Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng
TS. Phan Thanh Bình
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu xem xét tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời phân tích vai trò điều tiết của nguồn vốn này trong mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, nợ xấu và khả năng sinh lời. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của 25 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014-2024. Để xử lý các vấn đề nội sinh tiềm ẩn, nghiên cứu sử dụng phương pháp mô men tổng quát hệ thống. Kết quả cho thấy, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn và tăng trưởng tín dụng có tác động tích cực, trong khi nợ xấu có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng làm gia tăng tác động bất lợi của nợ xấu đối với khả năng sinh lời. Kết quả cũng cho thấy tiền gửi không kỳ hạn có vai trò tích cực trong việc khuếch đại tác động của tăng trưởng tín dụng đến khả năng sinh lời. Tuy nhiên, chưa có đủ bằng chứng thống kê để khẳng định tiền gửi không kỳ hạn làm giảm tác động tiêu cực của nợ xấu đến khả năng sinh lời.
Từ khóa: Tiền gửi không kỳ hạn, CASA, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu, khả năng sinh lời
Abstract
This study examines the effect of demand deposits on the profitability of Vietnamese commercial banks and analyzes their moderating role in the relationships among credit growth, non-performing loans, and profitability. Data were collected from the audited financial statements of 25 Vietnamese commercial banks over the 2014-2024 period. To address potential endogeneity issues, the study employs the system generalized method of moments (System GMM). The results show that the demand deposit ratio and credit growth have positive effects on bank profitability, whereas non-performing loans have a negative effect. Credit growth also intensifies the adverse effect of non-performing loans on profitability. Furthermore, demand deposits positively moderate the relationship between credit growth and profitability, amplifying the positive effect of credit growth. However, the evidence is insufficient to establish statistically that demand deposits mitigate the negative effect of non-performing loans on profitability.
Keywords: Demand deposits, CASA, credit growth, non-performing loans, profitability
GIỚI THIỆU
Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại (NHTM), chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng (CGR) và chất lượng danh mục cho vay. Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) có vai trò ngày càng quan trọng nhờ chi phí huy động thấp. Khi được chuyển hóa hiệu quả thành các tài sản sinh lời, đặc biệt là các khoản cho vay, CASA có thể tạo lợi thế về chi phí vốn và cải thiện khả năng sinh lời của ngân hàng.
CGR góp phần mở rộng tài sản sinh lời và gia tăng thu nhập từ hoạt động cho vay. Tuy nhiên, CGR nhanh nếu không được kiểm soát phù hợp có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng và nợ xấu (NPL). Khi NPL tăng, ngân hàng vừa suy giảm thu nhập từ các khoản cho vay, vừa phát sinh thêm chi phí dự phòng và xử lý nợ, qua đó làm giảm khả năng sinh lời. Vì vậy, hiệu quả CGR cần được xem xét đồng thời với chất lượng tín dụng và năng lực kiểm soát rủi ro.
Các nghiên cứu trước chủ yếu xem xét tác động trực tiếp của CASA, CGR và NPL đến khả năng sinh lời như những yếu tố độc lập. Tuy nhiên, tác động của CGR hoặc NPL có thể thay đổi tùy thuộc vào lợi thế nguồn vốn của ngân hàng. Tỷ lệ CASA cao có thể giúp ngân hàng khai thác tốt hơn lợi ích từ mở rộng tín dụng, đồng thời tạo dư địa để hạn chế ảnh hưởng bất lợi của suy giảm chất lượng tín dụng. Mặc dù đã có một số bằng chứng về tác động của CASA tại các NHTM Việt Nam, vai trò điều tiết của CASA trong mối quan hệ đồng thời giữa CGR, NPL và khả năng sinh lời vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Từ khoảng trống đó, nghiên cứu xem xét: (i) tác động trực tiếp của CASA, CGR và NPL đến khả năng sinh lời; (ii) tác động tương tác giữa NPL và CGR; (iii) vai trò điều tiết của CASA thông qua các biến tương tác NPL×CASA và CGR×CASA. Qua đó, nghiên cứu làm rõ liệu lợi thế nguồn vốn chi phí thấp có giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả CGR và hạn chế tác động bất lợi của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời hay không.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết dựa trên nguồn lực
Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) cho rằng, lợi thế cạnh tranh bền vững và hiệu quả hoạt động vượt trội của doanh nghiệp bắt nguồn từ các nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó sao chép và khó thay thế (Barney, 1991). Trong lĩnh vực ngân hàng, nguồn vốn ổn định với chi phí thấp có thể được xem là một nguồn lực chiến lược, giúp giảm chi phí huy động, cải thiện biên lợi nhuận và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.
Theo đó, CASA là nguồn vốn có chi phí tương đối thấp, có thể tạo lợi thế cho ngân hàng khi được chuyển hóa thành các tài sản sinh lời, đặc biệt là tín dụng. Giá trị của CASA không chỉ nằm ở việc giảm chi phí huy động bình quân mà còn ở khả năng hỗ trợ ngân hàng gia tăng khả năng sinh lời và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Vì vậy, RBV cung cấp cơ sở để giải thích cả tác động trực tiếp của CASA và vai trò điều tiết của CASA trong mối quan hệ giữa CGR, rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời.
Lý thuyết trung gian tài chính
Lý thuyết trung gian tài chính (FIT) xem ngân hàng là trung gian huy động vốn từ các chủ thể có vốn thặng dư và chuyển hóa nguồn vốn này thành các khoản cho vay hoặc tài sản sinh lời khác. Thông qua các chức năng chuyển đổi thanh khoản, kỳ hạn và rủi ro, ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính trong nền kinh tế (Diamond và Dybvig, 1983; Diamond, 1984).
Trong khuôn khổ này, tiền gửi là đầu vào quan trọng, còn tín dụng là một trong những tài sản sinh lời chủ yếu của ngân hàng. CASA có lợi thế nhờ chi phí huy động thấp, giúp gia tăng chênh lệch giữa thu nhập từ cho vay và chi phí vốn, đồng thời hỗ trợ mở rộng tín dụng. Tuy nhiên, CGR quá mức hoặc kém hiệu quả có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng, chi phí dự phòng và các chi phí liên quan, từ đó làm suy giảm lợi nhuận. Vì vậy, FIT cung cấp cơ sở giải thích mối quan hệ giữa CASA, CGR, rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời.
Lý thuyết vốn đệm
Lý thuyết vốn đệm (BCT) cho rằng, ngân hàng có thể duy trì mức vốn cao hơn yêu cầu tối thiểu nhằm tạo lớp đệm hấp thụ các khoản lỗ bất ngờ và giảm nguy cơ khó khăn tài chính (Milne và Whalley, 2001). Lớp đệm vốn giúp ngân hàng duy trì hoạt động và tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc bất lợi.
CGR có thể làm gia tăng lợi nhuận nhờ mở rộng tài sản sinh lời, nhưng đồng thời cũng làm tăng rủi ro tín dụng. Khi năng lực hấp thụ tổn thất tốt, ngân hàng có thể hạn chế tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận. Ngược lại, ngân hàng có lớp đệm vốn yếu dễ bị tổn thương hơn trước sự suy giảm chất lượng tài sản.
Mặc dù không trực tiếp giải thích giá trị kinh tế của CASA, Lý thuyết BCT bổ sung cho RBV và FIT khi nhấn mạnh vai trò của khả năng hấp thụ rủi ro trong mối quan hệ giữa nguồn vốn, CGR và khả năng sinh lời.
Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở các lý thuyết trên, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết:
H1: CASA có mối quan hệ cùng chiều với Khả năng sinh lời của NHTM.
H2: CGR có mối quan hệ cùng chiều với Khả năng sinh lời của NHTM.
H3: Nợ xấu có mối quan hệ trái chiều với Khả năng sinh lời của NHTM.
H4: NPL×CGR có mối quan hệ trái chiều với Khả năng sinh lời của NHTM.
H5a: NPL×CASA có mối quan hệ cùng chiều với Khả năng sinh lời của NHTM.
H5b: CGR×CASA có mối quan hệ cùng chiều với Khả năng sinh lời của NHTM.
Để kiểm định các giả thuyết trên, nghiên cứu xây dựng hệ thống biến phản ánh khả năng sinh lời, nguồn vốn, CGR, rủi ro tín dụng và các yếu tố kiểm soát. Cách đo lường các biến được trình bày tại Bảng 1.
Bảng 1: Các biến trong mô hình nghiên cứu
|
Loại biến |
Tên biến |
Ký hiệu |
Công thức tính |
Nghiên cứu trước |
|---|---|---|---|---|
|
Biến phụ thuộc |
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (biến phụ thuộc chính) |
ROAA |
Lợi nhuận sau thuế /Tổng tài sản bình quân |
Lê, H.V. và cộng sự, 2026; Nadia và cộng sự, 2024; Quynh Trang Nguyen và cộng sự, 2024 |
|
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (biến phụ thuộc bổ sung, để kiểm tra tính vững) |
ROAE |
Lợi nhuận sau thuế /Vốn chủ sở hữu bình quân |
||
|
Biến độc lập |
Tiền gửi không kỳ hạn |
CASA |
(Tiền gửi không kỳ hạn + tiền gửi thanh toán)/tổng tiền gửi khách hàng |
Quynh Trang Nguyen và cộng sự, 2024; Phương, P.T.T., 2024; Janakiraman, 2018; |
|
Tăng trưởng tín dụng |
CGR |
(Loant - Loant-1)/Loant-1 |
Nadia và cộng sự, 2024; Wu và cộng sự, 2022 |
|
|
Nợ xấu |
NPL |
(Nợ nhóm 3 + nợ nhóm 4 + nợ nhóm 5)/tổng dư nợ |
Lê, H.V. và cộng sự, 2026; Phương, P.T.T, 2024; |
|
|
Biến kiểm soát |
Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng |
LDR |
Tổng dư nợ cho vay/tiền gửi khách hàng |
Phương, P.T.T, 2024; Lan, N.T. và Hạnh, N.M., 2026 |
|
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản |
ETA |
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản |
Wu và cộng sự, 2022 |
|
|
Quy mô |
SIZE |
ln(Tổng tài sản) |
Dang và cộng sự, 2024; Quynh Trang Nguyen và cộng sự, 2024 |
|
|
Tăng trưởng kinh tế |
GDP |
(GDPt - GDPt-1)/GDPt-1 |
Nadia và cộng sự, 2024; Lan |
|
|
Lạm phát |
INF |
Tỷ lệ thay đổi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) |
Dang và cộng sự, 2024; Quynh |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở các giả thuyết và hệ thống biến nghiên cứu, 2 mô hình thực nghiệm được xây dựng như sau:
Mô hình 1: Mối quan hệ giữa tỷ lệ CASA, CGR và NPL và khả năng sinh lời của NHTM (tương ứng với H1, H2 và H3):
ROAAit = CASAit + CGRit + NPLit + control variablesit + alphai + uit (1)
Mô hình 2: Vai trò điều tiết của CASA trong mối quan hệ giữa CGR, rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của NHTM (tương ứng với H4, H5a và H5b):
ROAAit = CASAit + CGRit + NPLit + NPL*CGRit + NPL*CASAit + CGR*CASAit + control variablesit + alphai + uit (2)
Trong đó: i và t lần lượt là chỉ số của ngân hàng và năm; control là vectơ các biến kiểm soát đặc thù của ngân hàng; alphai biểu thị các hiệu ứng đặc thù của ngân hàng không thay đổi theo thời gian và không quan sát được; uit là sai số ngẫu nhiên.
Để kiểm tra tính vững của các kết quả nghiên cứu, biến phụ thuộc ROAA được thay thế bởi ROAE tương ứng vào các mô hình nói trên.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2014-2024. Các biến kinh tế vĩ mô, gồm tăng trưởng GDP và lạm phát, được thu thập từ Cục Thống kê.
Nghiên cứu thực hiện kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan. Kết quả cho thấy, các hệ số VIF đều nhỏ hơn 3, do đó hiện tượng đa cộng tuyến không đáng quan ngại.
Do mô hình sử dụng biến phụ thuộc trễ và có khả năng phát sinh nội sinh, nghiên cứu áp dụng phương pháp mô men tổng quát hệ thống (System GMM) để xử lý vấn đề này. Phương pháp đồng thời cho phép ước lượng vững trong điều kiện tồn tại phương sai thay đổi và tự tương quan (Arellano và Bond, 1991; Blundell và Bond, 1998). Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả
Bảng 2 trình bày thống kê mô tả các biến của 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2014-2024. ROAA và ROAE có giá trị trung bình lần lượt là 1.05% và 12.38%. CASA đạt trung bình 16.15%, dao động từ khoảng 1% đến 56%, cho thấy sự khác biệt đáng kể về khả năng huy động nguồn vốn chi phí thấp giữa các ngân hàng.
CGR đạt trung bình 18.82%, dao động từ -14.23% đến 66.35%. NPL trung bình khoảng 1.98%, với mức cao nhất gần 7%. Các biến kiểm soát gồm LDR, ETA, SIZE, GDP và INF có mức biến động phù hợp với đặc điểm mẫu nghiên cứu.
Bảng 2: Thống kê mô tả
|
Biến |
Số quan sát (Obs) |
Giá trị trung bình (Mean) |
Độ lệch chuẩn (Std. Dev.) |
Giá trị nhỏ nhất (Min) |
Giá trị lớn nhất (Max) |
|---|---|---|---|---|---|
|
ROAA |
275 |
0.0104946 |
0.0073584 |
0.0000875 |
0.0365264 |
|
ROAE |
275 |
0.1238473 |
0.0753110 |
0.0008107 |
0.3033156 |
|
CASA |
275 |
0.1615357 |
0.1018152 |
0.0098419 |
0.5602995 |
|
CGR |
273 |
0.1881956 |
0.1134099 |
(0.1422841) |
0.6635088 |
|
NPL |
271 |
0.0198198 |
0.0101329 |
0.0046669 |
0.0691208 |
|
SIZE |
275 |
5.2809920 |
0.5017289 |
4.1992980 |
6.4410340 |
|
LDR |
271 |
0.8144025 |
0.1314604 |
0.3370091 |
1.2493190 |
|
ETA |
275 |
0.0877473 |
0.0306772 |
0.0406177 |
0.2202968 |
|
GDP |
275 |
0.0613273 |
0.0176478 |
0.0256000 |
0.0802000 |
|
INF |
275 |
0.0302273 |
0.0098784 |
0.0063000 |
0.0416000 |
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên mẫu nghiên cứu
Kết quả hồi quy chính và thảo luận
Kết quả tại Bảng 3 cho thấy, CASA và CGR có tác động cùng chiều đến ROAA, với mức ý nghĩa lần lượt là 1% và 5%; trong khi NPL có tác động ngược chiều ở mức ý nghĩa 1%. Như vậy, các giả thuyết H1, H2 và H3 được ủng hộ.
Kết quả cho thấy nguồn vốn CASA với chi phí huy động thấp có thể hỗ trợ ngân hàng cải thiện khả năng sinh lời thông qua việc giảm chi phí vốn và mở rộng tài sản sinh lời. Tăng trưởng tín dụng cũng góp phần gia tăng lợi nhuận khi giúp mở rộng quy mô cho vay. Ngược lại, NPL làm suy giảm khả năng sinh lời do làm giảm chất lượng tài sản, đồng thời gia tăng chi phí dự phòng và xử lý nợ. Kết quả này phù hợp với các lập luận của Lý thuyết dựa trên nguồn lực và Lý thuyết trung gian tài chính.
Bảng 3: Kết quả ước lượng Mô hình 1 với biến phụ thuộc ROAA và ROAE (thay thế ROAA)
|
Biến |
Kết quả Biến phụ thuộc ROAA |
Kết quả Biến phụ thuộc ROAE |
|---|---|---|
|
(1) |
(2) |
(3) |
|
L.ROAA/L.ROAE |
0.3472*** |
0.6137*** |
|
|
(0.1187) |
(0.0798) |
|
CASA |
0.0397*** |
0.2863** |
|
|
(0.0064) |
(0.1049) |
|
CGR |
0.0045** |
0.0029* |
|
|
(0.0022) |
(0.0263) |
|
NPL |
-0.3555*** |
-0.6878*** |
|
|
(0.1188) |
(0.1785) |
|
SIZE |
0.0062** |
0.0442** |
|
|
(0.0030) |
(0.0193) |
|
LDR |
0.0298*** |
0.1647*** |
|
|
(0.0087) |
(0.0423) |
|
ETA |
0.0042 |
-0.0569*** |
|
|
(0.0620) |
(0.2415) |
|
GDP |
0.0261* |
0.4173*** |
|
|
(0.0136) |
(0.0436) |
|
INF |
-0.0027 |
-0.3448* |
|
|
(0.0189) |
(0.1810) |
|
Hằng số |
-0.0530*** |
-0.2310** |
|
|
(0.0134) |
(0.1092) |
|
Số quan sát |
248 |
248 |
|
Số biến công cụ |
23 |
23 |
|
Số nhóm |
25 |
25 |
|
AR(1) test p-value |
0.017 |
0.001 |
|
AR(2) test p-value |
0.298 |
0.303 |
|
Hansen test p-value |
0.344 |
0.307 |
Ghi chú: Số trong ngoặc là sai số chuẩn; *, **, *** thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 10%, 5% và 1%.
Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu nghiên cứu
Kết quả khi sử dụng ROAE thay thế ROAA nhìn chung nhất quán, qua đó củng cố tính vững của kết quả nghiên cứu. Các kiểm định AR(2) và Hansen cho thấy không có bằng chứng về tự tương quan bậc hai và các biến công cụ được sử dụng là phù hợp. Số biến công cụ cũng nhỏ hơn số nhóm quan sát, đáp ứng yêu cầu của mô hình System GMM.
Bảng 4 trình bày kết quả kiểm định các tác động tương tác giữa NPL, CGR và CASA.
Kết quả cho thấy hệ số NPL×CGR mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, ủng hộ H4. Điều này cho thấy CGR có thể làm gia tăng tác động bất lợi của NPL đến khả năng sinh lời, đặc biệt khi việc mở rộng tín dụng đi kèm với suy giảm chất lượng danh mục cho vay.
Đối với NPL×CASA, hệ số mang dấu dương nhưng không có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, H5a chưa được ủng hộ. Kết quả này cho thấy chưa có đủ bằng chứng để khẳng định CASA làm giảm tác động tiêu cực của NPL đến khả năng sinh lời.
Trong khi đó, hệ số CGR×CASA mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, qua đó ủng hộ H5b. Kết quả cho thấy tỷ lệ CASA cao giúp ngân hàng khai thác hiệu quả hơn lợi ích từ CGR, nhờ lợi thế về chi phí vốn và khả năng chuyển hóa nguồn vốn giá rẻ thành tài sản sinh lời.
Bảng 4: Kết quả ước lượng Mô hình 2 (biến phụ thuộc ROAA)
|
Biến |
ROAA |
ROAA |
ROAA |
|---|---|---|---|
|
(1) |
(2) |
(3) |
(4) |
|
L.ROAA |
0.5244*** |
0.6367*** |
0.6443*** |
|
|
(0.1049) |
(0.0966) |
(0.0986) |
|
CASA |
0.0321*** |
0.0577*** |
0.0311* |
|
|
(0.0091) |
(0.0124) |
(0.0168) |
|
CGR |
0.0162* |
-0.0014 |
-0.0101 |
|
|
(0.0093) |
(0.0030) |
(0.0065) |
|
NPL |
-0.3284** |
-0.3344*** |
-0.2047*** |
|
|
(0.1333) |
(0.1026) |
(0.0363) |
|
NPL*CGR |
-0.6359* |
|
|
|
|
(0.3405) |
|
|
|
SIZE |
0.0020 |
-0.0072** |
-0.0002 |
|
|
(0.0030) |
(0.0032) |
(0.0022) |
|
LDR |
0.0343*** |
0.0520*** |
0.0457*** |
|
|
(0.0097) |
(0.0064) |
(0.0062) |
|
ETA |
-0.0048 |
-0.1038*** |
-0.0885* |
|
|
(0.0480) |
(0.0198) |
(0.0479) |
|
GDP |
0.0252** |
0.0477*** |
0.0345*** |
|
|
(0.0116) |
(0.0143) |
(0.0091) |
|
INF |
0.0036 |
0.0093 |
-0.0282 |
|
|
(0.0193) |
(0.0297) |
(0.0241) |
|
NPL*CASA |
|
1.0009 |
|
|
|
|
(1.0155) |
|
|
CGR*CASA |
|
|
0.0820* |
|
|
|
|
(0.0477) |
|
Hằng số |
-0.0338*** |
0.0004 |
-0.0280** |
|
|
(0.0121) |
(0.0158) |
(0.0124) |
|
Số quan sát |
248 |
248 |
248 |
|
Số biến công cụ |
23 |
23 |
23 |
|
Số nhóm |
25 |
25 |
25 |
|
AR(1) test p-value |
0.006 |
0.006 |
0.002 |
|
AR(2) test p-value |
0.331 |
0.592 |
0.509 |
|
Hansen test p-value |
0.279 |
0.677 |
0.583 |
Ghi chú: Số trong ngoặc là sai số chuẩn; *, **, *** thể hiện ý nghĩa thống kê ở mức 10%, 5% và 1%.
Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu nghiên cứu
Nhìn chung, kết quả cho thấy CASA không chỉ có tác động trực tiếp tích cực đến khả năng sinh lời mà còn góp phần khuếch đại hiệu quả của CGR. Tuy nhiên, chưa có đủ bằng chứng thống kê để khẳng định CASA có khả năng làm giảm tác động bất lợi của NPL. Điều này hàm ý rằng lợi thế từ nguồn vốn chi phí thấp cần được kết hợp với CGR có chất lượng và quản trị rủi ro hiệu quả để nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý như sau:
Thứ nhất, NHTM cần gia tăng tỷ trọng CASA theo hướng bền vững thông qua phát triển hệ sinh thái thanh toán số, tài khoản thanh toán, ngân hàng số và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Việc mở rộng CASA cần gắn với duy trì tính ổn định của nguồn vốn, thay vì chỉ tập trung gia tăng quy mô tiền gửi.
Thứ hai, CGR cần gắn với kiểm soát chất lượng tài sản. Ngân hàng không nên chỉ theo đuổi quy mô tín dụng mà cần nâng cao chất lượng thẩm định, giám sát sau cho vay và cảnh báo sớm rủi ro, đồng thời đánh giá hiệu quả tín dụng trên cả phương diện lợi nhuận và mức độ rủi ro phát sinh.
Thứ ba, chiến lược CASA cần được tích hợp với chiến lược tín dụng và quản trị tài sản - nguồn vốn. Lợi thế từ nguồn vốn chi phí thấp có thể giúp ngân hàng khai thác hiệu quả hơn CGR, nhưng không thể thay thế yêu cầu quản trị rủi ro và kiểm soát NPL.
Thứ tư, cơ quan quản lý cần tiếp tục định hướng các NHTM nâng cao chất lượng CGR, quản trị rủi ro, chất lượng tài sản và khả năng chống chịu, thay vì chỉ chú trọng tốc độ CGR. Qua đó, góp phần hạn chế tác động bất lợi của NPL và nâng cao tính bền vững của hệ thống ngân hàng.
Tài liệu tham khảo:
1. Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. Review of Economic Studies, 58, 277-297.
2. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108
3. Blundell, R., & Bond, S. (1998). Initial conditions and moment restrictions in dynamic panel data models. Journal of Econometrics, 87, 115-143.
4. Dang, T. M. D., Zahra, S., Tran, H. V. L., Ninh, M. P., Bui, P. A., Le, B. T. X., & Vo, D. U. T. (2024). Impact of credit risk management on profitability of commercial banks: A case study in Vietnam. Thu Dau Mot University Journal of Science, 6(3), 432-443.
5. Diamond, D. W. (1984). Financial intermediation and delegated monitoring. The Review of Economic Studies, 51, 393-414. https://doi.org/10.2307/2297430
6. Diamond, D. W., & Dybvig, P. H. (1983). Bank runs, deposit insurance, and liquidity. Journal of Political Economy, 91(3), 401-419.
7. Janakiraman, B. (2018). Impact of CASA deposit growth on the profitability of banks: Study of Syndicate Bank. Asian Journal of Management, 9(2), 978-982.
8. Lan, N. T., & Hạnh, N. M. (2026). Tác động của chỉ số tiền gửi không kỳ hạn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, số 13.
9. Lê, H. V., Lê, T. T. H., Đinh, Đ. H. N., & Bùi, H. L. (2026). Tăng trưởng cho vay, rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời: Trường hợp các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing, 17(1visp), 71-83. https://doi.org/10.52932/jfmr.v17i1visp.1137
10. Milne, A., & Whalley, A. E. (2001). Bank capital regulation and incentives for risk-taking. Working Paper, Bank of England.
11. Nadia, L. P., Putri, A. S., & Sa’adah, W. N. (2024). Navigating risk and growth: How loan quality and credit growth shape bank profitability in ASEAN commercial banks. BIS Economics and Business, 2. https://doi.org/10.31603/biseb.231
12. Nguyen, Q. T., Nguyen, L. D., & Tran, T. H. M. (2024). The effects of bank-specific and macroeconomic determinants on CASA ratio of listed joint stock commercial banks in Vietnam. Cogent Business & Management, 11(1), 2436132. https://doi.org/10.1080/23311975.2024.2436132
13. Phương, P. T. T. (2024). Tác động của tiền gửi đến hiệu quả tài chính các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, số 19.
14. Wu, S. W., Nguyen, M. T., & Nguyen, P. H. (2022). Does loan growth impact on bank risk? Heliyon, 8, e10319.
| Ngày nhận bài: 17/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 6/10/2026; Ngày duyệt đăng: 16/10/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp