Tỷ giá hối đoái và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm giai đoạn 2017-2025
Nguyễn Thị Ngọc Minh
Đại học Kinh tế Quốc dân; Email: [email protected]
Nguyễn Phú Hùng
Đại học Kinh tế Quốc dân; Email: [email protected]
Phạm Tường Linh
La Trobe University; Email: [email protected]
Nguyễn Ngọc Hiệp
Đại Học Ngoại Thương; Email: [email protected]
Trần Thị Mỹ Bình
Đại học Ritsumeikan Asia Pacific University; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và hiệu quả tài chính của 30 doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô lớn tại Việt Nam giai đoạn 2017-2025. Kết quả cho thấy tỷ giá CNY/VND có tác động làm tăng lợi nhuận sau thuế khoảng 5,022%. Ngược lại, USD/VND chưa cho thấy tác động tới chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, đồng thời tác động tiêu cực đến các chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và vốn chủ sở hữu (ROA và ROE). Quy mô lao động tác động tích cực đến lợi nhuận sau thuế và ROE, trong khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tác động tiêu cực đến ROE.Từ đây, nghiên cứu đề xuất doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro tỷ giá và dòng tiền ngoại tệ, nâng cao năng suất lao động thông qua đào tạo và ứng dụng công nghệ, đồng thời đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và tận dụng các FTA để tăng khả năng thích ứng trước biến động thương mại quốc tế.
Từ khóa: Tỷ giá hối đoái, hiệu quả tài chính, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung
Abstract
This study examines the relationship between exchange rates and the financial performance of 30 large-scale import and export enterprises in Vietnam over the period 2017-2025. The results indicate that the CNY/VND exchange rate has a positive effect on net profit after tax, increasing it by approximately 5.022%. In contrast, the USD/VND exchange rate shows no significant effect on net profit after tax but has negative effects on return on assets (ROA) and return on equity (ROE). Workforce size positively affects net profit after tax and ROE, while the US-China trade war negatively affects ROE. Based on these findings, the study recommends that enterprises proactively manage exchange rate risk and foreign currency cash flows, improve labor productivity through training and technology adoption, and diversify markets and supply sources while leveraging free trade agreements (FTAs) to enhance their resilience to fluctuations in international trade.
Keywords: Exchange rate, financial performance, import-export enterprises, US-China trade war
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp này phải đối mặt với nhiều yếu tố tác động từ môi trường kinh tế vĩ mô, trong đó biến động tỷ giá ngoại tệ được xem là một trong những yếu tố quan trọng và khó kiểm soát nhất. Các nghiên cứu cũng cho thấy, sự biến động của tỷ giá ngoại tệ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu (Nguyễn Lâm, 2025).
Trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế luôn biến động, việc hiểu rõ các tác động của tỷ giá đến hiệu quả tài chính không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn có giá trị thực tiễn quan trọng, giúp doanh nghiệp định hướng chiến lược quản lý rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận. Do vậy, nghiên cứu này sử dụng tỷ giá CNY/VND (đồng nhân dân tệ/ đồng Việt Nam, tỷ giá USD/VND (Đô la/đồng Việt Nam), tổng tài sản, số lượng lao động và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung làm các biến giải thích. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua lợi nhuận sau thuế, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Việc đưa các biến này vào cùng một mô hình giúp xem xét tác động của tỷ giá trong mối quan hệ với những yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở các kết quả này, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường kinh doanh.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại quốc tế, ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động của doanh nghiệp luôn là đề tài được quan tâm và nghiên cứu. Khi tỷ giá thay đổi, doanh nghiệp có thể bị tác động thông qua doanh thu từ thị trường nước ngoài, chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, giá bán và các giao dịch bằng ngoại tệ. Adler và Dumas (1984) là một trong những nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề về rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp. Tiếp đó, nghiên cứu của Jorion (1990) cho thấy các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh quốc tế chịu ảnh hưởng khá rõ từ biến động tỷ giá, trong khi Allayannis và Ofek (2001) nhận thấy doanh nghiệp càng có nhiều doanh thu từ nước ngoài thì càng dễ chịu tác động của tỷ giá. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng này còn khác nhau tùy theo loại tiền tệ và đặc điểm của từng doanh nghiệp (Dominguez và Tesar, 2006).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy tỷ giá của từng đồng tiền có thể ảnh hưởng khác nhau đến kết quả kinh doanh. Khi tỷ giá CNY/VND tăng, kết quả tài chính của doanh nghiệp có xu hướng tốt hơn, trong khi tỷ giá USD/VND tăng lại có xu hướng làm giảm các chỉ tiêu sinh lời. Bên cạnh tỷ giá, chiến tranh thương mại cũng là một yếu tố đáng chú ý. Nghiên cứu của Amiti và cộng sự (2019) và Fajgelbaum và cộng sự (2020) cho thấy việc các nước tăng thuế quan có thể làm giá hàng hóa thay đổi, cản trở hoạt động thương mại và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước vẫn còn một số điểm chưa được làm rõ. Cụ thể, phần lớn nghiên cứu tập trung vào các nước phát triển hoặc chỉ xem xét tác động của USD, trong khi tác động của cả CNY và USD đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn tại Việt Nam trong giai đoạn 2017-2025 chưa được xem xét một cách đầy đủ. Ngoài ra, tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung khi được xem xét cùng với quy mô lao động cũng chưa được đề cập nhiều. Vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào hai loại tỷ giá CNY/VND và USD/VND, đồng thời đưa chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và quy mô lao động vào mô hình để xem xét các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cấp doanh nghiệp theo năm để phân tích mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và hiệu quả tài chính của 30 doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô lớn tại Việt Nam trong giai đoạn 2017 – 2025. Mẫu gồm các doanh nghiệp niêm yết hoặc công ty đại chúng thuộc nhiều ngành xuất khẩu chủ lực được lựa chọn có chủ đích từ Danh sách “Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín” năm 2022 của Bộ Công Thương theo Quyết định số 3235/QĐ-BCT ngày 14/12/2023 (Bộ Công Thương, 2023).
Với 30 doanh nghiệp trong 9 năm, dữ liệu có tối đa 270 quan sát doanh nghiệp-năm. Do thiếu dữ liệu ở một số biến, số quan sát thực tế thay đổi giữa các mô hình và tạo thành dữ liệu bảng không cân bằng. Dữ liệu tài chính và lao động được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và thông tin công bố chính thức của doanh nghiệp; dữ liệu tỷ giá được đối chiếu với số liệu từ SBV và IMF.
Mô hình nghiên cứu
Các nghiên cứu trước cho thấy biến động tỷ giá có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp thông qua doanh thu, chi phí nhập khẩu, khả năng cạnh tranh và các giao dịch bằng ngoại tệ. Mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau tùy theo loại tiền tệ và đặc điểm của từng doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu này đưa đồng thời tỷ giá CNY/VND và USD/VND vào mô hình để xem xét tác động của hai loại tỷ giá đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Kế thừa cách tiếp cận của Vo (2023), nghiên cứu sử dụng ROA và ROE để đo lường hiệu quả tài chính, trong khi tổng tài sản được sử dụng để phản ánh quy mô doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:
(1) BPTit = β0 + β1*lnCNYVNDit + β2*lnUSDVNDit + β3*lnTTSit + β4*lnLDit + β5*TQUSwarit + µit
Trong đó, biến phụ thuộc được lần lượt đo lường bằng lnLNST, ROA và ROE. Logarit tự nhiên được áp dụng cho lợi nhuận sau thuế, tỷ giá hối đoái, tổng tài sản và số lượng lao động nhằm giảm chênh lệch về quy mô giữa các biến và cho phép diễn giải các hệ số theo tỷ lệ tương đối. Biến TQUSwar nhận giá trị 0 đối với năm 2017 và 1 đối với giai đoạn 2018-2025. Mốc thời gian này có cơ sở từ hồ sơ USTR về các biện pháp thuế quan Mục 301, trong khi Amiti và cộng sự (2019) cùng Fajgelbaum và cộng sự (2020) cung cấp bằng chứng cho thấy việc leo thang thuế quan ảnh hưởng đến giá cả, dòng thương mại và phúc lợi. Trong phương trình (1), i=1-30 là chỉ số doanh nghiệp và t = 2017-2025 là chỉ số năm. BPTit biểu thị hiệu quả tài chính, lần lượt được đo bằng lnLNST, ROA và ROE. β0 là hệ số chặn, β1-β5 là các tham số quan tâm, và µit biểu thị các yếu tố không quan sát được quyết định hiệu quả doanh nghiệp nhưng không được đưa trực tiếp vào nhóm biến giải thích.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả thống kê mô tả tại Bảng 1 cho thấy lnLNST có giá trị trung bình 25,71 (SD=1,908), dao động từ 18,933 đến 30,050. ROA và ROE có giá trị trung bình lần lượt là 0.079 và 0.160, cho thấy sự khác biệt về hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp. Các biến tỷ giá lnCNYVND và lnUSDVND có độ phân tán thấp, với giá trị trung bình lần lượt là 8,152 và 3,165. lnTTS và lnLD có giá trị trung bình lần lượt là 8,215 và 7,542, trong khi TQUSwar có giá trị trung bình là 0,889, cho thấy phần lớn quan sát thuộc giai đoạn chiến tranh thương mại Mỹ-Trung.
Bảng 1: Thống kê mô tả
|
Variable |
Obs |
Mean |
Std. Dev. |
Min |
Max |
|
lnLNST |
259 |
25,71 |
1,908 |
18,933 |
30,05 |
|
ROA |
270 |
0,079 |
0,075 |
-0,072 |
0,342 |
|
ROE |
270 |
0,16 |
0,132 |
-0,319 |
0,584 |
|
lnCNYVND |
270 |
8,152 |
0,025 |
8,12 |
8,194 |
|
lnUSDVND |
270 |
3,165 |
0,043 |
3,123 |
3,258 |
|
lnTTS |
269 |
8,215 |
1,807 |
5,019 |
14,577 |
|
lnLD |
253 |
7,542 |
1,362 |
3,401 |
9,855 |
|
TQUSwar |
270 |
0,889 |
0,315 |
0,00 |
1 |
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Bảng 2 trình bày ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu, cho thấy mức độ và chiều hướng tương quan giữa các biến tương đối đa dạng. Trong số các cặp biến được xem xét, hệ số tương quan cao nhất là giữa ROA và ROE, đạt 0,871, phản ánh mối tương quan thuận tương đối chặt chẽ giữa hai chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Kết quả này có thể được lý giải bởi ROA và ROE đều phản ánh khả năng sinh lời, mặc dù được tính toán trên những cơ sở khác nhau là tổng tài sản và vốn chủ sở hữu.
Đối với lợi nhuận sau thuế, biến lnLNST có tương quan dương với ROA và ROE, với hệ số lần lượt là 0,583 và 0.605. Điều này cho thấy các doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế cao hơn thường có xu hướng đạt tỷ suất sinh lời trên tài sản và vốn chủ sở hữu cao hơn. Bên cạnh đó, lnLNST có tương quan thuận với quy mô tổng tài sản (lnTTS) và số lượng lao động (lnLD), với hệ số tương ứng là 0,639 và 0,616. Các kết quả này cho thấy lợi nhuận sau thuế có mối liên hệ tương đối rõ với quy mô hoạt động và nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây mới là mối tương quan thống kê, chưa đủ cơ sở để kết luận rằng việc gia tăng tài sản hoặc lao động trực tiếp làm tăng lợi nhuận.
