Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 17:10 | 18/10/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng đóng vai trò then chốt trong quản lý và điều phối logistics đô thị.

Mai Xuân Đào

Email: [email protected]

Trần Thị Lan Nhung, Đoàn Nam Hải, Trần Thị Trà Giang, Nguyễn Thị Huyền

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Tóm tắt

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh, dữ liệu trở thành nguồn lực ngày càng quan trọng đối với quản lý và điều phối logistics đô thị. Nghiên cứu này xây dựng khung phân tích cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị gồm 7 thành tố và vận dụng để đánh giá thực trạng tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phân tích tài liệu, phỏng vấn 5 chuyên gia và khảo sát 50 doanh nghiệp logistics, vận tải, kho bãi và thương mại điện tử. Kết quả cho thấy TP. Hồ Chí Minh đã hình thành nền tảng ban đầu về chiến lược, pháp lý và hạ tầng dữ liệu, nhưng vẫn tồn tại các hạn chế về cơ chế quản trị thống nhất, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, nền tảng dữ liệu dùng chung và cơ chế khuyến khích chia sẻ dữ liệu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp đối với doanh nghiệp và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh.

Từ khóa: Cơ chế quản trị dữ liệu, dữ liệu logistics, đô thị, TP. Hồ Chí Minh

Abstract

In the context of digital transformation and smart city development, data has become an increasingly important resource for urban logistics management and coordination. The study develops an analytical framework for urban logistics data governance mechanisms comprising seven components and applies it to assess the current situation in Ho Chi Minh City. The research data were collected through document analysis, interviews with five experts, and a survey of 50 enterprises in the logistics, transportation, warehousing, and e-commerce sectors. The findings show that Ho Chi Minh City has established an initial foundation in terms of strategy, legal frameworks, and data infrastructure. However, several limitations remain, including the lack of a unified governance mechanism, data standardization and interoperability, a shared data platform, and mechanisms to encourage data sharing. Based on these findings, the study proposes solutions for enterprises and policy recommendations to improve the urban logistics data governance mechanism in Ho Chi Minh City.

Keywords: Data governance mechanism, logistics data, urban areas, Ho Chi Minh City

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng đóng vai trò then chốt trong quản lý và điều phối logistics đô thị. TP. Hồ Chí Minh với vai trò đầu mối logistics phía Nam, đang đối mặt với tình trạng phân mảnh dữ liệu giữa các chủ thể (Nhà nước, doanh nghiệp, sàn thương mại điện tử), gây hạn chế trong chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ thông tin, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả vận tải và hoạch định chính sách. Mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã đặt nền tảng lý thuyết về quản trị dữ liệu đô thị, nhưng vẫn còn khoảng trống khi áp dụng vào lĩnh vực logistics đô thị, đặc biệt tại Việt Nam.

Xuất phát từ lý do trên, nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị tại TP. Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp, khuyến nghị chính sách hoàn thiện theo hướng chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu hiệu quả.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Logistics đô thị

Logistics đô thị trong nghiên cứu này được tiếp cận theo hướng kết hợp giữa cách tiếp cận hệ thống của Taniguchi và cộng sự (2003) với cách tiếp cận dịch vụ của Dablanc (2017). Theo đó, logistics đô thị là toàn bộ các hoạt động tổ chức, cung ứng dịch vụ nhằm quản lý hiệu quả việc vận chuyển, phân phối, lưu trữ và xử lý hàng hóa trong phạm vi không gian đô thị, được thực hiện bởi nhiều chủ thể (doanh nghiệp vận tải, logistics, nền tảng công nghệ) dưới sự điều phối của chính quyền đô thị, nhằm đáp ứng đồng thời hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và các mục tiêu công cộng về giao thông, môi trường và chất lượng sống đô thị.

Quản trị dữ liệu logistics đô thị

Quản trị dữ liệu logistics đô thị được hiểu là quá trình thiết lập và thực thi các chính sách, tiêu chuẩn, quy trình và trách nhiệm nhằm bảo đảm việc thu thập, lưu trữ, tích hợp, chia sẻ và khai thác hiệu quả dữ liệu liên quan đến hoạt động logistics trong khu vực đô thị. Mục tiêu của quản trị dữ liệu là bảo đảm chất lượng, tính minh bạch, tính bảo mật và khả năng sử dụng dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định và tối ưu hóa hoạt động logistics (DAMA International, 2017; European Commission, 2024).

Cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị

Trên cơ sở Lý thuyết quản trị dữ liệu của DAMA International (2017) và các khuyến nghị về chia sẻ dữ liệu, quản trị logistics đô thị của European Commission (2024), cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị được hiểu là tổng thể các thiết chế, quy định, quy trình phối hợp và công cụ thực thi được thiết lập nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể tham gia hệ sinh thái logistics đô thị trong việc tạo lập, chia sẻ, quản lý và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý đô thị và phát triển logistics bền vững.

Khung cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị

Các nghiên cứu về quản trị dữ liệu đô thị được hình thành từ các mô hình quản trị dữ liệu cấp độ tổ chức. Khatri và Brown (2010) xác định 5 lĩnh vực quản trị cốt lõi gồm nguyên tắc dữ liệu, chất lượng dữ liệu, siêu dữ liệu, quyền truy cập và vòng đời dữ liệu. DAMA International (2017) phát triển khung DAMA-DMBOK với quản trị dữ liệu giữ vai trò trung tâm điều phối các hoạt động quản lý dữ liệu. Abraham và cộng sự (2019) bổ sung 3 nhóm cơ chế quản trị gồm cơ chế cấu trúc, thủ tục và quan hệ, làm rõ cách thức triển khai quản trị dữ liệu trong môi trường đa chủ thể.

Trong bối cảnh đô thị, các khung lý thuyết chuyên biệt được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu chia sẻ và phối hợp dữ liệu giữa nhiều bên liên quan. Paskaleva và cộng sự (2017) nhấn mạnh sự tham gia của các bên liên quan và hợp tác liên tổ chức trong toàn bộ vòng đời dữ liệu đô thị. Jeong và cộng sự (2020) đề xuất mô hình City Data Hub nhằm bảo đảm chuẩn hóa và khả năng liên thông dữ liệu. OECD (2023) nhấn mạnh vai trò của cơ chế phối hợp, tiêu chuẩn dữ liệu và chia sẻ dữ liệu công - tư. Trong khi đó, Bozkurt và cộng sự (2022, 2025) phát triển mô hình quản trị dữ liệu đô thị tích hợp, nhấn mạnh các yêu cầu về phối hợp đa chủ thể, giảm phân mảnh dữ liệu, xây dựng văn hóa dữ liệu và cải tiến liên tục.

Kế thừa các cách tiếp cận trên, nghiên cứu đề xuất khung cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị tích hợp đa chủ thể cho TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, Khatri và Brown (2010) cung cấp cơ sở xác định các nội dung cần quản trị; Abraham và cộng sự (2019) cung cấp cơ chế thực thi; Paskaleva và cộng sự (2017) và OECD (2023) bổ sung góc nhìn quản trị đô thị đa chủ thể; Jeong và cộng sự (2020) cung cấp nền tảng liên thông dữ liệu; Bozkurt và cộng sự (2025) bổ sung các yêu cầu về phối hợp, văn hóa dữ liệu và cải tiến liên tục. Trên cơ sở đó, khung cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị được đề xuất gồm 7 thành tố: (1) bối cảnh và chiến lược; (2) chủ thể và quyền quyết định; (3) thể chế và pháp lý; (4) chuẩn hóa và vòng đời dữ liệu; (5) chia sẻ, truy cập và liên thông dữ liệu; (6) nền tảng và hạ tầng dữ liệu; và (7) cơ chế khuyến khích, niềm tin, giám sát và cải tiến. Bảy thành tố này được lựa chọn vì phù hợp với đặc điểm logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh, nơi dữ liệu phân tán giữa nhiều chủ thể công và tư, có tính liên ngành, một phần yêu cầu cập nhật thời gian thực và chứa thông tin mang giá trị thương mại. Do đó, cơ chế quản trị cần đồng thời bao quát các khía cạnh về chủ thể, thể chế, tiêu chuẩn dữ liệu, chia sẻ và liên thông dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, cũng như cơ chế tạo niềm tin và khuyến khích chia sẻ dữ liệu. Khung phân tích này được sử dụng để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp, khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện thông qua lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước và các văn bản luật liên quan đề tài. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn chuyên gia và khảo sát doanh nghiệp được thực hiện vào tháng 8/2026.

Kết quả phỏng vấn 5 chuyên gia là nhà nghiên cứu, quản lý trong doanh nghiệp có hoạt động logistics, vận tải cho thấy cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh còn tồn tại các hạn chế chính gồm dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa và liên thông, thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu và chưa có một nền tảng quản trị/chia sẻ dữ liệu chuyên biệt cho logistics đô thị có khả năng tích hợp xuyên suốt các chủ thể nhà nước - cảng - cảng cạn (ICD) - vận tải - kho bãi - doanh nghiệp. Các chuyên gia thống nhất cần ưu tiên hoàn thiện khung quản trị dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các bên liên quan.

Kết quả khảo sát 50 doanh nghiệp (vận tải hàng hóa, giao nhận, kho bãi, logistics bên thứ ba - 3PL, logistics bên thứ tư - 4PL, thương mại điện tử) được sử dụng để bổ trợ cho việc đánh giá thực trạng, không nhằm mục tiêu suy rộng thống kê cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp liên quan đề tài tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, các doanh nghiệp được khảo sát đánh giá cao vai trò của dữ liệu và sẵn sàng chia sẻ dữ liệu logistics nếu có cơ chế phù hợp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đánh giá TP. Hồ Chí Minh vẫn đối mặt với các hạn chế về khung pháp lý, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, nền tảng dữ liệu dùng chung và cơ chế khuyến khích chia sẻ dữ liệu. Do đó, các doanh nghiệp được khảo sát kiến nghị ưu tiên xây dựng nền tảng dữ liệu logistics dùng chung, cùng với cơ chế pháp lý, bảo mật và chia sẻ lợi ích rõ ràng để thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu logistics đô thị liên thông.

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN TRỊ DỮ LIỆU LOGISTICS ĐÔ THỊ TP. HỒ CHÍ MINH

Kết quả đạt được

Nghiên cứu đánh giá thực trạng cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2023-2026, trên cơ sở rà soát các văn bản, tài liệu được công bố.

Thứ nhất, về bối cảnh và chiến lược: UBND TP. Hồ Chí Minh (2026a) đã ban hành Quyết định số 1281/QĐ-UBND về Chiến lược phát triển dữ liệu số TP. Hồ Chí Minh 2026-2030, tầm nhìn 2035 và Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026e), tạo nền tảng cho chuyển đổi số và phát triển logistics. Tuy nhiên, qua rà soát các văn bản chiến lược và kế hoạch được công bố, nghiên cứu chưa ghi nhận một chiến lược chuyên biệt về quản trị dữ liệu logistics đô thị, dẫn đến dữ liệu logistics còn phân tán giữa các cơ quan và doanh nghiệp, hạn chế khả năng chia sẻ, liên thông và khai thác dữ liệu phục vụ điều phối logistics đô thị.

Thứ hai, về chủ thể và quyền quyết định dữ liệu: Cơ chế hiện hành có sự tham gia của nhiều sở, ngành, các doanh nghiệp như logistics, vận tải, doanh nghiệp có hoạt động logistics/vận tải, doanh nghiệp thương mại điện tử…, đơn vị hạ tầng, nền tảng công nghệ và các tổ chức liên quan. Tuy nhiên, đối với từng nhóm dữ liệu logistics, vai trò của chủ sở hữu, chủ quản, đơn vị quản trị và chủ thể được quyền khai thác chưa được xác định đầy đủ. Điều này làm phát sinh khoảng trống về trách nhiệm khi dữ liệu được tạo lập bởi một chủ thể nhưng được khai thác bởi nhiều chủ thể khác nhau.

Thứ ba, về thể chế và pháp lý: TP. Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống văn bản nền tảng cho quản trị dữ liệu nói chung, gồm Chiến lược phát triển dữ liệu số TP. Hồ Chí Minh 2026-2030, tầm nhìn 2035; Khung kiến trúc số Thành phố; Khung kiến trúc dữ liệu và Khung quản trị, quản lý dữ liệu Thành phố; Quy chế quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của Thành phố; Quyết định số 4944/QĐ-UBND về danh mục dữ liệu mở của TP. Hồ Chí Minh (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026a, 2025, 2026b, 2026c, 2026d), cùng quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị theo Nghị định số 278/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2025). Đối với dịch vụ logistics thì có Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026e). Các văn bản này đã tạo lập một khung thể chế và nguyên tắc quản trị dữ liệu chung khá đầy đủ ở cấp Thành phố, làm cơ sở cho việc hình thành các cơ sở dữ liệu dùng chung và thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan. Tuy nhiên, các khung quản trị nêu trên được thiết kế cho dữ liệu của cơ quan nhà nước và dữ liệu đô thị nói chung, chưa có quy định, tiêu chuẩn hay cơ chế phối hợp chuyên biệt để giải quyết các đặc thù của dữ liệu logistics liên ngành - vốn có sự tham gia sâu của khối doanh nghiệp tư nhân (cảng, kho bãi, vận tải, thương mại điện tử), yêu cầu cập nhật gần thời gian thực và chứa nhiều thông tin mang giá trị thương mại. Đây là khoảng trống thể chế cụ thể mà nghiên cứu này tập trung làm rõ, thay vì một khoảng trống toàn diện về quản trị dữ liệu ở cấp Thành phố.

