Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Nghiên cứu - Trao đổi 17:38 | 12/10/2026
Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.

Nguyễn Đức Trà

Học viên cao học ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Vinh

Email: [email protected]

TS. Nguyễn Đăng Đức

Trường Đại học Vinh

Tóm tắt

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và thống kê mô tả để đánh giá kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 của tỉnh Hà Tĩnh trong mối quan hệ với quy hoạch tỉnh từ năm 2024 đến tháng 8/2026. Kết quả cho thấy phương án phân bổ vốn đã chuyển theo hướng tập trung danh mục các dự án trọng tâm, trọng điểm, song tính khả thi phụ thuộc vào nguồn thu, chất lượng chuẩn bị dự án và năng lực thực hiện của cả cấp tỉnh và cấp xã. Việc giảm số lượng dự án chỉ là bước đầu, hiệu quả đầu tư cần được tiếp tục đánh giá chi phí, lợi ích và kết quả đầu ra trong quá trình thực hiện. Nghiên cứu đề xuất chuẩn hóa việc lựa chọn dự án, lập kịch bản nguồn vốn, nâng cao năng lực các cơ quan cấp tỉnh, cấp xã và giám sát theo vòng đời công trình. Những nhận định về tác động tăng trưởng cần được kiểm chứng khi có dữ liệu thực hiện.

Từ khóa: Đầu tư công, kế hoạch trung hạn, quy hoạch tỉnh, Hà Tĩnh, phân bổ vốn

Abstract

This study employs document analysis and descriptive statistics to assess Ha Tinh Province’s medium-term public investment plan for 2026-2030 in relation to the provincial master plan, covering the period from 2024 to August 2026. The findings indicate a shift in capital allocation toward a more concentrated portfolio of priority and strategically important projects. However, the feasibility of this approach depends on revenue availability, the quality of project preparation, and implementation capacity at both provincial and commune levels. Reducing the number of projects represents only an initial step; investment efficiency must also be assessed in terms of costs, benefits, and output performance throughout implementation. The study proposes standardizing project selection procedures, developing alternative funding scenarios, strengthening the capacity of provincial and commune-level authorities, and implementing life-cycle-based monitoring of public infrastructure projects. Any conclusions regarding the effects on economic growth require further validation using implementation data as they become available.

Keywords: Public investment, medium-term investment plan, provincial master plan, Ha Tinh Province, capital allocation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kế hoạch đầu tư công trung hạn là công cụ chuyển các định hướng phát triển thành quyết định phân bổ nguồn lực trong nhiều năm. Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai. Vì vậy, chất lượng kế hoạch đầu tư công phải được xem xét đồng thời về tính phù hợp, khả thi và hiệu quả với quy hoạch. Đối với tỉnh Hà Tĩnh, yêu cầu này đặc biệt rõ trong giai đoạn 2026-2030. Năm 2022 Tỉnh được phê duyệt quy hoạch, năm 2026 được điều chỉnh quy hoạch trong đó nhấn mạnh phát triển công nghiệp, năng lượng, cảng biển và logistics của tỉnh. Vũng Áng tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh, 2026; Thủ tướng Chính phủ, 2022). Định hướng này đặt ra nhu cầu đầu tư kết nối hạ tầng đồng thời phải cân nhắc tác động môi trường và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân.

Nghiên cứu hướng tới 3 mục tiêu: (i) hệ thống hóa cách đánh giá chất lượng kế hoạch; (ii) phân tích phương án vốn và những điểm còn hạn chế của Hà Tĩnh; (iii) đề xuất giải pháp gắn phân bổ vốn với kết quả phát triển. Phạm vi nghiên cứu là quá trình xây dựng phương án trung hạn từ năm 2024 đến tháng 8/2026.

CƠ SỞ PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung phân tích

Về pháp lý, Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 và Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi một số luật liên quan là những căn cứ cần đối chiếu khi xem xét hồ sơ kế hoạch (Quốc hội, 2024, 2025).

Về quản trị, nghiên cứu đề xuất đánh giá kế hoạch theo 4 tiêu chí: (i) sự phù hợp với mục tiêu và không gian phát triển; (ii) Tính khả thi tài chính, bao gồm nguồn vốn và nghĩa vụ vận hành; (iii) mức độ sẵn sàng của dự án, thể hiện qua thủ tục, thiết kế, mặt bằng và tổ chức thực hiện; (iv) hiệu quả dự kiến, xét trên lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Quan hệ giữa quy hoạch và kế hoạch đầu tư công cần được kiểm tra ở cấp dự án. Với công trình giao thông, cần xác định điểm nghẽn kết nối được giải quyết và nhu cầu sử dụng. Với công trình chống ngập, cần xác định phạm vi bảo vệ, mức độ giảm rủi ro và chi phí duy trì. Với hạ tầng số, cần đánh giá khả năng sử dụng chung, liên thông và tránh trùng lặp.

Dữ liệu và phương pháp

Số liệu tổng mức vốn và quy mô danh mục được đối chiếu với thông tin của HĐND tỉnh. Phương án phân cấp được kiểm tra, thống nhất tại kỳ họp ngày 24/8/2026 (HĐND tỉnh Hà Tĩnh, 2026; Xuân Hoa, 2026).

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp gồm: phân tích nội dung, kiểm tra tính nhất quán và thống kê mô tả.

Mức giảm số dự án được tính trên cùng phạm vi nguồn vốn, không cộng cơ học danh mục trong nước với danh mục nước ngoài nếu một dự án sử dụng cả 2 nguồn. Nghiên cứu không sử dụng hồi quy và không suy luận quan hệ nhân quả giữa thay đổi danh mục với tăng trưởng kinh tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Quá trình xây dựng phương án

Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 8/8/2024 là căn cứ chỉ đạo lập kế hoạch giai đoạn mới (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Quá trình rà soát phản ánh sự chuyển đổi từ tổng hợp nhu cầu sang lựa chọn trong giới hạn nguồn lực. Tuy nhiên, số lần báo cáo không tự chứng minh việc tuân thủ đầy đủ tiến độ hoặc chất lượng lập kế hoạch.

Đợt đầu, tổng nhu cầu được hồ sơ ghi nhận là 84.944,655 tỷ đồng. Phương án tháng 8/2026 có tổng vốn 34.079,138 tỷ đồng. Chênh lệch giữa 2 mức là 50.865,517 tỷ đồng, tương đương khoảng 59,88% nhu cầu ban đầu.

Điểm tích cực là danh mục được rà soát theo khả năng cân đối. Tuy nhiên, cần có bảng theo dõi thống nhất giải thích dự án nào được giữ, loại bỏ, chuyển nguồn hoặc điều chỉnh quy mô. Chất lượng điều hành cần được đánh giá bằng thời gian xử lý, nguyên nhân sửa đổi và mức độ hoàn thiện hồ sơ sau từng đợt rà soát.

Cơ cấu vốn và mức độ tập trung danh mục

Thông tin công khai của HĐND tỉnh xác nhận phương án trình có tổng mức vốn dự kiến 34.079,138 tỷ đồng, gồm ngân sách trung ương 7.007,810 tỷ đồng và ngân sách địa phương 27.071,328 tỷ đồng; danh mục dự kiến gồm 176 dự án (HĐND tỉnh Hà Tĩnh, 2026) (Bảng).

Bảng: Cơ cấu vốn dự kiến giai đoạn 2026-2030

Khoản vốn

Tỷ đồng

Tỷ trọng (%)

Tổng vốn dự kiến

34.079,138

100,00

Ngân sách trung ương

7.007,810

20,56

Ngân sách địa phương

27.071,328

79,44

Trong đó phân cấp cấp xã

9.581,011

35,39

Trong đó nhiệm vụ cấp tỉnh

17.490,317

64,61

Nguồn: HĐND tỉnh Hà Tĩnh (2026)

Ngân sách địa phương chiếm khoảng 79,44% tổng phương án, cho thấy khả năng thực hiện kế hoạch phụ thuộc đáng kể vào nguồn lực tại chỗ. Do đó, quyết định danh mục phải gắn với dự báo thu và tiến độ hình thành nguồn vốn. Một dự án có ý nghĩa chiến lược vẫn thiếu tính khả thi nếu nguồn lực phụ thuộc vào khoản thu chưa chắc chắn. Tỉnh cần xác định nguồn đã có cơ sở cân đối với nguồn dự kiến, đồng thời xác định thứ tự xử lý khi hụt thu nếu có.

Theo nghiên cứu, danh mục nguồn trung ương giảm từ 128 xuống 10 dự án, tương đương 92,19%; danh mục nguồn địa phương giảm từ 286 xuống 166 dự án, tương đương 41,96%. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu gọn danh mục nhưng chưa phản ánh hiệu quả sử dụng vốn. Công trình quy mô lớn có thể tạo kết nối tốt, nhưng cũng đồng thời kéo theo rủi ro chậm mặt bằng và tăng chi phí. Rong khi đó, công trình nhỏ ở địa bàn khó khăn có thể mang lợi ích xã hội đáng kể. Do đó, sàng lọc cần dựa trên giá trị công và mức độ cấp thiết, thay vì mặc nhiên ưu tiên dự án lớn hoặc loại bỏ dự án nhỏ.

Khả thi tài chính và phân cấp nguồn lực

Dữ liệu thống kê cho thấy vốn thu từ tiền sử dụng đất dự kiến là 19.635 tỷ đồng, chiếm khoảng 72,53% tổng vốn địa phương. Để đánh giá rủi ro, cần thêm danh mục quỹ đất, tình trạng pháp lý, lịch đấu giá, chi phí tạo quỹ đất và kết quả thực hiện thu qua các năm. Khi nguồn thu thấp hơn dự kiến, phải ưu tiên thực hiện các công trình thiết yếu và hạn chế khởi công vượt khả năng nguồn vốn. Với dự án sử dụng vốn vay hoặc nguồn nước ngoài, cần xem xét vốn đối ứng, tiến độ giải ngân và nghĩa vụ trả nợ. Không nên chỉ đánh giá khả năng cân đối trên tổng vốn của cả 5 năm.

Vốn dự kiến phân cấp cho cấp xã là 9.581,011 tỷ đồng, tương đương 35,39% tổng vốn ngân sách địa phương (Xuân Hoa, 2026). Vì vậy, việc phân cấp vốn cũng cần đi cùng khả năng quản lý dự án. Trong mô hình chính quyền 2 cấp, cấp xã có thể tiếp nhận công trình và trách nhiệm từ đơn vị trước sắp xếp. Hồ sơ bàn giao cần bao gồm khối lượng, hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán, trách nhiệm vận hành và các nội dung liên quan. Việc phân bổ nên cân nhắc nhu cầu, quy mô dân số, mức độ khó khăn và năng lực thực hiện; không để khả năng thu từ đất trở thành căn cứ duy nhất quyết định cơ hội tiếp cận hạ tầng.

Sự gắn kết với quy hoạch và giới hạn bằng chứng

Trong điều chỉnh quy hoạch của Tỉnh, việc phát triển công nghiệp, năng lượng, logistics và liên kết không gian phát triển được nhấn mạnh (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh, 2026). Trên cơ sở đó, lựa chọn hạ tầng kết nối và công trình giảm rủi ro thiên tai có thể phù hợp về định hướng. Tuy nhiên, sự phù hợp phải được chứng minh bằng vị trí, chức năng, nhu cầu sử dụng và khả năng kết nối với hạ tầng hiện hữu.

Đầu tư công có thể tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp khi giải quyết được điểm nghẽn thực tế. Tuy nhiên, muốn đánh giá vai trò dẫn dắt, cần theo dõi vốn tư nhân thực hiện, mức sử dụng hạ tầng, chi phí logistics hoặc mức giảm tổn thất thiên tai. Không nên coi toàn bộ vốn đăng ký hoặc tăng trưởng kinh tế sau đầu tư là tác động của dự án. Ngoài ra, những thay đổi đó còn chịu ảnh hưởng của thị trường, năng lực doanh nghiệp và nhiều chính sách khác. Hiện nay Tỉnh vẫn đặt yêu cầu rà soát nguồn vốn, tính khả thi và điều kiện triển khai (HĐND tỉnh Hà Tĩnh, 2026). Vì vậy, kết quả nghiên cứu chủ yếu phản ánh chất lượng xây dựng kế hoạch, còn việc tiết kiệm chi phí, tăng trưởng hoặc lợi ích xã hội phải chờ dữ liệu thực hiện và đánh giá sau đầu tư.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Chuẩn hóa trong lựa chọn dự án

Sở Tài chính nên chủ trì xây dựng hồ sơ đánh giá thống nhất cho từng dự án, phối hợp với cơ quan chuyên ngành xác định mục tiêu, nhu cầu, tổng chi phí và nguồn vốn. Mỗi dự án cần chứng minh điểm nghẽn được giải quyết, phương án thay thế và kết quả mong đợi. Hồ sơ cần phân biệt điều kiện bắt buộc với tiêu chí xếp hạng. Đối với dự án chưa đủ cơ sở, chỉ được xem xét trong danh mục chuẩn bị, theo đúng quy định pháp luật. Việc đánh giá không nên dùng một chỉ tiêu cho mọi loại công trình. Dự án tạo lợi ích kinh tế có thể phân tích chi phí - lợi ích và độ nhạy; công trình cung cấp dịch vụ xã hội có thể so sánh chi phí đạt mục tiêu.

Quản lý nguồn vốn và trách nhiệm thực hiện

UBND tỉnh cần tổ chức cập nhật kế hoạch vốn theo khả năng thu thực tế và tiến độ dự án. Với nguồn thu đất, phải lập lịch hình thành nguồn và phương án ứng phó hụt thu; với vốn vay, phải theo dõi nghĩa vụ tài chính. Khi điều chỉnh, cần công khai lý do, ảnh hưởng và thẩm quyền quyết định. Không nên chuyển vốn chỉ để đạt tỷ lệ giải ngân nếu dự án nhận vốn chưa chứng minh khả năng hoàn thành và nhu cầu sử dụng.

Đối với cấp xã, Tỉnh cần cung cấp hỗ trợ về hồ sơ, hợp đồng, nghiệm thu và thanh toán. Cơ chế phân bổ nên ưu tiên cho địa bàn khó khăn, đồng thời kiểm tra khả năng thực hiện để tránh giao trách nhiệm vượt năng lực.

Giám sát kết quả và huy động nguồn lực

Cơ sở dữ liệu dự án cần liên kết quy hoạch, thủ tục, vốn, tiến độ và kết quả đầu ra bằng mã định danh thống nhất. Chỉ tiêu giám sát bao gồm thời gian chuẩn bị, biến động chi phí, tiến độ hoàn thành và mức sử dụng công trình. HĐND tỉnh có thể sử dụng dữ liệu này để lựa chọn nội dung giám sát, các cơ quan thực hiện phải giải trình nội dung sai lệch. Trách nhiệm người đứng đầu phải gắn với quyết định cụ thể và điều kiện thực hiện.

KẾT LUẬN

Phương án đầu tư công trung hạn của Hà Tĩnh cho thấy xu hướng tập trung danh mục và tăng vai trò nguồn lực địa phương. Vấn đề quyết định là chất lượng, hiệu quả của dự án, độ chắc chắn của nguồn thu và năng lực tổ chức thực hiện. Gắn kế hoạch với quy hoạch cần được thể hiện qua công trình giải quyết đúng điểm nghẽn để đảm bảo nguồn vốn và kết quả đo lường được.

Tài liệu tham khảo:

1. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh (2026a). Quyết định điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2021-2030: Định vị trung tâm công nghiệp, năng lượng và logistics Bắc Trung Bộ. https://hatinh.gov.vn/vi/bai-viet/quyet-dinh-dieu-chinh-quy-hoach-tinh-ha-tinh-thoi-ky-2021-2030-dinh-vi-trung-tam-cong-nghiep-nang-luong-va-logistics-bac-trung-bo

2. HĐND tỉnh Hà Tĩnh (2026). Kỳ họp thứ 7 HĐND tỉnh khóa XIX xem xét, quyết nghị 2 nội dung quan trọng. https://dbndhatinh.vn/tin-bai/thuong-truc-hdnd/ky-hop-thu-7-hdnd-tinh-khoa-xix-xem-xet-quyet-nghi-2-noi-dung-quan-trong

3. Quốc hội (2024). Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 ngày 29/11/2024.

4. Quốc hội (2025). Luật số 90/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Hải quan, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

5. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 8/11/2022 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

7. Thủ tướng Chính phủ (2024). Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 8/8/2024 về lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030.

8. Hoa, X. (2026, 24 tháng 8). Rà soát phương án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Báo Hà Tĩnh. https://baohatinh.vn/ra-soat-phuong-an-dau-tu-cong-trung-han-giai-doan-2026-2030-post316069.html

Ngày nhận bài: 29/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.
Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Doanh nghiệp logistics thường đứng ra giao dịch với khách hàng nhưng thuê lại các bên thứ ba thực hiện từng chặng dịch vụ lẻ. Mô hình này phát sinh bài toán phức tạp trong việc xác định vai trò Principal (Chủ thể) hay Agent (Đại lý).
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Sự gắn kết của nhân viên là một nội dung quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực vì nó liên quan đến mức độ người lao động chủ động đầu tư năng lượng, tâm lý và nỗ lực vào công việc.