Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam
Vũ Tuấn Anh
Ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; Email: [email protected]
Nguyễn Đức Phường
Văn phòng, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và kết nối của nhà khoa học đối với thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Dữ liệu gồm 55 bài nghiên cứu được công bố trong giai đoạn 2005-2026 và được lập chỉ mục trên Scopus, theo quy trình PRISMA. Phân tích được thực hiện dựa trên 2 phần mềm Bibliometrix và VOSviewer, kết hợp với tổng hợp nội dung có cấu trúc. Kết quả cho thấy hoạt động này tại Việt Nam có sự phát triển mạnh từ năm 2017 và tăng nhanh trong giai đoạn 2022-2026. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng chính, gồm nhóm cá nhân, tổ chức, quan hệ và thị trường, thể chế. Nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo và đề xuất hàm ý chính sách phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam.
Từ khóa: Kết nối học thuật, thị trường khoa học và công nghệ, hợp tác đại học - doanh nghiệp, chuyển giao tri thức, Việt Nam
Abstract
This study identifies the factors influencing scientists' participation in and engagement with the science and technology market in Viet Nam. The dataset comprises 55 research articles published between 2005 and 2026 and indexed in Scopus, in accordance with the PRISMA protocol. The analysis was conducted using Bibliometrix and VOSviewer, combined with a structured content synthesis. The results show that research on this topic in Viet Nam has developed substantially since 2017, with rapid growth during the 2022-2026 period. In addition, the study identifies four main groups of influencing factors: individual, organizational, relational, and market and institutional factors. The findings provide a foundation for further empirical research and suggest policy implications for the development of Viet Nam's science and technology market.
Keywords: Academic engagement, science and technology market, university-industry collaboration, knowledge transfer, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Nền kinh tế tri thức làm gia tăng vai trò của các trường đại học và viện nghiên cứu trong đổi mới sáng tạo. Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng. Trong nghiên cứu này, kết nối nhà khoa học với thị trường khoa học và công nghệ (KHCN) là quá trình trao đổi, chuyển giao hoặc hợp tác cùng doanh nghiệp phát triển tri thức và công nghệ có giá trị ứng dụng.
Tại Việt Nam, mối quan hệ giữa trường đại học, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp hình thành trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (Ca, 2009). Dù hợp tác đã xuất hiện dưới nhiều hình thức, song năng lực chuyển giao công nghệ và liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp vẫn còn hạn chế (Parajuli và cộng sự, 2020). Các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam thường xem xét riêng từng hình thức kết nối hoặc từng cấp độ cá nhân, tổ chức, quan hệ và thể chế, nên chưa giải thích đầy đủ mối liên hệ giữa các cấp độ. Nghiên cứu tổng quan của Bui và Takuro (2024) mới dừng ở 25 bài nghiên cứu và chưa xây dựng bản đồ khoa học của lĩnh vực.
Nhằm giải quyết khoảng trống đó, nghiên cứu này phân tích sự phát triển của tài liệu và hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối nhà khoa học với thị trường KHCN tại Việt Nam. Nghiên cứu tập trung trả lời 3 câu hỏi: tài liệu đã phát triển như thế nào?; cấu trúc tri thức và xu hướng chính là gì?; những yếu tố nào thúc đẩy hoặc cản trở sự tham gia của nhà khoa học?. Dữ liệu gồm 55 bài Scopus được phân tích bằng Bibliometrix, VOSviewer và tổng hợp nội dung.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy chủ đề kết nối giữa nhà khoa học và thị trường KHCN đã chuyển từ mô tả các trường hợp chuyển giao công nghệ sang giải thích hành vi thương mại hóa và hiệu quả hợp tác đại học - doanh nghiệp. Nghiên cứu về sản xuất vắc-xin của T. T. Tran (2017) chỉ ra rằng, chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế, xã hội và năng lực tự chủ quốc gia, đòi hỏi sự tham gia của nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu và Nhà nước. Khảo sát của Hoc và Trong (2019), Dang và cộng sự (2024) tiếp tục cho thấy các liên kết ở Việt Nam tồn tại dưới nhiều hình thức nhưng vẫn chủ yếu dựa trên quan hệ cá nhân; trong khi các hoạt động nghiên cứu chung và chuyển giao công nghệ đòi hỏi cam kết tổ chức cao còn hạn chế.