Đối với các biến tỷ giá, lnCNYVND có tương quan dương với lnUSDVND, với hệ số 0,491, cho thấy hai tỷ giá có xu hướng biến động cùng chiều trong giai đoạn nghiên cứu. Trong khi đó, tương quan giữa lnLNST với lnCNYVND và lnUSDVND tương đối thấp, lần lượt đạt 0,064 và 0,056. Tương tự, mối tương quan giữa các biến tỷ giá với ROA và ROE cũng khá yếu. Điều này cho thấy mối liên hệ tuyến tính đơn giữa tỷ giá và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính chưa thể hiện rõ qua thống kê tương quan; do đó, cần tiếp tục sử dụng mô hình hồi quy để xem xét tác động của tỷ giá khi đồng thời kiểm soát các yếu tố khác.
Đối với biến TQUSwar đại diện cho giai đoạn chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, hệ số tương quan với lnLNST, ROA và ROE lần lượt là -0,052, -0,035 và -0,100. Các hệ số này cho thấy mối tương quan tuyến tính âm nhưng ở mức thấp giữa biến chiến tranh thương mại và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính. Kết quả tương quan đơn chưa phản ánh đầy đủ tác động của chiến tranh thương mại, bởi ảnh hưởng thực tế có thể phụ thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp và các yếu tố kinh tế khác.
Nhìn chung, ma trận tương quan cho thấy phần lớn các cặp biến giải thích có hệ số tương quan tương đối thấp; riêng lnCNYVND và lnUSDVND có tương quan ở mức trung bình. Mặc dù hệ số tương quan giữa ROA và ROE khá cao (0,871), hai biến này được sử dụng lần lượt làm biến phụ thuộc trong các mô hình hồi quy riêng biệt, không đồng thời đóng vai trò biến giải thích trong cùng một mô hình. Vì vậy, mối tương quan cao giữa ROA và ROE không trực tiếp tạo ra hiện tượng đa cộng tuyến trong các mô hình hồi quy được xây dựng. Tuy nhiên, ma trận tương quan chỉ cung cấp đánh giá ban đầu về mối liên hệ tuyến tính giữa các biến, chưa đủ để khẳng định hoàn toàn không có đa cộng tuyến. Do đó, cần kết hợp thêm các kiểm định phù hợp, chẳng hạn hệ số phóng đại phương sai (VIF) nếu điều kiện mô hình cho phép, trước khi đưa ra kết luận đầy đủ về vấn đề này.
Bảng 2: Ma trận tương quan
|
Variables |
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
(5) |
(6) |
(7) |
(8) |
|
(1) lnLNST |
1,000 |
|
||||||
|
(2) ROA |
0,583 |
1,000 |
|
|||||
|
(3) ROE |
0,605 |
0,871 |
1,000 |
|
||||
|
(4) lnCNYVND |
0,064 |
0,034 |
0,033 |
1,000 |
|
|||
|
(5) lnUSDVND |
0,056 |
-0,055 |
-0,096 |
0,491 |
1,000 |
|
||
|
(6) lnTTS |
0,639 |
0,078 |
0,111 |
0,075 |
0,091 |
1,000 |
|
|
|
(7) lnLD |
0,616 |
0,173 |
0,335 |
-0,003 |
0,001 |
0,434 |
1,000 |
|
|
(8) TQUSwar |
-0,052 |
-0,035 |
-0,100 |
0,425 |
0,327 |
0,043 |
-0,050 |
1,000
|
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Kết quả kiểm định F và Hausman được sử dụng để lựa chọn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM) tại Bảng 3. Đối với mô hình sử dụng Lợi nhuận sau thuế làm biến phụ thuộc, kiểm định F cho kết quả 4,205 với p-value = 0,000, bác bỏ giả thuyết về sự tồn tại của hiệu ứng cá thể bằng 0 và cho thấy FEM phù hợp hơn so với mô hình Pooled OLS. Đồng thời, kiểm định Hausman có giá trị 49.865 với p-value=0,000, tiếp tục ủng hộ việc lựa chọn FEM. Đối với mô hình ROA, kiểm định F có giá trị 1,301 với p-value=0,136, trong khi kiểm định Hausman cho giá trị 0,159 với p-value=0,999. Kết quả này không cung cấp bằng chứng đủ mạnh để ưu tiên FEM và do đó mô hình REM được lựa chọn. Tương tự, đối với ROE, kiểm định F có giá trị 2,178 (p=0,000), cho thấy tồn tại hiệu ứng cá thể; tuy nhiên, kiểm định Hausman có giá trị 0,665 với p-value=0,985, nên mô hình REM được lựa chọn theo kết quả Hausman.
