Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Nghiên cứu - Trao đổi 17:13 | 18/10/2026
Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài chỉ có thể biến thành quyết định khởi nghiệp thực tế khi chúng được chuyển hóa thành niềm tin vào năng lực cá nhân và tư duy khởi nghiệp.

NCS. Bùi Quang Đông

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

PGS.TS. Lê Quang Hùng

Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

TS. Ngô Minh Hải

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Tóm tắt

Hệ sinh thái khởi nghiệp cung cấp nguồn lực và tạo bối cảnh hỗ trợ, nhưng môi trường thuận lợi chưa bảo đảm người học sẽ đi đến quyết định khởi nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tích hợp để phát triển mô hình giải thích quá trình chuyển hóa từ các nhân tố bên ngoài sang quyết định thông qua 2 cơ chế: năng lực tự thân khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp. Sáu nhân tố của hệ sinh thái gồm: Tiếp cận tài chính, Chính sách và quy định của chính phủ, Chương trình hỗ trợ của chính phủ, Tiếp cận cơ sở hạ tầng, Yếu tố văn hóa - xã hội và Giáo dục - đào tạo khởi nghiệp được xem xét cùng kiến thức số như một năng lực bổ trợ. Mô hình đề xuất các nhân tố này tác động đến Năng lực tự thân khởi nghiệp và Tư duy khởi nghiệp; Năng lực tự thân khởi nghiệp tiếp tục củng cố Tư duy khởi nghiệp, trong khi cả 2 cùng thúc đẩy quyết định khởi nghiệp. Nghiên cứu tạo nền tảng cho kiểm định thực nghiệm đối với người học trong bối cảnh đại học tại Việt Nam.

Từ khóa: Hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân khởi nghiệp, tư duy khởi nghiệp, quyết định khởi nghiệp

Abstract

An entrepreneurial ecosystem provides resources and a supportive environment; however, favorable conditions do not necessarily lead learners to make entrepreneurial decisions. This study adopts an integrative literature review approach to develop a conceptual model explaining how external factors translate into entrepreneurial decisions through two mechanisms: entrepreneurial self-efficacy and entrepreneurial mindset. Six ecosystem factors are examined: access to finance, government policies and regulations, government support programs, access to physical infrastructure, sociocultural factors, and entrepreneurship education and training. Digital literacy is also incorporated as a complementary competency. The proposed model posits that these factors influence entrepreneurial self-efficacy and entrepreneurial mindset, with entrepreneurial self-efficacy further strengthening the entrepreneurial mindset. Both mechanisms are expected to promote entrepreneurial decisions. The study provides a conceptual foundation for empirical testing among university students in Viet Nam.

Keywords: Entrepreneurial ecosystem, entrepreneurial self-efficacy, entrepreneurial mindset, entrepreneurial decision-making

GIỚI THIỆU

Khởi nghiệp ngày càng được xem là một lựa chọn nghề nghiệp gắn với đổi mới và tự chủ. Tại Việt Nam, các chương trình đào tạo, vườn ươm, hỗ trợ tài chính và chính sách khởi nghiệp đã được mở rộng. Tuy nhiên, sự hiện diện của nguồn lực bên ngoài chưa đồng nghĩa người học sẽ đủ niềm tin vào khả năng thực hiện, có tư duy phù hợp và đi đến quyết định khởi nghiệp. Vì vậy, vấn đề cần giải thích không chỉ là hệ sinh thái có ảnh hưởng hay không, mà là ảnh hưởng đó được chuyển hóa thành quyết định cá nhân bằng cơ chế nào.

Nghiên cứu hệ sinh thái nhấn mạnh rằng khởi nghiệp được hình thành trong mạng lưới nguồn lực, thể chế và quan hệ xã hội thay vì chỉ từ đặc điểm cá nhân (Spigel, 2017; Wurth và cộng sự, 2022). Ở người học trong bối cảnh đại học, nhận thức tích cực về môi trường khởi nghiệp có liên hệ với ý định khởi nghiệp (Elnadi và cộng sự, 2020). Tuy vậy, cùng một bối cảnh hỗ trợ có thể tạo ra phản ứng khác nhau khi người học khác nhau về niềm tin năng lực và cách nhìn nhận cơ hội.

Nghiên cứu này vì vậy tích hợp 2 cơ chế: năng lực tự thân khởi nghiệp, phản ánh niềm tin rằng cá nhân có thể thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp, phản ánh cách cá nhân nhận diện cơ hội, xử lý bất định và định hướng hành động. Mô hình gồm 6 nhân tố của hệ sinh thái khởi nghiệp và kiến thức số tác động đến năng lực tự thân khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp; năng lực tự thân khởi nghiệp tiếp tục tác động đến tư duy khởi nghiệp; sau đó năng lực tự thân khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp cùng dẫn tới quyết định khởi nghiệp. Điểm mới nằm ở việc kết nối 2 cơ chế nhận thức khác biệt trong cùng quá trình chuyển hóa từ bối cảnh hỗ trợ đến quyết định khởi nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Hệ sinh thái khởi nghiệp và kiến thức số

Hệ sinh thái khởi nghiệp (EEs) là tập hợp các chủ thể, nguồn lực, thể chế và chuẩn mực có quan hệ tương tác, qua đó tạo bối cảnh hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp (Spigel, 2017). Wurth và cộng sự (2022) cho rằng, nghiên cứu hệ sinh thái cần vượt khỏi việc liệt kê thành phần để giải thích cách các nhân tố trong hệ sinh thái tác động đến chủ thể khởi nghiệp. Trong mô hình này, 6 nhân tố được giữ lại gồm: Tiếp cận tài chính (ATF), Chính sách và quy định của chính phủ (GPR), Chương trình hỗ trợ của chính phủ (GPS), Tiếp cận cơ sở hạ tầng (API), Yếu tố văn hóa - xã hội (CSF) và Giáo dục - đào tạo khởi nghiệp (EEd).

Các nhân tố này được tiếp cận từ nhận thức và khả năng tiếp cận của người học để duy trì cùng cấp độ phân tích với năng lực tự thân khởi nghiệp (ESE), tư duy khởi nghiệp (EM) và quyế định khởi nghiệp (ED). Kiến thức số (DL) vẫn được giữ trong mô hình nhưng không được xem là cấu phần truyền thống của EEs; đây là năng lực cá nhân bổ trợ giúp người học tìm kiếm thông tin, sử dụng công cụ số và khai thác cơ hội trong bối cảnh khởi nghiệp ngày càng số hóa. Ganefri và cộng sự (2024) và Young và cộng sự (2020) cho thấy kiến thức số có vai trò đáng chú ý khi nghiên cứu tư duy và định hướng khởi nghiệp.

Năng lực tự thân và tư duy khởi nghiệp

Năng lực tự thân khởi nghiệp (ESE) được phát triển từ quan điểm về năng lực tự thân của Bandura (1997), phản ánh niềm tin của cá nhân vào khả năng tổ chức và thực hiện hành động cần thiết để đạt kết quả. Trong khởi nghiệp, ESE là niềm tin vào khả năng thực hiện các nhiệm vụ như : nhận diện cơ hội, huy động nguồn lực và giải quyết vấn đề. Zhao và cộng sự (2005) cho thấy ESE giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành ý định khởi nghiệp; McGee và cộng sự (2009) tiếp tục nhấn mạnh tính đặc thù nhiệm vụ của khái niệm này.

Tư duy khởi nghiệp (EM) là định hướng nhận thức giúp cá nhân nhìn nhận cơ hội, bất định và hành động. Pidduck và cộng sự (2023) nhấn mạnh các niềm tin khuynh hướng và niềm tin về cơ hội trong cấu trúc EM. Các nghiên cứu ở người học cũng cho thấy giáo dục - đào tạo khởi nghiệp và yếu tố văn hóa - xã hội có thể góp phần hình thành EM và từ đó hỗ trợ định hướng khởi nghiệp (Mukhtar và cộng sự, 2021; Wardana và cộng sự, 2020). Vì vậy, ESE và EM có liên hệ nhưng không đồng nhất: ESE phản ánh niềm tin về khả năng thực hiện nhiệm vụ, còn EM phản ánh cách cá nhân nhìn thấy và tiếp cận cơ hội.

Nghiên cứu đề xuất ESE đứng trước EM trong một phần của cơ chế. Khi người học tin mình có khả năng xử lý nhiệm vụ khởi nghiệp, cảm nhận bất lực trước bất định giảm và tư duy chủ động có cơ sở phát triển. Wardana và cộng sự (2020) cho thấy năng lực tự thân có vai trò trong cơ chế kết nối giáo dục với tư duy khởi nghiệp. Do đó, ESE vừa là cơ chế nhận thức độc lập vừa có thể trở thành tiền đề của EM.

Quyết định khởi nghiệp

Quyết định khởi nghiệp (ED) được hiểu là lựa chọn có chủ đích và mức độ cam kết đối với việc bắt đầu hoạt động khởi sự kinh doanh. Khái niệm này cần phân biệt với ý định khởi nghiệp. Theo Ajzen (1991), ý định là tiền đề gần của hành vi có kế hoạch nhưng chưa đồng nghĩa cá nhân đã đi đến lựa chọn hành động. Trong bối cảnh Việt Nam, Nguyen (2020) nghiên cứu trực tiếp ED và xác định năng lực tự thân cùng các nhân tố liên quan là những yếu tố đáng chú ý. Vì vậy, ED được sử dụng như kết quả xa hơn ý định nhưng chưa đồng nhất với hành vi thành lập doanh nghiệp đã quan sát.

Tổng hợp các nghiên cứu liên quan và khoảng trống

Các nghiên cứu được tích hợp thành 4 dòng bằng chứng: EEs và bối cảnh hỗ trợ liên quan đến ESE hoặc ý định; giáo dục - đào tạo khởi nghiệp và yếu tố văn hóa - xã hội liên quan đến EM; ESE và EM liên quan đến các kết quả khởi nghiệp; kiến thức số hỗ trợ quá trình hình thành năng lực hoặc tư duy. Bảng cho thấy các dòng nghiên cứu này bổ sung cho nhau nhưng phần lớn được xem xét riêng biệt, trong khi mối liên kết giữa 2 cơ chế nhận thức vẫn chưa được giải thích đầy đủ.

Bảng: Tích hợp các dòng nghiên cứu liên quan

Dòng

nghiên cứu

Nghiên cứu tiêu biểu

Bằng chứng chính

Vai trò trong mô hình

EEs/bối cảnh hỗ trợ → ESE hoặc ý định

Elnadi và cộng sự (2020); Sulistyowati (2023); Maheshwari và Kha (2021)

Môi trường và hỗ trợ giáo dục liên quan đến niềm tin năng lực và định hướng khởi nghiệp

Cơ sở cho bối cảnh hỗ trợ → ESE/EM

ESE → kết quả khởi nghiệp

Zhao và cộng sự (2005); Nguyen (2020)

Niềm tin vào khả năng thực thi hỗ trợ ý định và quyết định.

Định vị ESE như cơ chế năng lực

EM → kết quả khởi nghiệp

Mukhtar và cộng sự (2021); Pidduck và cộng sự (2023)

Tư duy hướng cơ hội hỗ trợ định hướng hành động

Định vị EM như cơ chế nhận thức

ESE, EM và kiến thức số

Wardana và cộng sự (2020); Jiatong và cộng sự (2021); Ganefri và cộng sự (2024); Young và cộng sự (2020)

Các khái niệm cùng tham gia vào quá trình học hỏi và định hướng khởi nghiệp.

Cơ sở cho cơ chế tích hợp và DL

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Khoảng trống trọng tâm không nằm ở việc thiếu bằng chứng cho từng quan hệ riêng lẻ, mà ở việc thiếu một cấu trúc tích hợp giải thích cách các nhân tố của EEs hình thành ESE và EM, rồi 2 cơ chế này phối hợp chuyển thành quyết định khởi nghiệp. Nghiên cứu về ESE chủ yếu nhấn mạnh niềm tin vào khả năng thực hiện và thường dùng ý định khởi nghiệp làm kết quả (Zhao và cộng sự, 2005; Maheshwari và Kha, 2021), trong khi nghiên cứu về EM cho thấy giáo dục - đào tạo và yếu tố văn hóa - xã hội có thể định hướng cách cá nhân nhìn nhận cơ hội (Mukhtar và cộng sự, 2021; Pidduck và cộng sự, 2023). Vì vậy, mô hình chỉ dùng ESE có thể bỏ qua cách cá nhân định hướng nhận thức về cơ hội, còn mô hình chỉ dùng EM chưa giải thích người học có tin mình đủ khả năng thực thi hay không. Quan hệ ESE → EM bổ sung cơ chế nối tiếp, còn các đường ESE → ED và EM → ED cho phép xem xét 2 cơ chế song song.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu tích hợp nhằm phát triển mô hình lý thuyết từ các tài liệu nền tảng và nghiên cứu liên quan đến EEs, ESE, EM, DL và ED. Tổng cộng 16 công trình trọng tâm được giữ lại khi đáp ứng các tiêu chí: xác định khái niệm rõ ràng; cung cấp cơ sở về các nhân tố của EEs hoặc kiến thức số; giải thích tiền tố và kết quả của ESE hoặc EM; làm rõ sự khác biệt giữa ý định, quyết định và hành vi khởi nghiệp. Quá trình tổng hợp gồm ba bước: phân loại tài liệu theo vai trò của khái niệm; nhóm bằng chứng theo các dòng nghiên cứu và cơ chế; và giữ lại các quan hệ có cơ sở giải thích quá trình từ EEs và DL đến ESE/EM, từ ESE đến EM và từ 2 cơ chế này đến ED. Đây là tổng quan khái niệm có định hướng, không phải tổng quan hệ thống và tạo cơ sở cho kiểm định thực nghiệm tiếp theo.

GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Giả thuyết nghiên cứu

Các nhân tố hệ sinh thái, kiến thức số và 2 cơ chế nhận thức

Các nhân tố của EEs có chức năng khác nhau nhưng đều có thể làm thay đổi cách người học đánh giá khả năng thực hiện và mức hấp dẫn của khởi nghiệp. Tiếp cận tài chính và cơ sở hạ tầng giúp giảm rào cản nguồn lực, qua đó củng cố niềm tin vào khả năng thực hiện và tạo cơ hội thử nghiệm ý tưởng. Chính sách, quy định và chương trình hỗ trợ của chính phủ tạo tín hiệu về khả năng tiếp cận hỗ trợ và mức độ thuận lợi của bối cảnh khởi nghiệp, từ đó có thể tác động đến cả ESE và EM. Yếu tố văn hóa - xã hội cung cấp sự thừa nhận và hình mẫu, còn giáo dục - đào tạo khởi nghiệp tạo kiến thức, trải nghiệm và cơ hội thực hành. Sulistyowati (2023) liên kết các nhân tố hệ sinh thái với ESE; Elnadi và cộng sự (2020) cho thấy nhận thức về hệ sinh thái có liên hệ với định hướng khởi nghiệp; Mukhtar và cộng sự (2021), Wardana và cộng sự (2020) cung cấp bằng chứng về vai trò của giáo dục - đào tạo khởi nghiệp và yếu tố văn hóa - xã hội đối với EM. Từ đó, các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1a: Tiếp cận tài chính ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H1b: Tiếp cận tài chính ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

H2a: Chính sách và quy định của chính phủ ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H2b: Chính sách và quy định của chính phủ ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

H3a: Chương trình hỗ trợ của chính phủ ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H3b: Chương trình hỗ trợ của chính phủ ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

H4a: Tiếp cận cơ sở hạ tầng ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H4b: Tiếp cận cơ sở hạ tầng ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

H5a: Yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H5b: Yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

H6a: Giáo dục - đào tạo khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H6b: Giáo dục - đào tạo khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

Kiến thức số được định vị là năng lực cá nhân bổ trợ thay vì một cấu phần của EEs. Khả năng tìm kiếm dữ liệu thị trường, đánh giá thông tin, sử dụng công cụ số và học hỏi qua mạng lưới trực tuyến có thể làm tăng trải nghiệm làm chủ nhiệm vụ, từ đó hỗ trợ ESE. Đồng thời, khả năng tiếp cận và xử lý thông tin số cũng mở rộng cơ hội quan sát, thử nghiệm và nhận diện vấn đề, qua đó có thể hỗ trợ EM. Young và cộng sự (2020) đặt kiến thức số trong quá trình hình thành tư duy khởi nghiệp số; Ganefri và cộng sự (2024) cũng xem kiến thức số, ESE và EM trong cùng cơ chế giải thích ý định khởi nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:

H7a: Kiến thức số ảnh hưởng tích cực đến Năng lực tự thân khởi nghiệp.

H7b: Kiến thức số ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

Năng lực tự thân, tư duy và quyết định khởi nghiệp

ESE và EM phản ánh 2 cơ chế nhận thức khác nhau nhưng có khả năng bổ sung cho nhau. ESE làm tăng niềm tin rằng cá nhân có thể thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp, còn EM định hướng cách người học nhìn nhận cơ hội và phản ứng trước bất định. Khi niềm tin thực thi được củng cố, người học có cơ sở duy trì tư duy chủ động hơn; đồng thời, khả năng thực thi và định hướng cơ hội đều có thể góp phần vào quyết định khởi nghiệp. Zhao và cộng sự (2005) hỗ trợ vai trò của ESE đối với ý định khởi nghiệp, trong khi Nguyen (2020), Mukhtar và cộng sự (2021), Pidduck và cộng sự (2023) cung cấp cơ sở cho các liên hệ gần với quyết định hoặc hành động. Từ đó, các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H8: Năng lực tự thân khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến Tư duy khởi nghiệp.

H9: Năng lực tự thân khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến Quyết định khởi nghiệp.

H10: Tư duy khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến Quyết định khởi nghiệp.

Mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy tròn quyết định khởi nghiệp như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Kết luận

Nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết giải thích quyết định khởi nghiệp của người học thông qua sự kết nối giữa các nhân tố của EEs và 2 cơ chế nhận thức là ESE và EM. Sáu nhân tố hệ sinh thái được đề xuất tác động đồng thời đến ESE và EM, trong khi kiến thức số được bổ sung như một năng lực cá nhân thay vì cấu phần truyền thống của EEs. ESE tiếp tục củng cố EM; sau đó cả ESE và EM đều được kỳ vọng thúc đẩy quyết định khởi nghiệp. Mô hình vì vậy không giả định bối cảnh hỗ trợ tự động tạo ra quyết định, mà nhấn mạnh quá trình người học chuyển nguồn lực và tín hiệu từ môi trường thành niềm tin về khả năng thực hiện và cách tư duy hướng cơ hội.

Về lý thuyết, mô hình phân biệt ESE với EM và giải thích vì sao cả 2 đều cần thiết. ESE phản ánh niềm tin về khả năng thực thi nhiệm vụ khởi nghiệp, còn EM phản ánh cách cá nhân nhận diện cơ hội, xử lý bất định và định hướng hành động. Quan hệ ESE → EM bổ sung cơ chế nối tiếp, trong khi các đường ESE → ED và EM → ED cho phép xem xét 2 cơ chế song song. Việc đặt kiến thức số ngoài nhóm nhân tố EEs giúp duy trì ranh giới giữa bối cảnh môi trường và năng lực cá nhân.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần khảo sát thực nghiệm người học trong bối cảnh đại học tại Việt Nam, kiểm định các giả thuyết H1a - H7b, H8, H9 và H10, đồng thời ước lượng các tác động gián tiếp qua ESE, qua EM và theo chuỗi ESE → EM. Kết quả thực nghiệm sẽ cho phép đánh giá mức độ phù hợp của mô hình và tạo cơ sở kết luận nhân tố nào của EEs có vai trò đáng kể trong quá trình tác động đến quyết định khởi nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The exercise of control. W.H. Freeman.

3. Elnadi, M., Gheith, M. H., & Farag, T. (2020). How does the perception of entrepreneurial ecosystem affect entrepreneurial intention among university students in Saudi Arabia? International Journal of Entrepreneurship, 24(3), 1-18.

4. Ganefri, G., Kamdi, W., Makky, M., Hidayat, H., & Rahmawati, Y. (2024). Entrepreneurship education and entrepreneurial intention among university students: The roles of entrepreneurial mindset, digital literacy, and self-efficacy. Journal of Social Studies Education Research, 15(4), 85-134.

5. Maheshwari, G., & Kha, K. L. (2021). Investigating the relationship between educational support and entrepreneurial intention in Vietnam: The mediating role of entrepreneurial self-efficacy in the theory of planned behavior. The International Journal of Management Education, 19, 100553.

6. McGee, J. E., Peterson, M., Mueller, S. L., & Sequeira, J. M. (2009). Entrepreneurial self-efficacy: Refining the measure. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(4), 965-988.

7. Mukhtar, S., Wardana, L. W., Wibowo, A., & Narmaditya, B. S. (2021). Does entrepreneurship education and culture promote students' entrepreneurial intention? The mediating role of entrepreneurial mindset. Cogent Education, 8(1), 1918849.

8. Nguyen, X. T. (2020). Factors affecting entrepreneurial decision of nascent entrepreneurs belonging Generation Y in Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(8), 407-417.

9. Pidduck, R. J., Clark, D. R., & Lumpkin, G. T. (2023). Entrepreneurial mindset: Dispositional beliefs, opportunity beliefs, and entrepreneurial behavior. Journal of Small Business Management, 61(1), 45-79.

10. Spigel, B. (2017). The relational organization of entrepreneurial ecosystems. Entrepreneurship Theory and Practice, 41(1), 49-72.

11. Sulistyowati, R. (2023). Entrepreneurial ecosystem determinants on entrepreneurial self-efficacy students of business education. In International Joint Conference on Arts and Humanities 2022 (pp. 1339-1349). Atlantis Press.

12. Wardana, L. W., Narmaditya, B. S., Wibowo, A., Mahendra, A. M., Wibowo, N. A., Harwida, G., & Rohman, A. N. (2020). The impact of entrepreneurship education and students' entrepreneurial mindset: The mediating role of attitude and self-efficacy. Heliyon, 6(9), e04922.

13. Wurth, B., Stam, E., & Spigel, B. (2022). Toward an entrepreneurial ecosystem research program. Entrepreneurship Theory and Practice, 46(3), 729-778.

14. Young, R., Wahlberg, L., Davis, E., & Abhari, K. (2020). Towards a theory of digital entrepreneurship mindset: The role of digital learning aptitude and digital literacy. 26th Americas Conference on Information Systems (AMCIS).

15. Zhao, H., Seibert, S. E., & Hills, G. E. (2005). The mediating role of self-efficacy in the development of entrepreneurial intentions. Journal of Applied Psychology, 90(6), 1265-1272.

16. Jiatong, W., Murad, M., Bajun, F., Tufail, M. S., Mirza, F., & Rafiq, M. (2021). Impact of entrepreneurial education, mindset, and creativity on entrepreneurial intention: Mediating role of entrepreneurial self-efficacy. Frontiers in Psychology, 12, 724440.

Ngày nhận bài: 6/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/9/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao của phân khúc ẩm thực cao cấp, chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường marketing số, hiểu biết số ngày càng trở thành năng lực quan trọng quyết định khả năng khai thác dữ liệu, nội dung và nền tảng công nghệ của nhân viên.
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh

Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng đóng vai trò then chốt trong quản lý và điều phối logistics đô thị.