Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Nghiên cứu - Trao đổi 18:37 | 27/10/2026
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số đã và đang trở thành một trong những động lực then chốt tái định hình mô hình tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Bùi Thị Thùy Nhi

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Kinh tế số đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. Dù vậy, tiến trình phát triển kinh tế số vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc: mô hình tăng trưởng lệch pha giữa năng lực tiêu dùng số và sản xuất số; sự phụ thuộc sâu sắc vào khối FDI phần cứng và các nền tảng công nghệ xuyên biên giới; chuyển đổi số ở khu vực kinh tế thực (DNNVV, sản xuất chế tạo, nông nghiệp) còn hạn chế; thể chế có độ trễ thực thi; cùng nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình số do thiếu hụt nhân lực công nghệ lõi. Trên cơ sở nhận diện thực trạng và phân tích các nút thắt nội tại, bài viết đề xuất 5 nhóm giải pháp định hướng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số Việt Nam nhanh, tự chủ và bền vững đến năm 2030.

Từ khóa: Kinh tế số, hạ tầng kỹ thuật số, thương mại điện tử, giá trị gia tăng nội địa, bẫy thu nhập trung bình số, Việt Nam.

Abstract

The digital economy has emerged as a key growth driver of Vietnam’s socio-economic development. During the 2021–2025 period, Vietnam’s digital economy expanded substantially, rising from USD 47.2 billion to USD 72.1 billion and contributing an average of 13.2% to national GDP. Rapid improvements were achieved in telecommunications infrastructure, digital payments, and e-commerce. Nevertheless, several deep-seated structural bottlenecks persist: a decoupling between high digital consumption and modest domestic digital production; heavy reliance on FDI hardware manufacturers and cross-border tech conglomerates; sluggish digital adoption across the real economy (manufacturing, agriculture, and SMEs); institutional and regulatory lags; and the risk of a “digital middle-income trap” driven by severe shortages of advanced technical talent. Drawing upon an empirical review and structural diagnosis, this article proposes five strategic solution orientations to foster a resilient, self-reliant, and sustainable digital economy in Vietnam toward 2030.

Keywords: Digital economy, digital infrastructure, e-commerce, domestic value added, digital middle-income trap, Vietnam.

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số đã và đang trở thành một trong những động lực then chốt tái định hình mô hình tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là lựa chọn chiến lược mang tính đột phá nhằm hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Thực tiễn ở Việt Nam những năm gần đây ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng của kinh tế số Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại điện tử, thanh toán số, công nghệ tài chính và dịch vụ truyền thông trực tuyến. Tuy nhiên, hành trình này vẫn đối mặt với nhiều thách thức và điểm nghẽn mang tính cấu trúc: hành lang pháp lý chưa thực sự theo kịp các mô hình kinh doanh mới; hạ tầng số và nền tảng dữ liệu dùng chung còn thiếu đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ số còn khan hiếm; cùng với đó là các rủi ro hiện hữu về an toàn, an ninh mạng và khoảng cách số giữa các vùng miền.

Nhằm đóng góp vào việc nhận diện toàn diện bức tranh chuyển đổi số quốc gia, bài viết này tập trung phân tích thực trạng phát triển kinh tế số tại Việt Nam giai đoạn vừa qua, làm rõ các rào cản cốt lõi đang kìm hãm đà tăng trưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và gợi mở chính sách mang tính khả thi nhằm thúc đẩy kinh tế số phát triển bứt phá và bền vững đến năm 2030.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ Ở VIỆT NAM

Giai đoạn từ 2020-2025 đã đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình phát triển kinh tế số ở Việt Nam, có sự chuyển biến từ trạng thái ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) rời rạc, manh mún sang giai đoạn phát triển hệ sinh thái số toàn diện, được dẫn dắt bởi các quyết sách vĩ mô như Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), Quyết định số 749/QĐ-TTg về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Quyết định số 411/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số.

Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế số

Theo số liệu công bố từ Cục Thống kê Quốc gia (GSO), Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và công nghệ), số liệu từ Báo cáo e-Conomy SEA thường niên do Google, Temasek và Bain & Company phối hợp thực hiện, kinh tế số của Việt Nam đạt được những con số ấn tượng sau:

- Về quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số: Quy mô kinh tế số duy trì đà mở rộng đều đặn qua từng năm, từ 47,2 tỷ USD (2021) lên 72,1 tỷ USD (2025). Sau 5 năm, quy mô kinh tế số tăng thêm 24,9 tỷ USD, tương ứng mức tăng trưởng khoảng 52,75% so với năm gốc 2021. Giai đoạn 2024–2025 ghi nhận mức tăng giá trị tuyệt đối mạnh nhất (+6,7 tỷ USD năm 2024 và +9,1 tỷ USD năm 2025), phản ánh sự tích lũy về lượng và bước phát triển quy mô nhanh chóng của khu vực kinh tế này.

- Về tốc độ tăng theo giá hiện hành: Xu hướng biến động dạng đồ thị phục hồi chữ W. Tốc độ tăng trưởng không theo đường thẳng mà có sự trồi sụt rõ rệt qua hai chu kỳ. Giai đoạn 2021–2022, tăng trưởng bứt phá từ 7,4% lên 12,5%. Giai đoạn 2022–2023, tốc đô tăng trưởng chậm lại 6,1%, chịu tác động từ sự suy giảm chung của tổng cầu, biến động vĩ mô và chu kỳ hạ nhiệt sau đợt bùng nổ chuyển đổi số thời kỳ dịch bệnh. Giai đoạn 2023–2025, giá trị kinh tế số phục hồi mạnh mẽ và liên tục lập đỉnh mới, từ 6,1% (2023) vọt lên 11,9% năm 2024 và đạt đỉnh 14,6% vào năm 2025 (Hình 1).

Hình 1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng theo giá hiện hành giá trị tăng thêm của kinh tế số giai đoạn 2021-2025

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Nguồn: Cục Thống kê

- Về tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GDP: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP liên tục tăng trong giai đoạn 2021-2025, từ 12,87% GDP năm 2021 lên 14,02% GDP năm 2025, trung bình giai đoạn này ước đạt khoảng 13,2%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,13% và số hóa các ngành khác là 5,05%. (Cục thống kê, 2021-2025).

Hình 2: Cơ cấu kinh tế số Việt Nam, bình quân giai đoạn 2021-2025

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Nguồn: Cục Thống kê quốc gia (2026).

- Về cơ cấu nội bộ ngành: Khu vực kinh tế số lõi ICT bao gồm sản xuất phần cứng, viễn thông, phần mềm chiếm tỷ trọng chi phối, khoảng 60 – 65% tổng giá trị kinh tế số, trong khi kinh tế số ứng dụng trong nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ đóng góp khoảng 35 – 40% nhưng đang có tốc độ mở rộng nhanh hơn (Cục thống kê Quốc gia, 2021-2025).

Sự bứt phá của hạ tầng kỹ thuật số

Giai đoạn 2021-2025, hạ tầng viễn thông ghi nhận sự mở rộng nhanh chóng về cả độ phủ lẫn năng lực truyền tải. Theo dữ liệu từ Cục Viễn thông và We Are Social, tỷ lệ dân số tiếp cận Internet tăng trưởng từ mức 52% năm 2016 lên trên 79% trong giai đoạn 2025–2026, tương đương gần 80 triệu người dùng. Song hành cùng xu hướng số hóa phương thức kết nối, tỷ lệ người trưởng thành sở hữu điện thoại thông minh đạt hơn 84%. Về mặt cấu trúc mạng lưới, mạng cáp quang băng rộng đã hoàn thành mục tiêu phổ cập tại 100% xã/phường trên toàn quốc; đồng thời việc chính thức thương mại hóa mạng 5G từ cuối năm 2024 đã thiết lập nền tảng băng thông rộng tốc độ cao với độ trễ thấp, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nền tảng cho tiến trình chuyển đổi số trong công nghiệp và dịch vụ.

Hạ tầng dữ liệu và định danh số quốc gia có bước chuyển dịch quan trọng từ trạng thái phân tán sang tích hợp và liên thông. Việc hoàn thiện, vận hành đồng bộ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo Đề án 06 kết hợp với hệ sinh thái định danh điện tử VNeID đã tối ưu hóa quy trình xác thực, giảm thiểu đáng kể chi phí giao dịch hành chính và xã hội. Đây là tiền đề thể chế - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả quản trị công, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và mở rộng của các mô hình thương mại số an toàn, minh bạch.

Thương mại điện tử và kinh tế nền tảng

Theo Báo cáo Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam do Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương biên soạn, doanh thu thương mại điện tử B2C tăng từ 5 tỷ USD năm 2016 lên 10,08 tỷ USD năm 2019, đạt 16,4 tỷ USD năm 2022, chạm mốc 20,5 tỷ USD năm 2023 và vượt mốc 25 tỷ USD vào năm 2025 (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, 2016-2025). Thương mại điện tử hiện chiếm khoảng 8 – 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Sự dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình tìm kiếm - mua hàng truyền thống sang các sàn kết hợp phát trực tiếp như livestream, TikTok Shop, Shopee Live đã biến Việt Nam thành thị trường thương mại điện tử giải trí sôi động bậc nhất khu vực. Theo Aglobal - đơn vị cung cấp dịch vụ về thương mại điện tử, Việt Nam đang nằm trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử hàng đầu thế giới. Thương mại điện tử ngày càng chiếm một phần quan trọng hơn trong hoạt động mua sắm và tiêu dùng của người dân, từng bước định hình lại thói quen mua sắm truyền thống.

Hình 3: Tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử B2C giai đoạn 2014-2024

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Nguồn: Sách trăng thương mại điện tử Việt Nam

Thanh toán không dùng tiền mặt và công nghệ tài chính

Theo số liệu thống kê từ Vụ Thanh toán - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phương thức thanh toán qua mã QR (QR Code) và ứng dụng di động Mobile Banking ghi nhận mức tăng trưởng bùng nổ. Số lượng giao dịch thanh toán qua kênh di động và mã QR tăng bình quân trên 100%/năm trong giai đoạn 2020 – 2024. Đến năm 2025 – 2026, trên 87% người trưởng thành tại Việt Nam đã có tài khoản ngân hàng, vượt xa mục tiêu 80% đặt ra tại Quyết định 1813/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025. Sự phổ cập của hệ thống thanh toán liên ngân hàng thời gian thực (NAPAS 24/7) và Mobile Money đã hỗ trợ phổ cập tài chính toàn diện đến vùng sâu, vùng xa.

Dưới đây là bảng so sánh đa chiều giữa Việt Nam với các nền kinh tế phát triển và một số quốc gia trong khu vực ASEAN để định vị chính xác vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế số toàn cầu.

Bảng: So sánh các chỉ tiêu kinh tế số của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới

Chỉ tiêu

Việt Nam

Singapore

Thái Lan

Trung Quốc

Hoa Kỳ

Tỷ trọng kinh tế số trong GDP

18% –19%

17% -18%;

(GVA tuyệt đối rất cao)

3% – 24%

41% – 43%

10% – 11% (theo chuẩn hẹp BEA)

Tốc độ tăng trưởng GMV kinh tế số

Hàng đầu ASEAN (16 – 20%/năm)

Ổn định (10 – 12%/năm)

Trung bình (12 – 15%/năm)

Trung bình - Khá (8 – 10%/năm)

Ổn định (6 – 8%/năm)

Cơ cấu sản xuất số

Thâm dụng sản xuất phần cứng FDI (Samsung, Foxconn... chiếm trên 85% giá trị xuất khẩu ICT).

Trung tâm dịch vụ tài chính, R&D, điện toán đám mây và an ninh mạng khu vực.

Cân bằng giữa chế tạo bán dẫn trung tầng và dịch vụ số ngành.

Bao trùm toàn diện, nền tảng nội địa độc lập (Alibaba, Tencent, Baidu), tự chủ chuỗi cung ứng bán dẫn.

Làm chủ công nghệ nguồn; Độc quyền sở hữu trí tuệ, chip xử lý cao cấp (NVIDIA), điện toán đám mây và mô hình AI Foundation.

Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI - LHQ)

Xếp hạng 71/193 toàn cầu (thuộc nhóm rất cao)

Xếp hạng Top 3 toàn cầu.

Thái Lan xếp thứ 50 – 55.

Xếp thứ 35 - 40 toàn cầu

Xếp thứ 10 – 15 toàn cầu.

Mức độ phụ thuộc nền tảng xuyên biên giới

Rất cao, bị chi phối bởi Meta, Google,TikTok, Shopee, Grab.

Thấp do trở thành Trung tâm điều phối trong khu vực.

Trung bình - Cao.

Rất thấp vì thay thế hoàn toàn bằng hệ sinh thái nội địa

Không phục thuộc, Mỹ là quê hương của các Big Tech toàn cầu.

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo e-Conomy SEA (Google, Temasek, Bain & Company, các năm 2023 - 2025) và Statista Market Insights.

Bảng trên cho thấy, so với nhóm ASEAN-6, Việt Nam vượt trội về tốc độ tăng trưởng thị trường tiêu dùng số và tỷ lệ phổ cập dịch vụ số như thanh toán QR, mua sắm online. Tuy nhiên, về mức độ sẵn sàng hạ tầng pháp lý, năng lực trung tâm dữ liệu Data Center, logistics thông minh và an toàn thông tin mạng, Việt Nam vẫn đi sau Singapore, Malaysia và ngang hàng với Thái Lan, Indonesia. So với Trung Quốc và Hoa Kỳ, khoảng cách lớn nhất của Việt Nam không nằm ở chỉ số tiêu dùng hay người dùng thiết bị đầu cuối, mà nằm ở công nghệ nguồn và quyền sở hữu tư liệu sản xuất số. Nếu như Hoa Kỳ nắm giữ độc quyền thuật toán và hạ tầng đám mây toàn cầu, Trung Quốc tự chủ hệ sinh thái nền tảng độc lập, thì Việt Nam chủ yếu đóng vai trò là thị trường tiêu thụ dịch vụ số và công xưởng gia công lắp ráp phần cứng cho các tập đoàn đa quốc gia.

MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ Ở VIỆT NAM

Thứ nhất, mô hình tăng trưởng lệch pha giữa sản xuất và tiêu dùng

Kinh tế số Việt Nam đang bộc lộ sự mất cân đối cấu trúc sâu sắc. Ở phía tiêu dùng, người dân Việt Nam có khả năng thích ứng công nghệ cực nhanh. Tỷ lệ tiếp cận thương mại điện tử, thanh toán số và mạng xã hội thuộc nhóm năng động nhất thế giới. Ở phía sản xuất, khu vực sản xuất phần cứng ICT chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu và hơn 60% tổng sản lượng kinh tế số, nhưng phần giá trị gia tăng nội địa (DVA) tạo ra cho Việt Nam lại khá khiêm tốn. Khối doanh nghiệp FDI tiêu biểu như Samsung, Foxconn, Luxshare chiếm tới trên 90% kim ngạch xuất khẩu điện tử. Doanh nghiệp nội địa chủ yếu tham gia ở khâu gia công lắp ráp với tỷ suất lợi nhuận mỏng, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị thiết kế vi mạch hay sản xuất phần mềm cốt lõi.

Thứ hai, sự thống trị của tư bản nền tảng ngoại và nguy cơ chảy máu tài nguyên dữ liệu

Phần lớn không gian kinh tế số tại Việt Nam đang bị chi phối bởi các tập đoàn công nghệ xuyên biên giới như Alphabet/ Google, Meta, ByteDance/ TikTok, Sea Group/ Shopee. Dưới góc độ kinh tế chính trị, Việt Nam đang đóng vai trò là bên cung cấp nguồn tài nguyên dữ liệu hành vi khổng lồ và lao động số rẻ mạt như tài xế công nghệ, người làm nội dung số tự do. Toàn bộ địa tô dữ liệu và siêu lợi nhuận thặng dư được tư bản nền tảng trích xuất và chuyển dịch xuyên biên giới sang các trung tâm tài chính quốc tế, làm phát sinh nguy cơ xói mòn cơ sở tính thuế và suy giảm chủ quyền số quốc gia. Các nền tảng số thuần Việt như Make in Vietnam hiện gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh sòng phẳng do hạn chế về quy mô vốn và hiệu ứng mạng khóa chặt.

Thứ ba, tồn tại rào cản kép trong chuyển đổi số khu vực kinh tế thực (kinh tế số lan tỏa)

Kinh tế số hiện nay vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực dịch vụ tiêu dùng, thương mại và giải trí. Ngược lại, việc ứng dụng công nghệ số vào các ngành sản xuất thực – nơi tạo ra của cải vật chất nền tảng cho xã hội – diễn ra chậm. Hơn 97% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đang đối mặt với rào cản kép: thiếu vốn đầu tư công nghệ và thiếu hụt nhân lực có kỹ năng số chuyên sâu. Phần lớn việc chuyển đổi số tại các doanh nghiệp này mới dừng lại ở mức số hóa văn bản và sử dụng mạng xã hội để tiếp thị, chưa chuyển hóa thành mô hình sản xuất thông minh, nông nghiệp chính xác hay tự động hóa chuỗi cung ứng.

Thứ tư, hệ thống thể chế chính sách có độ trễ thực thi

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống chủ trương, chiến lược rất kịp thời như Nghị quyết 52-NQ/TW, Luật Giao dịch điện tử 2023, Luật Viễn thông 2023, Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân... Mặc dù vậy, thể chế vẫn đang đi sau sự phát triển, tiến bộ của công nghệ. Khung khổ pháp lý thử nghiệm có kiểm soát sandbox cho các lĩnh vực công nghệ mới như Fintech, kinh tế chia sẻ, tài sản số/tài sản ảo, dữ liệu mở… triển khai còn chậm. Sự chồng chéo trong thẩm quyền quản lý dữ liệu giữa các bộ, ngành và sự thiếu đồng bộ trong cơ chế định giá tài sản dữ liệu gây tâm lý e ngại, lúng túng trong giải ngân đầu tư công cho chuyển đổi số.

Thứ năm, chưa khai thác được lợi thế dân số vàng và lực lượng lao động số

Việt Nam sở hữu lực lượng lao động trẻ, nhạy bén và có chi phí cạnh tranh trong khu vực về gia công phần mềm. Tuy nhiên, nền kinh tế lại đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao ở các khâu then chốt: kỹ sư thiết kế vi mạch bán dẫn, chuyên gia an toàn thông tin mạng cấp cao, kỹ sư nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo… Nếu không có chiến lược cải cách đột phá về giáo dục đại học và đào tạo nghề công nghệ trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ đối diện với nguy cơ bẫy thu nhập trung bình số – tức chỉ mãi làm thuê gia công phần mềm cho thế giới mà không thể tự chủ sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030

Để hiện thực hóa mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030 và khắc phục triệt để các tồn tại mang tính cấu trúc, hệ thống giải pháp cần được triển khai toàn diện, tập trung vào 5 trụ cột then chốt sau:

Thứ nhất, Hoàn thiện thể chế số và xây dựng khung khổ quản trị dữ liệu minh bạch, chủ quyền

- Cần khẩn trương ban hành và vận hành hiệu quả cơ chế thử nghiệm có kiểm soát ‘sandbox’ cho các mô hình kinh tế mới như công nghệ tài chính fintech, tài sản số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI và kinh tế nền tảng chia sẻ, giúp tạo dư địa cho doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mà vẫn quản trị được rủi ro vĩ mô.

- Xây dựng khung pháp lý về quyền tài sản đối với dữ liệu, khung pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân; xác lập rõ cơ chế định giá, giao dịch và chia sẻ dữ liệu số dùng chung, biến dữ liệu thành một tư liệu sản xuất và nguồn lực tạo ra giá trị gia tăng nội địa.

- Tăng cường kiểm soát chống độc quyền nền tảng và quản trị dòng dữ liệu xuyên biên giới. Hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động của các tập đoàn công nghệ xuyên biên giới, thực thi nghiêm túc chính sách thuế số, bảo vệ không gian cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp công nghệ trong nước.

Thứ hai, Chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế số theo hướng nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa (DVA) và phát triển sản phẩm Make in Vietnam

- Chuyển dịch chính sách thu hút FDI từ ưu đãi lắp ráp đơn thuần sang thu hút các trung tâm R&D, thiết kế vi mạch bán dẫn, đồng thời gắn kèm các điều kiện ràng buộc chuyển giao công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa linh kiện.

- Thúc đẩy chiến lược công nghệ “Make in Vietnam”. Tập trung nguồn lực quốc gia hỗ trợ các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ số nội địa đầu tư vào các công nghệ nguồn: thiết kế vi mạch chuyên dụng, thuật toán học máy, hạ tầng đám mây và phần mềm lõi; giảm dần mức độ lệ thuộc vào chuỗi cung ứng và phần mềm nhập khẩu.

- Ưu tiên mua sắm công cho giải pháp công nghệ nội địa. Sử dụng công cụ đấu thầu, đầu tư công để mở rộng thị trường đầu ra cho các sản phẩm, giải pháp phần mềm và thiết bị mạng do Việt Nam làm chủ thiết kế và sản xuất.

Thứ ba, Tăng cường chuyển đổi số khu vực kinh tế thực và nâng đỡ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)

- Xây dựng chính sách hỗ trợ kép cho DNNVV. Thiết kế các chương trình trợ giá, hỗ trợ tài chính để DNNVV tiếp cận các nền tảng quản trị doanh nghiệp số (SaaS), giải pháp kế toán, quản lý chuỗi cung ứng với chi phí thấp; kết hợp đào tạo kỹ năng số ứng dụng tại chỗ cho lãnh đạo và người lao động.

- Đẩy mạnh số hóa chuỗi giá trị nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Triển khai các nền tảng dữ liệu mở về thổ nhưỡng, thời tiết, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc số cho nông sản; tài trợ cho các dự án chuyển đổi mô hình nhà máy truyền thống sang mô hình sản xuất thông minh, tự động hóa linh hoạt nhằm gia tăng năng suất các yếu tố tổng hợp TFP.

Thứ tư, Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật số đồng bộ, hiện đại và bảo đảm chủ quyền số

- Ưu tiên cấp phép và phổ cập hạ tầng mạng 5G tại các khu công nghệ cao, cụm công nghiệp chế biến - chế tạo, cảng biển và trung tâm logistics trọng điểm; Đồng thời lập lộ trình nghiên cứu, chuẩn bị thử nghiệm các chuẩn kết nối thế hệ tiếp theo (6G).

- Khuyến khích đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn (đạt chuẩn quốc tế (Tier 3, Tier 4) do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ; ưu tiên áp dụng tiêu chuẩn xanh để bảo đảm hiệu quả sử dụng năng lượng và cam kết Net Zero.

- Củng cố các giải pháp giám sát, cảnh báo sớm và phòng thủ không gian mạng quốc gia; bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống thanh toán liên ngân hàng và hạ tầng điều hành kinh tế vĩ mô.

Thứ năm, Đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực số chất lượng cao, ngăn ngừa nguy cơ bẫy thu nhập trung bình số

- Cải cách chương trình đào tạo đại học và sau đại học ngành công nghệ theo hướng thực chiến, liên kết chặt chẽ giữa trường đại học và doanh nghiệp công nghệ hàng đầu; tập trung đào tạo chuyên sâu về kỹ nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu và kỹ thuật an toàn thông tin.

- Thực hiện chương trình quốc gia về đào tạo lại và nâng cao kỹ năng. Phối hợp công - tư hỗ trợ lực lượng lao động trong các ngành thâm dụng lao động chuyển dịch sang các kỹ năng vận hành công nghệ, kiểm thử phần mềm, phân tích dữ liệu cơ bản để không bị tụt lại phía sau trước làn sóng tự động hóa.

- Có cơ chế đặc thù thu hút và đãi ngộ chuyên gia công nghệ xuất sắc. Ban hành các chính sách ưu đãi vượt trội về thuế thu nhập cá nhân, cấp thị thực dài hạn và môi trường làm việc học thuật mở nhằm thu hút chuyên gia công nghệ gốc Việt và nhân tài quốc tế về làm việc, giảng dạy và nghiên cứu tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội.

2. Bộ Công Thương (2021–2025). Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam (các năm từ 2021 đến 2025), Nxb Công Thương, Hà Nội.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Báo cáo thường niên Chuyển đổi số quốc gia và Kinh tế số Việt Nam năm 2024, Hà Nội.

4. Cục Viễn thông – We Are Social (2025). Báo cáo tổng quan Digital Việt Nam (Vietnam Digital Report 2025).

5. Google, Temasek, Bain & Company (2021–2025). e-Conomy SEA Report: Navigating through headwinds / The Roar of the Digital Decade (Báo cáo thường niên về kinh tế số Đông Nam Á giai đoạn 2021–2025).

6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2024). Báo cáo tổng kết thực hiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021–2025 theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg, Hà Nội.

7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

8. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt “Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

9. World Bank (2021). Digital Vietnam: The Path to Normal and High Growth (Việt Nam số hóa: Con đường tới tương lai), World Bank Group, Washington, D.C.

Ngày nhận bài: 10/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 27/10/2026

Các tin khác

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Chủ trương phát triển các vùng động lực trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các vùng động lực được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045.
Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Doanh nghiệp spin-off là hướng đi tiềm năng để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, song việc triển khai tại Việt Nam còn vướng mắc về pháp lý, tài chính và năng lực vận hành. Trên cơ sở phân tích thực tiễn và tham vấn chuyên gia, bài viết đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off và các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng tại trường đại học đa ngành.
Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng công nghệ viễn thám, bài viết phân tích biến động nhiệt độ bề mặt tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2024 và mối quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt, độ che phủ thực vật với một số chỉ tiêu phát triển kinh tế đô thị. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp hài hòa tăng trưởng kinh tế với kiểm soát hiệu ứng đảo nhiệt và phát triển đô thị bền vững.
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Hồ sơ kế toán số được hình thành từ hóa đơn điện tử, phần mềm, dữ liệu ngân hàng và hệ thống quản trị tích hợp. Vì vậy, chất lượng bàn giao ảnh hưởng đến khả năng truy vết, tính liên tục của công việc và độ tin cậy của thông tin kế toán.
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Quản lý tài nguyên rừng toàn cầu đang đứng trước một ngã rẽ mang tính quyết định, khi những áp lực về bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng phụ thuộc vào rừng đang đan xen phức tạp.
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Trong giáo dục đại học, tài sản thương hiệu ngày càng được quan tâm khi các trường đại học phải cạnh tranh trong thu hút người học và khẳng định vị thế. Việc lựa chọn trường không chỉ dựa trên chương trình đào tạo và học phí mà còn liên quan đến danh tiếng, môi trường học tập, triển vọng nghề nghiệp và những giá trị mà người học nhận được.
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Bài viết kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa Bộ chỉ số DTI và Chỉ số PCI của các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2020-2024, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số tại các địa phương.
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Trong bối cảnh tự chủ đại học tại Việt Nam, sinh viên không chỉ quan tâm đến khả năng chi trả mà còn quan tâm đến chất lượng nhận được và tính hợp lý của mức phí. Vì vậy, vấn đề trọng tâm không chỉ là sinh viên có thể trả bao nhiêu, mà là điều gì khiến họ sẵn lòng duy trì hoặc gia tăng cam kết tài chính với cơ sở đào tạo.
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Sự phát triển của xe điện đang được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy giao thông bền vững và giảm các tác động môi trường của hoạt động vận tải. Tuy nhiên, sự mở rộng của thị trường xe điện không chỉ phụ thuộc vào đặc tính công nghệ hay giá cả sản phẩm mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các yếu tố tâm lý – xã hội và môi trường chính sách
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Giáo dục đại học Việt Nam đa dạng về trường, chương trình và ngành học đào tạo, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh. Người học có thể đánh giá và điều chỉnh lựa chọn ngành học.