Thứ tư, về chuẩn hóa và vòng đời dữ liệu: mặc dù TP. Hồ Chí Minh đã thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và chuyển đổi số, dữ liệu logistics vẫn phân tán giữa các hệ thống của cảng biển, kho bãi, doanh nghiệp vận tải và cơ quan quản lý. Chẳng hạn, dữ liệu lưu lượng hàng hóa qua cảng, công suất kho bãi và dữ liệu phương tiện vận tải thường được quản lý bởi các hệ thống khác nhau, một số chỉ tiêu vẫn được tổng hợp định kỳ từ báo cáo doanh nghiệp hoặc bảng tính Excel. Điều này cho thấy, thách thức không chỉ nằm ở việc tạo lập dữ liệu mà còn ở quản trị dữ liệu xuyên suốt vòng đời, từ thu thập, cập nhật và lưu trữ đến chia sẻ, khai thác và loại bỏ dữ liệu.

Thứ năm, về chia sẻ, truy cập và liên thông dữ liệu: TP. Hồ Chí Minh đã triển khai nền tảng chia sẻ dữ liệu và từng bước phát triển dữ liệu mở, tạo tiền đề hình thành hệ sinh thái dữ liệu dùng chung. Tuy nhiên, mức độ liên thông giữa các hệ thống vẫn còn hạn chế. Chẳng hạn, dữ liệu container tại cảng, dữ liệu thông quan của Hải quan, dữ liệu hành trình phương tiện vận tải và dữ liệu tồn kho tại các trung tâm logistics hiện vẫn được lưu trữ trên các hệ thống riêng biệt, chưa có cơ chế chia sẻ và khai thác thống nhất. Do đó, mặc dù đã có các cơ chế chia sẻ dữ liệu, TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa hình thành được một hệ sinh thái dữ liệu logistics liên thông ở quy mô toàn Thành phố, cho phép các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai thác dữ liệu xuyên suốt chuỗi logistics đô thị.

Thứ sáu, về nền tảng và hạ tầng dữ liệu: TP. Hồ Chí Minh đã hình thành một số cấu phần hạ tầng dữ liệu dùng chung như kho dữ liệu, nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu, trung tâm điều hành đô thị thông minh, cùng các nền tảng dữ liệu chuyên ngành trong lĩnh vực dân cư, y tế, giáo dục, đất đai, quy hoạch và giao thông. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu và nền tảng dữ liệu logistics chuyên ngành vẫn đang trong quá trình hình thành. Chẳng hạn, dữ liệu cảng biển, ICD, kho bãi, phương tiện vận tải và doanh nghiệp logistics hiện vẫn được quản lý trên các hệ thống riêng biệt, chưa được tích hợp trên một nền tảng dữ liệu logistics thống nhất của Thành phố. Do đó, khả năng kết nối và khai thác dữ liệu logistics phục vụ điều phối đô thị còn hạn chế.

Thứ bảy, về cơ chế khuyến khích, niềm tin, giám sát và cải tiến: TP. Hồ Chí Minh đã chú trọng bảo đảm an toàn thông tin, xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung và triển khai Chiến lược phát triển dữ liệu số TP. Hồ Chí Minh 2026-2030, tầm nhìn 2035, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ và khai thác dữ liệu an toàn. Tuy nhiên, cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu logistics vẫn chưa rõ ràng. Chẳng hạn, các doanh nghiệp cảng biển, vận tải, kho bãi và thương mại điện tử đang nắm giữ dữ liệu có giá trị như luồng hàng, hành trình phương tiện và công suất kho bãi, nhưng chưa có cơ chế cụ thể về chia sẻ lợi ích, hỗ trợ chi phí kết nối hoặc trách nhiệm đối với chất lượng dữ liệu. Bên cạnh đó, lo ngại về bí mật kinh doanh và an toàn dữ liệu vẫn là rào cản đối với việc chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể.

Đánh giá thực trạng cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh

Qua phân tích thực trạng và kết quả từ phỏng vấn chuyên gia, khảo sát doanh nghiệp ở trên, thực trạng cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh được đánh giá như sau:

Về mặt tích cực, TP. Hồ Chí Minh đã bước đầu hình thành nền tảng cho quản trị dữ liệu logistics đô thị thông qua việc ban hành chiến lược quản trị dữ liệu và các chương trình phát triển logistics; xây dựng cơ sở pháp lý cho quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu; phát triển hạ tầng số dùng chung như kho dữ liệu, nền tảng tích hợp dữ liệu, trung tâm điều hành đô thị thông minh và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Thành phố cũng đã triển khai một số nền tảng chia sẻ dữ liệu, thúc đẩy dữ liệu mở và tăng cường bảo đảm an toàn thông tin trong quá trình chuyển đổi số. Kết quả khảo sát doanh nghiệp và phỏng vấn chuyên gia cho thấy, các chủ thể đều nhận thức rõ vai trò của dữ liệu và có sự đồng thuận cao về nhu cầu xây dựng hệ sinh thái dữ liệu logistics dùng chung.

Về mặt hạn chế, cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị của TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa hoàn thiện. Thành phố chưa có chiến lược chuyên biệt về quản trị dữ liệu logistics đô thị; quyền sở hữu, quản trị và khai thác dữ liệu giữa các chủ thể chưa được xác định rõ; khung pháp lý chưa bao quát đầy đủ các yêu cầu đặc thù của dữ liệu logistics liên ngành. Dữ liệu logistics còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và được lưu trữ trên nhiều hệ thống riêng biệt; mức độ chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa cơ quan nhà nước, cảng biển, doanh nghiệp và các nền tảng công nghệ còn hạn chế. Đồng thời, TP. Hồ Chí Minh chưa hình thành nền tảng dữ liệu logistics thống nhất cấp Thành phố và chưa có cơ chế khuyến khích đủ mạnh về chia sẻ lợi ích, bảo mật dữ liệu, hỗ trợ chi phí kết nối và giám sát chất lượng dữ liệu, làm giảm động lực tham gia chia sẻ dữ liệu của doanh nghiệp.

Tóm lại, TP. Hồ Chí Minh đã có nền tảng ban đầu về chiến lược, pháp lý và hạ tầng dữ liệu, nhưng cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị hiện mới ở giai đoạn hình thành. Những hạn chế nổi bật tập trung ở 4 vấn đề cốt lõi: (1) thiếu cơ chế quản trị thống nhất; (2) thiếu chuẩn hóa và liên thông dữ liệu; (3) chưa có một nền tảng quản trị/chia sẻ dữ liệu chuyên biệt cho logistics đô thị có khả năng tích hợp xuyên suốt các chủ thể nhà nước - cảng - ICD - vận tải - kho bãi - doanh nghiệp; và (4) thiếu cơ chế khuyến khích và bảo đảm niềm tin cho các chủ thể tham gia chia sẻ dữ liệu.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Đối với doanh nghiệp

Để khắc phục tình trạng thiếu cơ chế quản trị dữ liệu thống nhất, các doanh nghiệp logistics, vận tải, doanh nghiệp có hoạt động logistics/giao nhận, doanh nghiệp thương mại điện tử cần chủ động xây dựng quy chế quản trị dữ liệu nội bộ, xác định rõ trách nhiệm tạo lập, cập nhật, quản lý và khai thác dữ liệu của từng bộ phận. Đồng thời, doanh nghiệp cần phân loại dữ liệu theo mức độ nhạy cảm, giá trị sử dụng và phạm vi chia sẻ nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối với cơ chế quản trị dữ liệu cấp Thành phố.

Đối với hạn chế về chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, doanh nghiệp cần đẩy mạnh chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, khách hàng, phương tiện, hành trình vận chuyển, kho bãi và chi phí logistics theo các tiêu chuẩn chung; đồng thời tăng cường sử dụng các hệ thống Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), Hệ thống quản lý vận tải (TMS), Hệ thống quản lý kho hàng (WMS) và các công cụ thu thập dữ liệu tự động để giảm sự phụ thuộc vào các phương thức xử lý thủ công. Việc nâng cao chất lượng dữ liệu ngay từ khâu tạo lập sẽ góp phần cải thiện khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu trong toàn chuỗi logistics.

Để hỗ trợ hình thành nền tảng dữ liệu logistics dùng chung của Thành phố, các doanh nghiệp cần nâng cao khả năng kết nối và tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống thông tin thông qua các công nghệ trao đổi dữ liệu tự động và các chuẩn kết nối chung. Việc chủ động tham gia các nền tảng chia sẻ dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng phối hợp với cảng biển, ICD, kho bãi, doanh nghiệp vận tải và cơ quan quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, để tạo dựng niềm tin trong chia sẻ dữ liệu, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư cho an toàn thông tin, mã hóa dữ liệu, kiểm soát quyền truy cập và quản trị rủi ro dữ liệu. Đồng thời, cần xây dựng các thỏa thuận chia sẻ dữ liệu minh bạch, bảo đảm bí mật kinh doanh và quyền lợi của các bên tham gia để nâng cao mức độ sẵn sàng chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái logistics đô thị.

Khuyến nghị chính sách đối với cơ quan nhà nước

Để giải quyết tình trạng thiếu cơ chế quản trị thống nhất, UBND TP. Hồ Chí Minh cần chủ trì xây dựng khung quản trị dữ liệu logistics đô thị thống nhất cho toàn Thành phố, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối hợp của các chủ thể tham gia, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, cảng biển, ICD, doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp vận tải và các nền tảng công nghệ. Đồng thời, Thành phố cần giao 1 đầu mối chuyên trách điều phối dữ liệu logistics nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quản lý và khai thác dữ liệu.

Đối với hạn chế về chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, UBND Thành phố nên xem xét giao các cơ quan đầu mối có chức năng phù hợp phối hợp xây dựng bộ tiêu chuẩn dữ liệu logistics đô thị thống nhất, bao gồm tiêu chuẩn về dữ liệu phương tiện, hàng hóa, kho bãi, cảng biển, hành trình vận tải và kết nối dữ liệu. Đây là cơ sở để nâng cao khả năng liên thông giữa các hệ thống hiện đang vận hành độc lập.

Để khắc phục tình trạng chưa có một nền tảng quản trị/chia sẻ dữ liệu chuyên biệt cho logistics đô thị có khả năng tích hợp xuyên suốt các chủ thể nhà nước - cảng - ICD - vận tải - kho bãi - doanh nghiệp, UBND Thành phố nên xem xét giao các cơ quan đầu mối có chức năng phù hợp ưu tiên xây dựng nền tảng dữ liệu logistics dùng chung của Thành phố. Nền tảng này cần cho phép kết nối dữ liệu từ cảng biển, ICD, kho bãi, doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp có hoạt động logistics/vận tải, doanh nghiệp thương mại điện tử và cơ quan quản lý nhà nước nhằm hình thành hệ sinh thái dữ liệu logistics đô thị.

Để giải quyết hạn chế về cơ chế khuyến khích và niềm tin trong chia sẻ dữ liệu, UBND Thành phố nên xem xét giao cơ quan đầu mối có chức năng phù hợp xây dựng các chính sách hỗ trợ chi phí kết nối dữ liệu, cơ chế chia sẻ lợi ích từ khai thác dữ liệu và các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia cung cấp dữ liệu. Song song với đó, việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu, kiểm soát quyền truy cập, giám sát chất lượng dữ liệu và bảo vệ bí mật kinh doanh nhằm tạo dựng niềm tin cho doanh nghiệp khi tham gia chia sẻ dữ liệu nên được UBND Thành phố giao các cơ quan có chức năng phù hợp phối hợp hoàn thiện.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy, TP. Hồ Chí Minh đã có những bước tiến quan trọng trong xây dựng nền tảng quản trị dữ liệu phục vụ phát triển logistics đô thị, song cơ chế hiện hành vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị dữ liệu trong môi trường đa chủ thể. Những hạn chế nổi bật gồm thiếu cơ chế quản trị thống nhất, thiếu chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, chưa có 1 nền tảng quản trị/chia sẻ dữ liệu chuyên biệt cho logistics đô thị có khả năng tích hợp xuyên suốt các chủ thể nhà nước - cảng - ICD - vận tải - kho bãi - doanh nghiệp và thiếu động lực để các doanh nghiệp tham gia chia sẻ dữ liệu. Do đó, TP. Hồ Chí Minh cần ưu tiên xây dựng khung quản trị dữ liệu logistics đô thị thống nhất, chuẩn hóa dữ liệu, phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung và hoàn thiện cơ chế bảo mật, chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành hệ sinh thái dữ liệu logistics đô thị liên thông, nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh logistics của Thành phố trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:

1. Abraham, R., Schneider, J., & vom Brocke, J. (2019). Data governance: A conceptual framework, structured review, and research agenda. International Journal of Information Management, 49, 424-438. doi:10.1016/j.ijinfomgt.2019.07.008

2. Bozkurt, Y., Rossmann, A., & Pervez, Z. (2022). A literature review of data governance and its applicability to smart cities. In Proceedings of the 55th Hawaii International Conference on System Sciences (HICSS).

3. Bozkurt, Y., Rossmann, A., Pervez, Z., & Ramzan, N. (2025). Development and evaluation of an urban data governance reference model based on design science research. Government Information Quarterly, 42(2), 102025. doi:10.1016/j.giq.2025.102025

4. Chính phủ (2025). Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22 /10/2025 về chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa cơ quan thuộc hệ thống chính trị.

5. Dablanc, L. (2017). City Logistics. In D. Richardson, N. Castree, M. F. Goodchild, 6. A. Kobayashi, W. Liu, & R. A. Marston (Eds.), The International Encyclopedia of Geography: People, the Earth, Environment and Technology. Wiley. https://doi.org/10.1002/9781118786352.wbieg0137

7. DAMA International. (2017). The DAMA Guide to the Data Management Body of Knowledge (DAMA-DMBOK2). Technics Publications.

8. European Commission (2024). Recommendations on Urban Logistics: Data Sharing for Zero Emission Urban Logistics. Expert Group on Urban Mobility (EGUM).

9. Jeong, S., Kim, S., & Kim, J. (2020). City Data Hub: Implementation of standard-based smart city data platform for interoperability. Sensors, 20(23), 7000. https://doi.org/10.3390/s20237000

10. Khatri, V., & Brown, C. V. (2010). Designing data governance. Communications of the ACM, 53(1), 148-152. doi:10.1145/1629175.1629210

11. OECD (2023). Smart city data governance: Challenges and the way forward. OECD Urban Studies. Paris: OECD Publishing. doi:10.1787/e57ce301-en

12. Paskaleva, K., Evans, J., Martin, C. J., Linjordet, T., Yang, D., & Karvonen, A. (2017). Data governance in the sustainable smart city. Informatics, 4(4), 41. doi:10.3390/informatics4040041

13. Taniguchi, E., Thompson, R. G., & Yamada, T. (2003). Predicting the effects of city logistics schemes. Transport Reviews, 23(4), 489-515. https://doi.org/10.1080/01441640210163999

14. UBND TP. Hồ Chí Minh (2025). Quyết định số 3616/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 về ban hành Khung kiến trúc số TP. Hồ Chí Minh.

15. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026a). Quyết định số 1281/QĐ-UBND ngày 5/3/2026 ban hành Chiến lược phát triển dữ liệu số TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035.

16. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026b). Quyết định số 1293/QĐ-UBND ngày 5/3/2026 về Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu TP. Hồ Chí Minh.

17. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026c). Quyết định số 30/2026/QĐ-UBND ngày 23/5/2026 về Quy chế quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của TP. Hồ Chí Minh.

18. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026d). Quyết định số 4944/QĐ-UBND ngày 8/8/2026 về Danh mục dữ liệu mở của TP. Hồ Chí Minh.

19. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026e). Quyết định số 4752/QĐ-UBND ngày 31/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 6/10/2026; Ngày duyệt đăng: 16/10/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao của phân khúc ẩm thực cao cấp, chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường marketing số, hiểu biết số ngày càng trở thành năng lực quan trọng quyết định khả năng khai thác dữ liệu, nội dung và nền tảng công nghệ của nhân viên.
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài chỉ có thể biến thành quyết định khởi nghiệp thực tế khi chúng được chuyển hóa thành niềm tin vào năng lực cá nhân và tư duy khởi nghiệp.