Các khung lý thuyết nền tảng
Nhiều nền tảng lý thuyết đã được áp dụng để giải thích mối liên kết này ở các cấp độ khác nhau:
Ở cấp độ cá nhân, Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) giải thích ý định thương mại hóa thông qua thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Lý thuyết thể chế bổ sung vai trò của hỗ trợ pháp quy và chuẩn mực trong quá trình này. Quan điểm nhận thức khởi nghiệp giải thích cách nhà khoa học nội hóa điều kiện thể chế thành động cơ, lựa chọn đối tác và hành vi thương mại hóa (Doanh và cộng sự, 2021; T. V. Nguyen và cộng sự, 2018).
Ở cấp độ tổ chức và quan hệ, Quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) nhấn mạnh vai trò của nguồn lực hữu hình và vô hình đối với khả năng tạo giá trị của tổ chức (Barney, 1991). Năng lực hấp thụ cho thấy khả năng nhận diện giá trị, tiếp nhận và ứng dụng tri thức bên ngoài vào hoạt động thương mại (Cohen và Levinthal, 1990). Lý thuyết vốn xã hội làm rõ vai trò của mạng lưới, lòng tin và sự hiểu biết chung trong việc trao đổi, kết hợp tri thức giữa các bên hợp tác (Nahapiet và Ghoshal, 1998).
Ở cấp độ hệ thống, Mô hình 3 vòng xoắn làm rõ sự phối hợp giữa nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo, qua đó giải thích điều kiện kết nối tri thức khoa học với nhu cầu của thị trường (Etzkowitz và Leydesdorff, 2000).
Các lý thuyết này bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong việc lý giải và xác định mối quan hệ từ ý định của nhà khoa học, năng lực thực hiện chuyển giao đến điều kiện phối hợp của toàn bộ hệ thống.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp tổng quan tài liệu có hệ thống với phân tích trắc lượng thư mục nhằm nhận diện xu hướng công bố, mức độ ảnh hưởng, cấu trúc tri thức và các yếu tố tác động đến kết nối giữa nhà khoa học với thị trường KHCN tại Việt Nam (Donthu và cộng sự, 2021). Quy trình lựa chọn tài liệu tuân theo PRISMA 2020 (Page và cộng sự, 2021). Dữ liệu được khai thác từ Scopus bằng chuỗi từ khóa gồm 3 nhóm: hình thức kết nối, chủ thể học thuật và phạm vi Việt Nam.
Phân tích được thực hiện bằng Bibliometrix 4.4.0 và VOSviewer 1.6.19, sau đó đối chiếu với quá trình đọc, mã hóa và tổng hợp nội dung. Từ 1.036 kết quả ban đầu, nghiên cứu loại 607 tài liệu không thuộc phạm vi ngôn ngữ và loại hình công bố, tiếp tục sàng lọc 429 bài theo mức độ liên quan đến Việt Nam, liên kết giữa khu vực học thuật với doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối; qua đó lựa chọn 55 bài cho phân tích cuối cùng (Hình 1).
Hình 1: Sơ đồ quy trình lựa chọn nghiên cứu theo PRISMA
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phân tích trắc lượng thư mục
Các tổ chức công bố hàng đầu
Tập dữ liệu gồm 55 bài được công bố trên 50 nguồn. Hình 2 cho thấy 10 tổ chức có số lượng bài nhiều nhất. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đứng đầu với 10 bài, tiếp theo là RMIT University với 9 bài; Trường Đại học FPT và Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cùng có 6 bài. Các tổ chức dẫn đầu chủ yếu thuộc khối kinh tế và quản trị.
Hình 2: 10 tổ chức có số lượng bài nghiên cứu nhiều nhất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus
Các tác giả có ảnh hưởng
Số liệu tại Bảng cho thấy năng suất công bố của các tác giả trong chủ đề này. Tác giả được nhận diện theo mã định danh Scopus Author ID nhằm hợp nhất các cách viết tên khác nhau của cùng một tác giả (do tên tác giả Việt Nam thường được ghi nhận dưới nhiều dạng khác nhau trong cơ sở dữ liệu). Toàn bộ tập dữ liệu gồm 130 tác giả, trong đó chỉ có 8 tác giả có từ 2 bài trở lên, còn 122 tác giả chỉ có 1 bài, tương ứng 93,8%. Hai tác giả dẫn đầu là Tran Ngoc Ca với 3 bài (Ca, 2007, 2009, 2017): đặt nền móng cho hướng nghiên cứu tại Việt Nam với chủ đề về chuyển giao công nghệ, sứ mệnh thứ ba của trường đại học và hệ thống chính sách. Trong khi đó, cả 3 công bố của Nguyen Thi Ngoc Ha đều thuộc năm 2022 và cùng nghiên cứu học tập gắn với công việc (Ha, 2022; Ha và cộng sự, 2022). Các tác giả còn lại có 2 bài, gồm: Dang Quyen Thao, Nguyen Hieu Thanh, Nguyen Thi Hang, Pham Hiep-Hung, Tran Thi Tuyet và Vo Thi Kim Oanh. Qua đó cho thấy chủ đề nghiên cứu này chưa hình thành đề tài và hướng nghiên cứu chuyên sâu theo thời gian.
Bảng: Các tác giả có số lượng nghiên cứu nổi bật
| STT | Tác giả | Số bài nghiên cứu | Cơ quan công tác |
|---|---|---|---|
| 1 | Nguyen Thi Ngoc Ha | 3 | Victoria University, Australia |
| 2 | Tran Ngoc Ca | 3 | Viện Chiến lược và Chính sách KHCN (NISTPASS), Việt Nam |
| 3 | Dang Quyen Thao | 2 | RMIT University, Việt Nam |
| 4 | Nguyen Hieu Thanh | 2 | Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Việt Nam |
| 5 | Nguyen Thi Hang | 2 | Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông - Đại học Thái Nguyên, Việt Nam |
| 6 | Pham Hiep-Hung | 2 | Trường Đại học Thành Đô và Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam |
| 7 | Tran Thi Tuyet | 2 | RMIT University, Australia |
| 8 | Vo Thi Kim Oanh | 2 | Trường Đại học FPT (Swinburne Việt Nam), Việt Nam |
Nguồn: Nhóm tác giả phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus
Phân tích đồng xuất hiện từ khóa
Nghiên cứu sử dụng VOSviewer để phân tích toàn bộ từ khóa tác giả và từ khóa chỉ mục trong 55 bài. Do quy mô tập dữ liệu nhỏ, sau khi chuẩn hóa và sàng lọc, 127 từ khóa đáp ứng ngưỡng. Hình 3 cho thấy “vietnam” là nút trung tâm với 18 lần xuất hiện; tiếp theo là “technology transfer” (10 lần), “university-industry collaboration” và “higher education” (7 lần), “knowledge transfer” (6 lần). Các từ khóa phản ánh 2 trục nội dung: chuyển giao và thương mại hóa công nghệ; và hợp tác đào tạo, nhân lực. Theo thời gian, trọng tâm chuyển từ vấn đề pháp lý và kỹ thuật sang hợp tác đào tạo, rồi đến hợp tác chiến lược gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Hình 3: Mạng lưới đồng xuất hiện từ khóa theo lớp thời gian
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus bằng VOSviewer
Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối nhà khoa học với thị trường khoa học và công nghệ
Dựa trên tổng hợp nội dung 55 bài báo, các yếu tố ảnh hưởng được hệ thống hóa thành 4 nhóm chính:
Nhóm yếu tố cá nhân: Động cơ và nhận thức là điểm khởi đầu của sự tham gia vào hợp tác, chuyển giao và thương mại hóa. Ý định thương mại hóa không chỉ xuất phát từ lợi ích kinh tế mà còn phụ thuộc vào thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi; đồng thời, động cơ tạo ra tác động xã hội có thể duy trì sự tham gia khi khuyến khích tài chính còn hạn chế. Khả năng biến động cơ thành hoạt động thực tế còn phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, hiểu nhu cầu doanh nghiệp, diễn giải giá trị ứng dụng, giao tiếp và quản trị quá trình chuyển giao; trong đó, sự hiểu biết của trường đại học về doanh nghiệp là một điều kiện quan trọng đối với chất lượng liên kết (Nguyen và cộng sự, 2018; Doanh và cộng sự, 2021; Lan và cộng sự, 2026).
Nhóm yếu tố tổ chức: gồm định hướng liên kết, năng lực quản trị, nguồn lực, cơ chế khuyến khích và tổ chức trung gian. Hạn chế về tài chính, đầu tư, nhân lực và phân chia lợi ích có thể làm gián đoạn quá trình từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Văn phòng chuyển giao công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và vườn ươm giúp kết nối khu vực hàn lâm với doanh nghiệp khi chủ động đánh giá công nghệ, tìm kiếm đối tác và phát triển thị trường (Tran và Vu, 2022; Ca, 2007; Chen và cộng sự, 2025).
Nhóm yếu tố quan hệ và thị trường: chịu ảnh hưởng của nhu cầu đổi mới, năng lực tiếp nhận công nghệ và mức độ sẵn sàng hợp tác của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam còn ít quan tâm đến hợp tác dài hạn, trong khi nhập khẩu công nghệ thường ít rủi ro hơn so với cùng phát triển công nghệ trong nước. Liên kết bền vững cần có sự tham gia sớm của doanh nghiệp, cùng với niềm tin, cam kết và trao đổi tri thức thực chất (Nguyen D và Nguyen D, 2020; Nguyen và Nguyen, 2020; Luu và Nguyen, 2024).
Nhóm yếu tố thể chế: Chính sách, pháp luật và sở hữu trí tuệ tạo hành lang để trường đại học, nhà khoa học và doanh nghiệp huy động nguồn lực, thiết lập quan hệ hợp tác và khai thác kết quả nghiên cứu. Thách thức chủ yếu không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách mà ở khả năng chuyển hóa chính sách thành quy trình và động lực thực tế cho các chủ thể. Trong đó, quy định rõ ràng về quyền sở hữu, quyền khai thác và phân chia lợi ích có ý nghĩa quan trọng vì quyết định mức độ sẵn sàng đầu tư vào thương mại hóa. Việc nâng cao hiểu biết về sở hữu trí tuệ, hoàn thiện quản lý sáng chế và tạo cơ chế khai thác tài sản trí tuệ minh bạch sẽ góp phần bảo vệ ý tưởng, tạo nguồn thu và thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học (Fatseas, 2009; Nguyen và Mai, 2024).
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Kết luận
Nghiên cứu đã tổng hợp và đánh giá các công trình liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối nhà khoa học với thị trường KHCN tại Việt Nam. Dữ liệu gồm 55 bài nghiên cứu được lựa chọn từ Scopus theo quy trình PRISMA, trong giai đoạn 2005-2026. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện chính. Thứ nhất, lĩnh vực này tại Việt Nam phát triển rõ từ sau năm 2017 và tăng nhanh trong giai đoạn 2022-2026. Thứ hai, 55 bài được phân bố trong đó, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và RMIT University là 2 tổ chức dẫn đầu. Thứ ba, cấu trúc từ khóa cho thấy trọng tâm nghiên cứu chuyển dịch từ sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ sang hợp tác đào tạo và gần đây sang hợp tác chiến lược gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Thứ tư, các yếu tố ảnh hưởng được phân thành 4 nhóm chính.
Hàm ý chính sách
Từ các kết quả trên, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách.
Đối với trường đại học và viện nghiên cứu: Hoạt động hợp tác với doanh nghiệp và tác động thực tiễn cần được ghi nhận chính thức trong hệ thống đánh giá cán bộ. Bên cạnh đó, cần bổ sung đào tạo về thị trường, sở hữu trí tuệ, đàm phán và quản trị dự án, đồng thời nâng cao năng lực thấu hiểu doanh nghiệp của đội ngũ giảng viên.
Đối với tổ chức trung gian, các văn phòng chuyển giao công nghệ và vườn ươm: Cần chuyển từ vai trò hành chính sang vai trò dẫn dắt chủ động trong đánh giá công nghệ, tìm kiếm đối tác và phát triển thị trường.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý và khai thác tài sản trí tuệ tạo ra từ ngân sách; đơn giản hóa thủ tục thương mại hóa và tạo cơ chế tài chính linh hoạt cho các dự án hợp tác đại học - doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu giới hạn ở dữ liệu Scopus và các công trình tiếng Anh, nên có thể bỏ sót tài liệu tiếng Việt, luận án và báo cáo chính sách. Quy mô 55 bài tương đối nhỏ đối với phân tích trắc lượng thư mục; việc mở rộng sang hợp tác đào tạo cũng có thể làm giảm mức độ tập trung vào thương mại hóa công nghệ. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng sang Web of Science, Dimensions, OpenAlex và các nguồn quốc gia, đồng thời bổ sung tài liệu tiếng Việt. Các nghiên cứu thực nghiệm nên kiểm định khung 4 nhóm yếu tố và phân tích sâu hơn năng lực hấp thụ, động cơ hợp tác của doanh nghiệp cùng tác động của thay đổi thể chế.
(*) Lời cảm ơn: Công bố được thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ “Xây dựng giải pháp tăng cường kết nối các nhà khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội với thị trường KHCN ở Việt Nam”.
Tài liệu tham khảo:
1. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.
2. Bui, V. T. T., & Takuro, K. (2024). Exploring university-industry collaboration in Vietnam: An in-depth review of types and influencing factors. Industry and Higher Education, 38(6), 499-514.
3. Ca, T. N. (2007). Turning science into business in developing countries: The case of vaccine production in Vietnam. The Journal of Technology Transfer, 32(4), 425-434.
4. Ca, T. N. (2009). Reaching out to society: Vietnamese universities in transition. Science and Public Policy, 36(2), 91-95.
5. Ca, T. N. (2017). 391 University system in Vietnam: Some technology transfer practice. In University Technology Transfer: The globalization of academic innovation (pp. 391-415). Routledge.
6. Chen, Z., Little, V. J., & Thuan, N. H. (2025). The evolving role of technology transfer offices in the entrepreneurial university: Go-betweens or playmakers? The Journal of Technology Transfer, 50(3), 1060-1079.
7. Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128-152.
8. Dang, Q. T., Rammal, H. G., & Nguyen, T. Q. (2024). University-industry knowledge collaborations in emerging countries: The outcomes and effectiveness in Vietnam. Knowledge Management Research & Practice, 22(6), 600-619.
9. Doanh, D. C., Bernat, T., Hieu, N. T., Ngoc, N. B., & Linh, N. T. P. (2021). Academic entrepreneurship: An empirical research of invention commercialisation. Central European Business Review, 10(4), 33.
10. Donthu, N., Kumar, S., Mukherjee, D., Pandey, N., & Lim, W. M. (2021). How to conduct a bibliometric analysis: An overview and guidelines. Journal of Business Research, 133, 285-296.
11. Etzkowitz, H., & Leydesdorff, L. (2000). The dynamics of innovation: From National Systems and “Mode 2” to a Triple Helix of university–industry–government relations. Research Policy, 29(2), 109-123.
12. Fatseas, M. (2009). Research-industry cooperation supporting development in Vietnam: The challenge of translating policy into practice. In Reforming higher education in Vietnam: Challenges and priorities (pp. 103-115). Springer.
13. Ha, N. T. N. (2022). The involvement of industry professionals and barriers to involvement in work-integrated learning: The case of the profession-oriented higher education framework in Vietnam. Journal of Education and Work, 35(1), 92-107.
14. Ha, N. T. N., Dakich, E., & Grieshaber, S. (2022). Factors influencing the participation of industry professionals in Work-Integrated Learning in Vietnamese universities: A qualitative approach. Higher Education, Skills and Work-Based Learning, 12(3), 574-587.
15. Hoc, L. H., & Trong, N. D. (2019). University-industry linkages in promoting technology transfer: A study of Vietnamese technical and engineering universities. Science, Technology and Society, 24(1), 73-100.
16. Lan, A. N. T., Van, A. D. T., Nguyen, D. V., & Nguyen, D. N. (2026). Understanding university-industry linkages and training quality. International Journal of Management in Education, 20(3), 324-339.
17. Luu, B. N., & Nguyen, T. H. (2024). University and industry collaboration in knowledge sharing, research-technology transfer, and innovation. Knowledge Transformation and Innovation in Global Society: Perspective in a Changing Asia, 407-426.
18. Nahapiet, J., & Ghoshal, S. (1998). Social capital, intellectual capital, and the organizational advantage. Academy of Management Review, 23(2), 242-266.
19. Nguyen D, M., & Nguyen D, T. (2020). The New Model for Teaching Collaboration between Universities and Enterprises: In the Case of Vietnam. International Journal of Education and Practice, 8(2), 233-247.
20. Nguyen, P. Q., & Mai, T. N. (2024). Legal rules on patent exploitation and management for innovation in Vietnamese universities. Edelweiss Applied Science and Technology, 8(6), 9652-9669.
21. Nguyen, T. Q., & Nguyen, H. T. T. (2020). Factors affecting industry and university collaboration in education in the hospitality industry in Vietnam: A business perspective. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(2), 291-300.
22. Nguyen, T. V., Nguyen, L. T., & Nguyen, H. H. (2018). Fostering academic entrepreneurship: A qualitative study of invention commercialization in Vietnam. Journal of Developmental Entrepreneurship, 23(04), 1850023.
23. Page, M. J., McKenzie, J. E., Bossuyt, P. M., Boutron, I., Hoffmann, T. C., Mulrow, C. D., Shamseer, L., Tetzlaff, J. M., Akl, E. A., & Brennan, S. E. (2021). The PRISMA 2020 statement: An updated guideline for reporting systematic reviews. Bmj, 372.
24. Parajuli, D., Vo, D. K., Salmi, J., & Tran, N. T. A. (2020). Improving the performance of higher education in Vietnam: Strategic priorities and policy options.
25. Tran, T. B. H., & Vu, A. D. (2022). Effect of university-enterprise alliance orientation on university’s innovation performance and market performance: Evidence from Vietnam. Journal of Marketing for Higher Education, 32(2), 238-258.
26. Tran, T. T. (2017). Research choice: Pragmatism in conducting research about universityenterprise collaboration in the Vietnamese context. Revista Lusófona de Educação. DOI:10.24140/issn.1645-7250.rle36.05
| Ngày nhận bài: 23/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/9/2026; Ngày duyệt đăng: 14/10/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp


