Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Nghiên cứu - Trao đổi 17:55 | 18/10/2026
Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế.

TS. Tạ Doãn Cường

Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu dựa trên cơ sở các khái niệm giao lưu xuyên biên giới, lao động và việc làm xuyên biên giới để mô tả và phân tích hiện trạng lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp. Nghiên cứu cũng chỉ ra, giao lưu xuyên biên giới và lao động xuyên biên giới có liên hệ mật thiết. Các giải pháp quản lý được đưa ra cũng dựa trên quan điểm không làm giảm dòng lao động xuyên biên giới, mà là chuyển dòng lao động từ phi chính thức, khó kiểm soát sang chính thức, minh bạch và người lao động qua lại biên giới được quan tâm, an toàn.

Từ khóa: Lao động xuyên biên giới, việc làm xuyên biên giới, vùng biên, cư dân vùng biên

Abstract

The study draws on the concepts of cross-border interaction, cross-border labor, and cross-border employment to describe and analyze the current situation of cross-border labor in Dong Thap Province. The study also shows that cross-border interaction and cross-border labor are closely related. The proposed management measures aim not to reduce cross-border labor flows, but to shift them from informal activities that are difficult to monitor to formal and transparent forms, while ensuring that workers crossing the border receive appropriate attention and are kept safe.

Keywords: Cross-border labor, cross-border employment, border areas, border residents

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc làm xuyên biên giới tại các khu vực biên giới quốc gia là một trong những chủ đề phức tạp giữa các quốc gia có chung đường biên. Hiện nay, các khái niệm “lao động xuyên biên giới” và “việc làm xuyên biên giới” vẫn chưa phải là các thuật ngữ được pháp luật Việt Nam định nghĩa thành một khái niệm pháp lý thống nhất, độc lập. Các văn bản hiện hành thường quy định theo từng quan hệ cụ thể liên quan đến các vấn đề như cư dân biên giới, xuất nhập cảnh, lao động nước ngoài, thương mại biên giới, hoặc các nội dung được thỏa thuận song phương với các quốc gia có chung đường biên giới trên bộ với Việt Nam. Việc phân tích, đánh giá thực trạng lao động và việc làm xuyên biên giới tại vùng biên tỉnh Đồng Tháp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý lao động và việc làm vùng biên.

KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG XUYÊN BIÊN GIỚI

Lao động và việc làm xuyên biên giới là một bộ phận của việc làm cư dân vùng biên được hình thành nhờ quá trình mở cửa, giao lưu và liên kết kinh tế giữa 2 quốc gia nói chung và giữa các cộng đồng 2 bên biên giới. Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế. Lao động và làm việc xuyên biên giới cũng thường được đề cập như là một trong những hoạt động giao lưu biên giới của cư dân tại các vùng biên giới quốc gia.

Theo European Commission (2024), người lao động xuyên biên giới (hay người lao động vùng biên giới) được định nghĩa là những cá nhân “làm việc ở một quốc gia nhưng vẫn cư trú ở quốc gia láng giềng, đi lại từ nhà đến nơi làm việc bên kia biên giới, giống như ở bất kỳ thành phố nào, người ta đi lại từ nhà đến nơi làm việc.

Điểm cốt lõi của khái niệm này là người lao động và nơi thực hiện lao động nằm ở 2 phía của đường biên giới quốc gia. Điều này khác với lao động di cư quốc tế thông thường ở chỗ lao động xuyên biên giới thường có mối liên hệ trực tiếp với không gian biên giới, và có thể có tính chất qua lại, ngắn hạn, thường xuyên hoặc theo mùa vụ.

Có thể phân loại việc làm xuyên biên giới thành 3 dạng phổ biến như sau: (1) Cư dân qua biên giới để làm việc làm trực tiếp tại nước láng giềng; (2) Việc làm phục vụ hay đi kèm các hoạt động kinh tế biên giới và xuyên biên giới, như: vận tải, logistics, thương mại, cửa khẩu, du lịch, dịch vụ... (3) Việc làm phát sinh dựa trên giao lưu kinh tế, liên kết kinh tế biên giới với chủ thể là các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh lớn nhỏ giáp biên, các chuỗi cung ứng, sản xuất, thương mại và xuất khẩu 2 bên biên giới tạo việc làm cho cư dân vùng biên. Dạng thứ 2 và thứ 3 có điểm đặc biệt là người lao động không nhất thiết phải trực tiếp qua lại biên và việc làm của người lao động được gắn với kinh tế xuyên biên giới.

HIỆN TRẠNG LAO ĐỘNG XUYÊN BIÊN GIỚI TẠI VÙNG BIÊN ĐỒNG THÁP

Đồng Tháp là tỉnh có vị thế quan trọng trên vành đai biên giới phía Nam, tiếp giáp với tỉnh Prey Veng của Campuchia, có hơn 50 km đường biên, 2 cửa khẩu quan trọng là Cửa khẩu quốc tế Thường Phước và Cửa khẩu Dinh Bà (Cổng Thông tin điện tử Đồng Tháp, 2025). Sau khi sắp xếp với tỉnh Tiền Giang theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội, tỉnh Đồng Tháp mới chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2025, dẫn đến các địa bàn nghiên cứu bị thay đổi về tên gọi, quy mô. Tuy nhiên, xét về tính đại diện liên quan đến nội dung của bài nghiên cứu cũng như tổng thể vùng biên giới phía Nam được xem là không có sự thay đổi, nên nghiên cứu này vẫn sử dụng địa bàn nghiên cứu tỉnh Đồng Tháp.

Kết quả nghiên cứu dựa trên Kết quả khảo sát và xử lý số liệu từ ngày 1/12/2021-31/5/2024 đối với 200 hộ dân cư vùng biên giới của Đồng Tháp trong đề tài “Phát triển Kinh tế - Xã hội đảm bảo an ninh, quốc phòng trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ trong tình hình hiện nay”, công bố năm 2025, do Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ thực hiện (PGS, TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy làm chủ nhiệm đề tài).

Giao lưu xuyên biên giới

Về các hoạt động kinh tế của hộ, theo khảo sát có 56/200 số hộ dân cư vùng biên chiếm 28% có gắn với thị trường Campuchia bao gồm các trường hợp hiện đang có người làm việc ở Campuchia hoặc ít nhiều có liên quan trực tiếp đến thị trường Campuchia. Số không có nhu cầu qua lại biên giới là 144/200 tương đương 72% số hộ được khảo sát.

Qua khảo sát, hoạt động giao lưu qua lại biên giới của cư dân biên giới Đồng Tháp được ghi nhận có 26,67% qua biên giới với mục đích “Thăm người quen” hay là tham gia các tiệc cưới của các hộ dân giáp biên giới bên phía Campuchia. Đại đa số “Vì công việc làm ăn” (63,34%) trong đó bao gồm việc “Đánh bắt thủy sản” vùng biên theo mùa nước (Bảng 1).

Bảng 1: Giao lưu biên giới trong 12 tháng thông qua mục đích qua lại biên giới chia theo địa bàn

Đơn vị: Người và %

Thăm

người quen

Vì công việc

làm ăn

Đánh bắt

thủy sản

Việc khác

Tổng cộng

TP. Hồng Ngự

4

13,79

19

65,52

1

3,45

5

17,24

29

100

H. Tân Hồng

12

38,71

18

58,06

0

0

1

3,23

31

100

Tổng cộng

16

26,67

37

61,67

1

1,67

6

10,00

60

100

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

Về tần suất qua lại biên giới của các cư dân, khảo sát ghi nhận hơn 28% cư dân có qua lại hàng tháng ít nhất 1 lần, số qua lại gần như hàng ngày chiếm 26,67%. Tuy nhiên con số không thường xuyên còn chiếm khoảng 30% tổng số cư dân có qua lại biên giới trong 12 tháng qua (Bảng 2).

Bảng 2: Tương quan giữa mức độ qua lại biên giới và mục đích qua lại biên giới của những người qua lại biên giới 12 tháng qua

Mỗi tháng ít nhất 1 lần

Mỗi tuần ít nhất 1 lần

Gần như hàng ngày

Mức độ khác

Tổng cộng

17

9

16

18

60

28,33

15,00

26,67

30,00

100,00

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

Cơ cấu việc làm xuyên biên giới

Về nơi làm việc liên quan đến lao động xuyên biên giới, theo khảo sát, có 4/151 hộ tương đương 2,65% hộ dân vùng biên tại Đồng Tháp có làm ăn buôn bán dịch vụ có cơ sở và làm việc trực tiếp tại Campuchia.

Về sinh kế của các hộ dân dựa trên việc có liên hệ, gắn bó với thị trường Campuchia nói chung, ngoài việc tham gia buôn bán ở các chợ cửa khẩu, chợ biên giới, bốc vác thuê, chở hàng thuê và buôn bán thuê... thống kê của khảo sát cho thấy, có 55 hộ trên tổng số 200 hộ khảo sát (27,5%) có quan hệ trực tiếp tới thị trường Camphuchia bao gồm việc mua - bán hàng hóa, dịch vụ (Bảng 3).

Bảng 3: Sinh kế hộ gia đình gắn với thị trường Campuchia

Không có nhu cầu qua lại

Có quan hệ trực tiếp đến thị trường Campuchia

Có người đang làm việc

ở Campuchia

Tình trạng khác

Tổng cộng

N

%

N

%

N

%

N

%

N

%

144

72

55

27,5

1

0,5

0

0

200

100

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

Thuê mướn đất bên Campuchia để canh tác nông nghiệp là hiện tượng rất đặc biệt phổ biến của cư dân gốc Việt tại Đồng Tháp. Trong tổng số 10 hộ có thuê đất để làm nông nghiệp thì có 5 hộ trực tiếp thuê đất tại Campuchia. Nếu tính chung 200 hộ khảo sát tại Đồng Tháp thì số đặc biệt này tương đương 2,5% hộ gia đình có việc làm nông nghiệp xuyên biên giới rõ nét nhất.

Một số vấn đề đặt ra

Giao lưu xuyên biên giới được quan tâm chú trọng, được tạo điều kiện thuận lợi từ cả 2 phía chính quyền có thể gia tăng cơ hội việc làm cho cư dân 2 nước, từ đó cải thiện sinh kế và góp phần ổn định an ninh vùng biên.

Tuy nhiên, việc qua lại biên giới dễ dàng cũng đem lại một số thách thức cho cộng đồng cư dân vùng biên và cơ quan quản lý tại chỗ. Quá trình giao lưu biên giới đồng thời làm gia tăng tính lưu động của lao động, mức độ cạnh tranh, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài và các rủi ro về việc làm phi chính thức, đồng thời tạo ra những yêu cầu mới đối với năng lực quản lý nhà nước tại địa phương. Vì vậy, thách thức cốt lõi không phải là lựa chọn giữa mở rộng giao lưu và kiểm soát biên giới, mà là xây dựng năng lực quản trị đủ tốt để chuyển hóa sự gia tăng giao lưu thành việc làm hợp pháp, có chất lượng và bền vững, đồng thời kiểm soát các rủi ro phát sinh.

Thực tế cho thấy, hàng hóa và dịch vụ qua lại cửa khẩu gia tăng dẫn đến nhu cầu lao động phổ thông tại các khu vực “kinh tế cửa khẩu” cũng gia tăng, nên cạnh tranh giữa những lao động phức tạp hơn. Việc tham gia các hoạt động kinh tế phi chính thức, kinh tế bất hợp pháp gia tăng, gây khó khăn cho cơ quan chuyên trách vùng biên.

Cùng với đó, việc người, hàng hóa, thông tin qua lại biên giới tăng cũng mang lại thách thức không nhỏ về kỹ thuật, hạ tầng cho cơ quan quản lý cửa khẩu, vùng biên. Các dịch vụ môi giới, trung gian cũng theo đó phát triển và có nguy cơ thành hoạt động lừa đảo, bất hợp pháp không chỉ tại chỗ mà có nguy cơ mở rộng và đi sâu vào lãnh thổ tại các đô thị ngoài vùng biên.

Lao động xuyên biên giới có thể là cư dân hiện đang cư trú tại một nước nhưng lại sử dụng dịch vụ ở cả 2 bên và di chuyển qua biên giới thường xuyên, làm việc và nhận tiền từ nước thứ hai không phải nơi đang cư trú. Do đó, cách quản lý dựa hoàn toàn trên nền tảng kỹ thuật, hạ tầng lạc hậu, thiếu đồng bộ, chuyển đổi số chưa đồng bộ và cách các cơ quan quả lý vùng biên còn dựa vào địa bàn hành chính trở nên không còn phù hợp. Đây cũng là thách thức lớn đối với các cơ quan quản lý vùng biên, đòi hỏi có sự đầu tư nâng cấp các cửa khẩu, nhanh chóng đồng bộ và chuyển đổi số trong công tác quản lý và phát triển vùng biên. Đặc biệt cần có sự hợp tác không gian số giữa các quốc gia vùng biên.

Lao động xuyên biên giới không chỉ liên quan đến cơ quan quản lý lao động mà còn liên quan đến nhiều cơ quan. Đây là vấn đề cần có sự hợp tác liên ngành và có sự chỉ đạo thống nhất ở các lĩnh vực: Ngoại giao, biên phòng, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý tại chỗ của chính quyền địa phương ... và sự hợp tác thường xuyên của các cơ quan nghiệp vụ của phía bạn.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Nhằm quản lý phát triển lao động xuyên biên giới tại tỉnh Đồng Tháp, theo tác giả, quản lý lao động và việc làm xuyên biên giới không nên chỉ tập trung vào kiểm soát người lao động qua biên giới, mà phải chuyển sang tư duy quản lý để tạo điều kiện cho giao lưu và việc làm hợp pháp tại vùng biên phát triển. Theo đó, cần tập trung vào 3 giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế pháp lý và quản lý thống nhất lao động xuyên biên giới. Cần xây dựng cơ chế phối hợp về đăng ký, cấp phép, tuyển dụng, đi lại, cư trú, tiền lương, bảo hiểm, thuế, quyền lợi và giải quyết tranh chấp lao động đối với người lao động xuyên biên giới giữa 2 bên. Mục tiêu là vừa kiểm soát được lao động bất hợp pháp, vừa giảm chi phí và thủ tục đối với lao động hợp pháp.

Hai là, giảm thiểu thủ tục, gia tăng mức độ thuận tiện qua lại vùng biên giữa hai nước láng giềng. Khi việc di chuyển của cư dân 2 bên biên giới được tổ chức theo hướng thuận tiện, minh bạch và an toàn, các rào cản đối với giao lưu kinh tế - xã hội được giảm xuống, qua đó tạo điều kiện mở rộng các hoạt động thương mại, dịch vụ và trao đổi lao động việc làm hợp pháp xuyên biên giới.

Ở góc độ kinh tế, khả năng qua lại biên giới không chỉ phản ánh trạng thái của quan hệ biên giới mà còn là một điều kiện ban đầu rất quan trọng của quá trình hình thành và phát triển các thị trường xuyên biên giới. Việc tạo lập các cơ chế qua lại thuận tiện có thể thúc đẩy hình thành các dòng lao động xuyên biên giới, góp phần phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả hơn và tạo thêm cơ hội việc làm, thu nhập hợp pháp cho cư dân vùng biên.

Ba là, xây dựng hệ thống thông tin và kết nối thị trường lao động xuyên biên giới, thay vì để người lao động tự phát, tự tìm việc thông qua các mạng lưới phi chính thức. Đặc biệt các thông tin liên quan đến mức tiền lương và điều kiện làm việc; yêu cầu về kỹ năng, trình độ; quy định pháp luật về lao động. Đồng thời phải luôn có các cảnh báo về tuyển dụng bất hợp pháp, lừa đảo và môi giới trái phép.

Bốn là, tăng cường, phát triển giao lưu biên giới, tạo thuận lợi cho việc mở rộng không gian kinh tế, mở rộng thị trường lao động, từ đó gia tăng cơ hội việc làm và thu nhập hợp pháp của cư dân lao động xuyên biên giới. Có thể thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa: Chính quyền địa phương 2 bên, các cơ quan chức năng liên quan đến lao động, cơ quan biên phòng/xuất nhập cảnh, doanh nghiệp và tổ chức tuyển dụng người lao động. Nội dung hợp tác không chỉ là kiểm soát mà còn phải bao gồm: bảo vệ quyền lợi người lao động; phòng chống buôn người và cưỡng bức lao động; xử lý tranh chấp lao động; bảo đảm tiền lương và điều kiện làm việc và đặc biệt săn sàng hỗ trợ người lao động khi gặp rủi ro. Mục tiêu của quản lý không phải làm giảm dòng lao động xuyên biên giới, mà là chuyển dòng lao động từ phi chính thức, khó kiểm soát sang chính thức, minh bạch và lao động qua lại biên giới luôn được an toàn.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2014). Nghị định số 34/2014/NĐ-CP, ngày 29/4/2014 về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Cổng Thông tin điện tử Đồng Tháp (2025). Đồng Tháp thúc đẩy phát triển khu vực biên giới. https://dongthap.gov.vn/tin-tuc/chi-tiet?id=6379722.

3. European Commission (2024). Cross-Border Regional Labour Market Analysis. B-1049 Brussels: ISBN 978-92-68-25016-7 doi: 10.2776/1527569 KN-01-25-018-2A-N.

4. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025). Phát triển Kinh tế - Xã hội đảm bảo an ninh, quốc phòng trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ trong tình hình hiện nay. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ.

Ngày nhận bài: 4/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/9/2026; Ngày duyệt đăng: 14/10/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao của phân khúc ẩm thực cao cấp, chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường marketing số, hiểu biết số ngày càng trở thành năng lực quan trọng quyết định khả năng khai thác dữ liệu, nội dung và nền tảng công nghệ của nhân viên.
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài chỉ có thể biến thành quyết định khởi nghiệp thực tế khi chúng được chuyển hóa thành niềm tin vào năng lực cá nhân và tư duy khởi nghiệp.
Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh

Hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu logistics đô thị TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng đóng vai trò then chốt trong quản lý và điều phối logistics đô thị.