiên cứu này nhằm làm rõ tổng quan tài liệu liên quan đến mối quan hệ đặc điểm của HĐQT và hiệu quả tài chính từ các nghiên cứu trong và ngoài nước bằng cách sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu hệ thống, từ đó làm rõ mối liên quan và đề xuất một số hàm ý và định hướng nghiên cứu.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu hệ thống (Systematic Literature Review - SLR) nhằm thu thập, lựa chọn và tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Phương pháp giúp đảm bảo tính minh bạch, khách quan, chặt chẽ và có hệ thống trong quá trình tổng hợp bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm. Quy trình tổng quan được thực hiện theo hướng dẫn của PRISMA 2020 với 4 bước chính: (i) Xây dựng đối tượng nghiên cứu và xác định nguồn dữ liệu; (ii) Sàng lọc tài liệu theo tiêu chí; (iii) Đánh giá chất lượng tài liệu; (iv) Tổng hợp, phân tích và so sánh kết quả nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Hiệu quả tài chính thể hiện khả năng doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận từ các nguồn đầu tư và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp (Brealey và cộng sự, 2020), phản ánh kết quả hoạt động thông qua khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng tài sản và năng lực tạo ra giá trị trên thị trường (Brigham, 2004) và được đo bằng các chỉ tiêu kế toán như ROA, ROE và chỉ tiêu thị trường như Tobin’Q.

HĐQT là cơ quan quản trị cao nhất của doanh nghiệp và đóng vai trò giám sát nhằm giảm xung đột lợi ích giữa các cổ đông và nhà quản lý, từ đó hạn chế chi phí đại diện và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Jensen và Meckling, 1976). Vì vậy, các đặc điểm HĐQT như quy mô, tính độc lập, đa dạng giới, sự kiêm nhiệm là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Một trong những nghiên cứu nổi bật của Phạm và cộng sự (2020) sử dụng phương pháp Bayes trên mẫu gồm 152 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2011-2016 để phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính. Kết quả cho thấy sự đa dạng giới trong HĐQT và tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn góp phần nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy mô, đa dạng giới và sự kiêm nhiệm chức danh không có ý nghĩa thống kê. Tương tự nghiên cứu trên, Anh và Anh (2020) thông qua phương pháp ước lượng GMM, cho thấy quy mô HĐQT và tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn có ảnh hưởng tích cực trong khi sự đa dạng giới cũng như tính độc lập lại không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê đối với hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, nghiên cứu của Khuong và cộng sự (2022) cho thấy sự hiện diện của nữ giới trong HĐQT có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp khi khi áp dụng phương pháp FGLS kết hợp GMM để kiểm định mô hình với dữ liệu từ các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019.

Xu hướng trên tiếp tục được củng cố trong nghiên cứu của Nguyệt (2024) thực hiện trên 164 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2016-2022. Kết quả cho thấy quy mô, tần suất họp và sự hiện diện của các thành viên nữ trong HĐQT đều có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Ngược lại, số lượng thành viên trong HĐQT tác động ngược chiều với hiệu quả tài chính.

Bên cạnh đó, Tran và cộng sự (2025) tiếp tục nghiên cứu dữ liệu bảng trên 1.260 quan sát của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô HĐQT có tác động tích cực trong khi việc kiêm nhiệm chức danh và tần suất của họp lại mang tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp, được đo bằng ROE.

Những tổng quan nghiên cứu trong nước đều khẳng định HĐQT là một trong những yếu tố quản trị nội bộ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ và chiều hướng tác động của từng đặc điểm HĐQT có sự khác nhau. Những kết quả chưa thống nhất này cho thấy vẫn cần thêm các nghiên cứu tổng hợp và thực nghiệm hơn nữa nhằm làm rõ vai trò của từng đặc điểm HĐQT đối với hiệu quả tài chính doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam.

Tổng quan các nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính doanh nghiệp được thực hiện trên nhiều quốc gia với quy mô mẫu lớn như nghiên cứu của Pucheta-Martinez và Gallego-Alvarez (2020) với 10.314 quan sát doanh nghiệp trên 34 quốc gia. Kết quả cho thấy quy mô, tính độc lập, sự đa dạng giới và sự kiêm nhiêm đều có quan hệ tích cực đến hiệu quả tài chính (đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q) trong khi đặc điểm thù lao của HĐQT không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê.

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Chandren và cộng sự (2021) nghiên cứu đặc điểm HĐQT thông qua tuổi, số nhiệm kỳ, kiêm nhiệm chức danh và tỷ lệ sở hữu của chủ tịch HĐQT. Kết quả phân tích dữ liệu trên 89 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường Malaysia trong giai đoạn 2017-2019 với 267 quan sát, sử dụng phương pháp OLS cho thấy tuổi của chủ tịch HĐQT có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê trong khi tỷ lệ sở hữu và kiêm nhiệm chức danh không có mối quan hệ đến hiệu quả tài chính. Ngược lại, nhiệm kỳ của chủ tịch HĐQT có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp.

Trong khi đó, Al-Faryan (2021) tập trung làm rõ vai trò của tính độc lập HĐQT thông qua 169 doanh nghiệp niêm yết tại Ả Rập Xê Út trong giai đoạn 2007-2014 bằng phương pháp GMM kết hợp DID, nghiên cứu cho thấy tính độc lập có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả tài chính được đo lường qua chỉ số ROA và Tobin’s Q. Kết quả này góp phần củng cố bằng chứng thực nghiệm về vai trò tích cực của tính độc lập của các thành viên HĐQT đối với hiệu quả tài chính doanh nghiệp.

Khác với các nghiên cứu thực nghiệm trên từng quốc gia, Bhatia và Gulati (2021) thực hiện phân tích tổng hợp dựa trên 56 nghiên cứu về quản trị công ty trong ngành ngân hàng giai đoạn 2007-2019. Kết quả tổng hợp cho thấy quy mô, tính độc lập và tính đa dạng giới trong HĐQT có mối quan hệ tích cực đến hiệu quả tài chính của ngân hàng. Những kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Pucheta-Martinez và Gallego-Alvarez (2020) cũng như Al-Faryan (2021), qua đó tiếp tục khẳng định vai trò của quy mô, tính độc lập và đa dạng giới trong việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu của Petrova (2023) trên 77.440 quan sát doanh nghiệp thuộc 15 quốc gia Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2002-2018 để đánh giá quy mô HĐQT, tính độc lập, sự đa dạng giới và sự kiêm nhiệm chức danh đến hiệu quả tài chính qua chỉ số Tobin’s Q. Kết quả cho thấy sự kiêm nhiệm chức danh có mối quan hệ tiêu cực trong khi tính độc lập và sự đa dạng giới trong HĐQT có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với hiệu quả tài chính. Đối với quy mô HĐQT, nghiên cứu không tìm thấy sự nhất quán bởi mối quan hệ thay đổi tuỳ thuộc từng quốc gia và có xu hướng tác động tích cực đối với doanh nghiệp lớn và tác động tiêu cực hoặc không có ý nghĩa ở các doanh nghiệp nhỏ. Cụ thể, khi nghiên cứu phân loại từng quốc gia, nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ giữa từng đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính không hoàn toàn giống nhau, đồng thời không có đặc điểm nào của HĐQT luôn duy trì mối liên hệ nhất quán với chỉ số Tobin’s Q ở tất cả các quốc gia.

Thông qua tổng quan tài liệu, các nghiên cứu quốc tế đều thống nhất đặc điểm HĐQT là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Trong đó, tính độc lập, sự đa dạng giới trong HĐQT thường xuyên mang kết quả tích cực. Bên cạnh đó, quy mô cũng được xác định có mối quan hệ tích cực đến hiệu quả tài chính mặc dù còn phụ thuộc vào cấu trúc doanh nghiệp. Sự kiêm nhiệm chức danh, đặc điểm chủ tịch HĐQT với kết quả thực nghiệm vẫn có sự khác biệt, chưa đồng nhất và có xu hướng thay đổi theo quốc gia, ngành nghề và mẫu nghiên cứu. Những khác biệt này cho thấy mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính doanh nghiệp vẫn cần được tiếp tục kiểm định trong bối cảnh nghiên cứu khác nhau, trong đó có bối cảnh tại Việt Nam.

HÀM Ý VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hàm ý nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm HĐQT là một trong những thành phần quản trị doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả tài chính. Mặc dù kết quả thực nghiệm giữa các nghiên cứu chưa hoàn toàn có sự thống nhất nhưng các đặc điểm chính như quy mô, tính độc lập, sự đa dạng giới trong HĐQT được xem là những đặc điểm được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất, thường xuyên đạt được kết quả tích cực trong mối quan hệ tác động đến hiệu quả tài chính. Do đó, doanh nghiệp cần chú trọng hoàn thiện và nâng cao chất lượng các đặc điểm chính trên nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, hỗ trợ quá trình ra quyết định và từ đó nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp.

Định hướng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy phần lớn các kết quả thực nghiệm vẫn chưa thống nhất do sự khác biệt về bối cảnh nghiên cứu, phương pháp ước lượng và đặc điểm của từng doanh nghiêp, từng ngành nghề. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu trong tương lai định hướng tiếp tục kiểm định mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và hiệu quả tài chính trong các bối cảnh, ngành nghề và giai đoạn khác nhau nhằm bổ sung bằng chứng thực nghiệm. Mô hình nghiên cứu định hướng đề xuất gồm các đặc điểm HĐQT như quy mô, tính đa dạng giới, tính độc lập trong thành viên HĐQT, sự kiêm nhiệm chức danh và tần suất họp tác động đến hiệu quả tài chính được đo lường qua bộ chỉ tiêu kế toán gồm ROA, ROE và chỉ tiêu thị trường Tobin’s, đồng thời đề xuất thêm một chỉ số đo lường đặc trưng quốc gia, đóng vai trò điều tiết để nghiên cứu trong từng bối cảnh quốc gia khác nhau.

Tài liệu tham khảo:

1. Al-Faryan, M. A. S. (2021). The effect of board composition and managerial pay on Saudi firm performance. Review of Quantitative Finance and Accounting, 57(2), 693-758.

2. Anh, P. D., & Anh, H. T. P. (2020). Does corporate governance structure matter for firm financial performance? A system GMM panel analysis for Vietnam. Journal of International Economics and Management, 20(1), 1-17.

3. Bhatia, M., & Gulati, R. (2021). Board governance and bank performance: A meta-analysis. Research in International Business and Finance, 58, 101425.

4. Brealey, R. A., Myers, S. C., & Allen, F. (2020). Principles of corporate finance. McGraw-Hill Education.

5. Brigham, E. F. (2004). Fundamentals of financial management. Thomson South-Western.

6. Chandren, S., Qaderi, S. A., & Ghaleb, B. A. A. (2021). The influence of the chairman and CEO effectiveness on operating performance: Evidence from Malaysia. Cogent Business & Management, 8(1), 1935189.

7. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360.

8. Khuong, N. V., Anh, L. H. T., Quyen, P. N., & Thao, N. T. T. (2022). Agency cost: A missing link between female on board and firm performance. Business Strategy & Development, 5(3), 286-302.

9. Nguyệt, L. M. (2024). The impact of board of directors characteristics on firm performance: Evidence from businesses listed on ho chi minh stock exchange (Hose).

10. Petrova, M. (2023). Board structure and market performance: Does one solution fit all?. Journal of Financial Research, 46, S7-S27.

11. Pham, A. D., Hoang, A. T., & Le, M. T. (2020). The effect of governance characteristics on corporate performance: An empirical bayesian analysis for Vietnamese publicly listed companies. In Data science for financial econometrics (pp. 597-612). Cham: Springer International Publishing.

12. Pucheta-Martínez, M. C., & Gallego-Álvarez, I. (2020). Do board characteristics drive firm performance? An international perspective. Review of Managerial Science, 14(6), 1251-1297.

13. Tran, T. N., Binh, V. T. T., & Loan, N. T. T. (2025). Linking Corporate Governance Mechanisms to Firm Performance: Evidence from Vietnam. International Journal of Economics and Financial Issues, 15(5), 13.

Ngày nhận bài: 20/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/8/2026; Ngày duyệt đăng: 10/8/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội

Trước lộ trình hạn chế phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại Hà Nội, việc chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện là xu thế tất yếu nhưng đặt ra nhiều thách thức cho sinh viên ngoại tỉnh - nhóm chịu ràng buộc lớn về tài chính và điều kiện nơi ở.
Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Sự mở rộng của xuất nhập khẩu, thương mại điện tử và sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2022-2025 tạo dư địa lớn cho thị trường logistics Việt Nam. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035 xác định nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những định hướng trọng tâm.
Chia sẻ tri thức, phong cách lãnh đạo và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên ngành du lịch - lữ hành Hà Nội

Chia sẻ tri thức, phong cách lãnh đạo và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên ngành du lịch - lữ hành Hà Nội

Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, đổi mới ở cấp độ tổ chức bắt đầu từ các hành vi chủ động của nhân viên: nhận diện vấn đề, hình thành ý tưởng, huy động sự ủng hộ và hiện thực hóa giải pháp. Hành vi làm việc đổi mới không chỉ phản ánh năng lực sáng tạo cá nhân mà còn là cơ chế chuyển hóa tri thức thành cải tiến dịch vụ và lợi thế cạnh tranh.
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Hà Nội là địa phương có số lượng doanh nghiệp đứng thứ hai cả nước, đồng thời là một trong ba địa phương có mật độ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ cao nhất cả nước
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Trong bối cảnh giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng ứng dụng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, chất lượng tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một hoạt động bổ trợ mà đã trở thành một nhân tố chiến lược, quyết định sự thành công của quá trình đào tạo
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Các ngành công nghiệp sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế dựa trên tri thức, vì giá trị được tạo ra từ sự kết hợp giữa sáng tạo, văn hóa, tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ
Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Sự mở rộng về hạ tầng xe buýt điện không đảm bảo việc người sử dụng sẽ chủ động thay đổi thói quen đi lại. Quá trình thay đổi từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng mới chịu tác động bởi các nguyên nhân: từ bỏ phương thức cũ, giá trị tiện ích của phương thức mới, thói quen và rủi ro cảm nhận.
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Tại Việt Nam, nơi thu nhập trung bình còn hạn chế nhưng nhận thức về môi trường đang tăng nhanh, việc hiểu cơ chế thúc đẩy việc sẵn sàng trả giá cao có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả chính sách lẫn hoạt động kinh doanh.
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam từng ở mức tương đương 20,8% GDP, gần gấp đôi mức trung bình thế giới là 10,7%. Chiến lược phát triển logistics quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 16-18% GDP. Bên cạnh đó, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.