Bảng 3: Kiểm định lựa chọn mô hình và kết quả hồi quy
|
|
LNST (FEM) |
ROA (REM) |
ROE (REM) |
|
lnCNYVND (St.Err.) |
5,022**(2,078) |
0,306**(0,137) |
0,744**(0,291) |
|
lnUSDVND(St.Err.) |
1,65(1,161) |
-0,147*(0,076) |
-0,352**(0,162) |
|
LnTTS(St.Err.) |
0,034(0,04) |
-0,001(0,003) |
-0,002(0,005) |
|
lnLD(St.Err.) |
0,417**(0,193) |
0,01(0,007) |
0,032***(0,011) |
|
TQUSwar(St.Err.) |
-0,212(0,167) |
-0,006(0,011) |
-0,041*(0,023) |
|
F-test (FEM)(p-value) |
4,205(0,000) |
1,301(0,136) |
2,178(0,000) |
|
Hausman(p-value) |
49,865(0,000) |
0,159(0,999) |
0,665(0,985) |
|
N |
242 |
252 |
252 |
*** p<0,01, ** p<0,05, * p<0,1
Nguồn: Kết quả nghiên cứu
Kết quả hồi quy tại Bảng 3 cho thấy, đối với lnLNST, tỷ giá CNY/VND có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, với hệ số 5,022. Như vậy khi CNY/VND tăng 1%, lnLNST tăng 5,022%. Ngược lại, lnUSDVND có hệ số dương 1,650 nhưng không có ý nghĩa thống kê. Trong các biến kiểm soát, lnLD có tác động tích cực đến lnLNST, với hệ số 0,417 (SE = 0,193), tương ứng với mức tăng khoảng 0,42% lnLNST khi lnLD tăng 1%. Trong khi đó, tác động của lnTTS và TQUSwar không có ý nghĩa thống kê.
Đối với ROA, lnCNYVND có hệ số 0,306 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, cho thấy khi CNY/VND tăng 1% thì ROA tăng khoảng 0,306%. Ngược lại, lnUSDVND có tác động âm và có ý nghĩa ở mức 10% (β = -0,147), tức USD/VND tăng 1% làm ROA giảm 0,147%. Tuy nhiên, các biến lnTTS, lnLD và TQUSwar đều không có ý nghĩa thống kê trong mô hình này.
Trong khi đó mô hình với biến phụ thuộc ROE cho thấy tác động của hai tỷ giá thể hiện rõ hơn. Hệ số của lnCNYVND đạt 0,744 và có ý nghĩa ở mức 5%; cụ thể là khi CNY/VND tăng 1% ROE sẽ tăng tương ứng là 0,744%. Trong khi đó, lnUSDVND có hệ số -0,352 tại mức ý nghĩa 5%, cho thấy USD/VND tăng 1% làm ROE giảm khoảng 0,352%. Bên cạnh đó, lnLD có tác động tích cực và có ý nghĩa ở mức 1% (β = 0,03), trong khi TQUSwar có tác động âm ở mức ý nghĩa 10% (β = -0,041). Cuối cùng, quy mô tài sản chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê đến ROE.
Nhìn chung, kết quả cho thấy tỷ giá CNY/VND có mối quan hệ tích cực và khá nhất quán với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khi đều có tác động cùng chiều đến lnLNST, ROA và ROE. Điều này cho thấy biến động của đồng Nhân dân tệ so với VND có thể tạo ra những tác động thuận lợi đối với kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngược lại, tỷ giá USD/VND có tác động tiêu cực đến ROA và ROE, cho thấy sự gia tăng của tỷ giá USD có thể tạo thêm áp lực lên hiệu quả sinh lời, đặc biệt khi doanh nghiệp có các giao dịch hoặc nghĩa vụ liên quan đến USD. Bên cạnh đó, quy mô lao động có tác động tích cực đến lnLNST và ROE cho thấy việc mở rộng nguồn nhân lực có thể gắn với khả năng cải thiện kết quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Đáng chú ý, chiến tranh thương mại Mỹ–Trung chỉ cho thấy tác động tiêu cực có ý nghĩa thống kê đối với ROE, trong khi chưa tìm thấy bằng chứng tương tự đối với lnLNST và ROA.
GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊ
Từ kết quả hồi quy, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tài chính và khả năng thích ứng của doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước biến động tỷ giá và thương mại quốc tế.
Thứ nhất, tăng cường quản trị rủi ro tỷ giá CNY/VND và USD/VND. Do tỷ giá CNY/VND có tác động tích cực đến LNST, ROA và ROE, doanh nghiệp cần theo dõi diễn biến tỷ giá, dự báo dòng tiền và chủ động cân đối các khoản phải thu, phải trả bằng CNY. Tuy nhiên, không nên mặc định tỷ giá CNY/VND tăng luôn có lợi cho mọi doanh nghiệp, mà cần căn cứ vào cơ cấu thu – chi ngoại tệ thực tế. Đối với USD/VND, do có tác động tiêu cực đến ROA và ROE, doanh nghiệp cần xác định trạng thái ngoại tệ ròng, lập kế hoạch dòng tiền theo từng kỳ và cân nhắc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như hợp đồng kỳ hạn hoặc quyền chọn đối với giao dịch có giá trị lớn. Đồng thời, doanh nghiệp nên xây dựng các kịch bản biến động tỷ giá để chủ động điều chỉnh giá bán, thời hạn thanh toán và phương án tài chính.
Thứ hai, nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng lao động. Kết quả cho thấy quy mô lao động có tác động tích cực đến LNST và ROE, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc tăng số lượng nhân sự sẽ tự động cải thiện hiệu quả tài chính. Vì vậy, doanh nghiệp nên ưu tiên đào tạo chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ xuất nhập khẩu và ứng dụng công nghệ vào sản xuất, quản lý kho, xử lý đơn hàng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đánh giá, đãi ngộ gắn với năng suất và hiệu quả công việc nhằm nâng cao chất lượng nhân lực, giảm chi phí và hạn chế gián đoạn hoạt động.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống quản trị tài chính và kiểm soát rủi ro. Doanh nghiệp cần tăng cường phối hợp giữa bộ phận tài chính, kinh doanh và xuất nhập khẩu trong việc theo dõi tỷ giá, quản lý hợp đồng ngoại tệ và đánh giá rủi ro thị trường. Việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, định kỳ đánh giá mức độ phơi nhiễm ngoại tệ và kiểm tra các kịch bản tài chính sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định kịp thời, nâng cao tính chủ động và duy trì hiệu quả hoạt động trong bối cảnh kinh tế quốc tế nhiều biến động.
Thứ tư, nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thương mại quốc tế. Do biến chiến tranh thương mại Mỹ – Trung có tác động tiêu cực đến ROE, doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nguồn cung nguyên liệu để giảm phụ thuộc vào một số đối tác hoặc quốc gia. Bên cạnh đó, cần thường xuyên cập nhật chính sách thuế quan, quy tắc xuất xứ và hàng rào kỹ thuật tại các thị trường mục tiêu; chủ động tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh. Việc xây dựng các phương án cung ứng thay thế cũng giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng khi chính sách thương mại quốc tế thay đổi.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và hiệu quả tài chính của 30 doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô lớn tại Việt Nam trong giai đoạn 2017-2025. Kết quả cho thấy tỷ giá CNY/VND và USD/VND có tác động khác nhau đến hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể, khi CNY/VND tăng 1%, lợi nhuận sau thuế tăng khoảng 5,022% và có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND có hệ số dương 1,650 đối với lợi nhuận sau thuế nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Đối với ROA và ROE, USD/VND có tác động tiêu cực, trong khi CNY/VND có tác động tích cực đến hai chỉ tiêu này. Quy mô lao động cũng có tác động tích cực đến lợi nhuận sau thuế và ROE, còn tổng tài sản chưa cho thấy ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh đó, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đến ROE. Từ những kết quả trên, doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro tỷ giá và dòng tiền ngoại tệ, đặc biệt đối với các giao dịch bằng CNY và USD; đồng thời nâng cao năng suất lao động thông qua đào tạo và ứng dụng công nghệ. Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nguồn cung và tận dụng các FTA cũng cần được chú trọng nhằm giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của thương mại quốc tế.
Nghiên cứu còn một số hạn chế: (i) Mẫu gồm 30 doanh nghiệp quy mô lớn được lựa chọn có chủ đích, nên khả năng khái quát kết quả còn hạn chế; (ii) Chưa đo lường trực tiếp mức độ phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu, nguồn cung và đồng tiền thanh toán; (iii) Biến giả chiến tranh thương mại chưa phản ánh đầy đủ cường độ và diễn biến của các biện pháp thuế quan; (iv) Số lượng lao động chưa phản ánh trực tiếp năng suất lao động. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mẫu, bổ sung biến đo lường mức độ phụ thuộc thương mại, cơ cấu thu - chi ngoại tệ và các yếu tố vĩ mô để nâng cao độ tin cậy của kết quả và cơ sở đề xuất khuyến nghị.
Tài liệu tham khảo:
1. Adler, M., & Dumas, B. (1984). Exposure to currency risk: Definition and measurement. Financial Management, 13(2), 41–50. doi:10.2307/3665446.
2. Allayannis, G., & Ofek, E. (2001). Exchange rate exposure, hedging, and the use of foreign currency derivatives. Journal of International Money and Finance, 20(2), 273–296. doi:10.1016/S0261-5606(00)00050-4
3. Amiti, M., Redding, S. J., & Weinstein, D. E. (2019). The impact of the 2018 tariffs on prices and welfare. Journal of Economic Perspectives, 33(4), 187–210. doi:10.1257/jep.33.4.187.
4. Bộ Công Thương. (2023). Quyết định số 3235/QĐ-BCT ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc phê duyệt và công bố Danh sách “Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín” năm 2022.
5. Dominguez, K. M. E., & Tesar, L. L. (2006). Exchange rate exposure. Journal of International Economics, 68(1), 188–218. doi:10.1016/j.jinteco.2005.01.002.
6. Fajgelbaum, P. D., Goldberg, P. K., Kennedy, P. J., & Khandelwal, A. K. (2020). The return to protectionism. The Quarterly Journal of Economics, 135(1), 1–55. doi:10.1093/qje/qjz036.
7. Jorion, P. (1990). The exchange-rate exposure of U.S. multinationals. The Journal of Business, 63(3), 331–345. doi:10.1086/296510.
8. Nguyễn Lâm (2025). Phân tích tác động của biến động ngoại tệ đến hiệu quả tài chính của các công ty xuất khẩu tại Việt Nam. Tạp chí Công Thương, số 2 tháng 1 năm 2025. https://ojs.tapchicongthuong.vn/vi/ojs-post/phan-tich-tac-dong-cua-bien-dong-ngoai-te-den-hieu-qua-tai-chinh-cua-cac-cong-ty-xuat-khau-tai-viet-nam-138980.htm.
9. Vo, D. H. (2023). Market risk, financial distress and firm performance in Vietnam. PLOS ONE, 18(7), e0288621. doi:10.1371/journal.pone.0288621.
| Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026 |
Các tin khác
Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Điều kiện cần về thể chế địa phương đối với thu hút FDI
Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam: Đánh giá qua các chỉ số quốc tế và một số vấn đề đặt ra
Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ
Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh
Mức độ phụ thuộc đầu vào nhập khẩu và yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam