Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Nghiên cứu - Trao đổi 20:10 | 12/10/2026
Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.

TS. Trần Đức Thuận

Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích tiềm năng phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh) trong bối cảnh thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Kết quả cho thấy, xã Châu Pha có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các mô hình du lịch nông nghiệp như trải nghiệm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, farmstay, homestay sinh thái và chuỗi sản phẩm OCOP gắn với chế biến sâu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, đa dạng hóa nguồn thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.

Từ khóa: Du lịch nông nghiệp, chuyển giao công nghệ, chuỗi giá trị, OCOP, xã Châu Pha

Abstract

This study examines the potential for developing agriculture-based experiential tourism in Chau Pha Commune, Ho Chi Minh City, in the context of transforming agricultural growth toward science and technology application, innovation, and sustainable development. The findings indicate that Chau Pha Commune has favorable conditions for developing agricultural tourism models, including high-tech farming experiences, farmstays, eco-homestays, and OCOP product chains linked to deep processing. Based on these findings, the study proposes several solutions to increase the value added of agricultural products, diversify household income sources, and promote sustainable rural economic development.

Keywords: Agricultural tourism, technology transfer, value chains, OCOP, Chau Pha Commune

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong dòng chảy của nền kinh tế hiện đại, nông nghiệp không còn đơn thuần giữ vai trò cung cấp nông sản thô mà đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích hợp đa giá trị. Tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã mở ra không gian thể chế thông thoáng để các địa phương cơ cấu lại sản xuất dựa trên tri thức (Bộ Chính trị, 2024). Đối với địa bàn xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh), một vùng sản xuất rau an toàn và nông sản tập trung trọng điểm, bài toán đặt ra là làm thế nào để giữ lại hàm lượng giá trị gia tăng cao nhất trên từng đơn vị canh tác, kéo dài vòng đời nông sản và cải thiện sinh kế bền vững cho nhân dân.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác. Tuy nhiên, tại xã Châu Pha, việc khai thác tiềm năng này vẫn chưa tương xứng với lợi thế sẵn có về điều kiện tự nhiên, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và vị trí kết nối với các trung tâm kinh tế lớn. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại và bền vững. Nghiên cứu này tập trung phân tích các nguồn lực và thực trạng tại Châu Pha, từ đó xác định những mô hình có khả năng phát triển và đề xuất các giải pháp về hạ tầng, công nghệ và liên kết chuỗi nhằm từng bước hình thành sản phẩm du lịch nông nghiệp phù hợp với điều kiện địa phương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Khái niệm phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm

Du lịch nông nghiệp (Agritourism) là hình thức du lịch có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động nông nghiệp, trong đó trải nghiệm của du khách có thể diễn ra tại một cơ sở sản xuất đang hoạt động và có mức độ tương tác khác nhau với quá trình canh tác, sản phẩm hoặc không gian nông nghiệp (Phillip và cộng sự, 2010). Việc kết nối sản xuất nông nghiệp với du lịch có thể mở rộng cơ hội tạo thu nhập cho người sản xuất, tạo việc làm và góp phần gia tăng giá trị của hệ thống nông nghiệp tại địa phương (Gálvez Nogales và cộng sự, 2023).

Lý thuyết chuỗi giá trị trong nông nghiệp

Theo Porter (1985), chuỗi giá trị là hệ thống các hoạt động tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm từ đầu vào đến người tiêu dùng cuối cùng. Đối với nông nghiệp, việc kết hợp sản xuất với du lịch, chế biến sâu và thương mại số giúp kéo dài chuỗi giá trị, giảm phụ thuộc vào tiêu thụ nông sản tươi và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.

Vai trò của chuyển giao khoa học công nghệ

Trong mô hình nông nghiệp gắn với du lịch, công nghệ có thể được ứng dụng đồng thời ở khâu sản xuất và khâu cung cấp thông tin cho khách. Công nghệ số hỗ trợ du khách tiếp cận thông tin và tương tác với điểm đến, trong khi hệ thống dữ liệu và truy xuất nguồn gốc giúp minh bạch thông tin về quá trình sản xuất nông sản (Hoang và cộng sự, 2026; World Bank, 2022). Vì vậy, việc chuyển giao công nghệ trong trường hợp này không chỉ hướng đến nâng cao hiệu quả sản xuất, mà còn có thể tạo thêm nội dung cho trải nghiệm và củng cố khả năng nhận diện giá trị của sản phẩm nông nghiệp.

Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch nông nghiệp

Khả năng phát triển du lịch nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều điều kiện của điểm đến. Nghiên cứu tại Phong Điền (Cần Thơ) xác định 6 nhóm yếu tố đáng chú ý gồm: tài nguyên du lịch nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, an toàn và giá cả (Thông và Nhân, 2024). Bên cạnh các điều kiện tại điểm đến, việc kết nối giữa người sản xuất, doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý và các chủ thể trong chuỗi giá trị cũng có ý nghĩa đối với việc hình thành và duy trì sản phẩm du lịch nông nghiệp (Gálvez Nogales và cộng sự, 2023).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích tài liệu nhằm đánh giá tiềm năng phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha. Dữ liệu được tổng hợp từ báo cáo của UBND xã Châu Pha, tài liệu của Hợp tác xã (HTX) Sản xuất nông nghiệp và dịch vụ Châu Pha, các công trình nghiên cứu, bài báo chuyên ngành và các nguồn thông tin chính thống liên quan đến phát triển nông nghiệp, du lịch nông nghiệp và chuyển giao công nghệ.

Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng, xác định các lợi thế, hạn chế và đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển của xã Châu Pha.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI DU LỊCH TRẢI NGHIỆM TẠI XÃ CHÂU PHA

Định hướng phát triển các sản phẩm trải nghiệm

Phát triển du lịch gắn với nông nghiệp đã xuất hiện trong định hướng phát triển của chính quyền xã Châu Pha. Địa phương xác định phát triển các mô hình du lịch sinh thái kết hợp trải nghiệm nông nghiệp, homestay, tour vườn cây ăn trái công nghệ cao và tour “một ngày làm nông dân công nghệ cao” trong quá trình xây dựng mô hình “xã thông minh” đến năm 2030 (Chí Linh, 2025).

Nền tảng của định hướng này có mối liên hệ trực tiếp với những hoạt động sản xuất đang diễn ra tại địa phương (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026). Cụ thể, HTX Châu Pha đã có vùng rau VietGAP, nhà màng, hệ thống tưới tự động, máy gieo hạt tự động, quy trình quản lý sản xuất và hoạt động sơ chế rau. Vì vậy, những công đoạn đang được thực hiện trong sản xuất nông nghiệp có thể trở thành nguồn nội dung thực tế để thiết kế các hoạt động tham quan và trải nghiệm thay vì phải hình thành một hệ thống sản xuất riêng cho mục đích du lịch (Hà Duyên, 2026; Nguyên Vỹ, 2025).

Nền tảng liên kết sản xuất và thị trường có thể hỗ trợ phát triển trải nghiệm

Mặc dù hoạt động du lịch nông nghiệp chưa có nhiều dữ liệu vận hành, chuỗi sản xuất và tiêu thụ nông sản tại Châu Pha đã hình thành tương đối rõ. HTX tổ chức sản xuất theo quy trình, kiểm soát chất lượng và kết nối đầu ra cho thành viên. Rau của HTX được phân phối vào Bách Hóa Xanh, Aeon, các điểm bán rau an toàn và một phần được sản xuất phục vụ xuất khẩu sang thị trường châu Âu (Hà Duyên, 2026; Hương Giang, 2026).

Quá trình sau thu hoạch cũng đã có lịch vận hành cụ thể. Rau tại HTX được thu hoạch từ khoảng 10 giờ, bắt đầu sơ chế vào khoảng 14 giờ và khoảng 18 giờ được vận chuyển đến các hệ thống phân phối nhằm duy trì độ tươi và chất lượng sản phẩm (Hà Duyên, 2026). Đây là một chuỗi hoạt động sản xuất thực tế có thể được sử dụng để xây dựng nội dung giới thiệu về quy trình từ sản xuất đến thị trường nếu địa phương phát triển sản phẩm trải nghiệm nông nghiệp.

Vấn đề đặt ra

Thực tế cho thấy, lợi thế rõ nhất của Châu Pha hiện nằm ở nền tảng sản xuất nông nghiệp. Địa phương đã có vùng sản xuất VietGAP, quy mô HTX tương đối lớn, công nghệ nhà màng và tưới tự động, hệ thống quản lý sản xuất, các kênh phân phối hiện đại và hoạt động xuất khẩu. Đồng thời, chính quyền xã đã xác định rõ định hướng phát triển du lịch sinh thái kết hợp trải nghiệm nông nghiệp (Chí Linh, 2025; Hương Giang, 2026).

Như vậy, xã đã có 3 nền tảng thực tế cho phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm: Vùng sản xuất nông nghiệp đạt chuẩn và có quy mô; Mức độ ứng dụng công nghệ tương đối rõ tại HTX; và Định hướng chính thức của địa phương về phát triển du lịch sinh thái, homestay và tour trải nghiệm nông nghiệp. Tuy nhiên, bằng chứng về việc thương mại hóa các mô hình du lịch tại đây vẫn còn hạn chế.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Trên cơ sở thực trạng trên, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm chuyển tiềm năng nông nghiệp của xã thành các sản phẩm du lịch vận hành ổn định như sau:

Thiết kế cảnh quan nông nghiệp sạch: Quy hoạch đồng bộ các vùng sản xuất tập trung theo tiêu chí “Xanh - Sạch - Đẹp”. Khuyến khích các trang trại, nông hộ trồng xen canh các thảm hoa sinh thái dọc bờ ruộng và hành lang nhà lưới để vừa tạo thiên địch tự nhiên cách ly dịch hại, vừa làm điểm check-in mỹ thuật hấp dẫn du khách.

Cải thiện hạ tầng giao thông nội đồng: Tận dụng hiệu quả nguồn kinh phí bổ sung từ ngân sách nhà nước năm 2026 để bê tông hóa hoặc rải sỏi đồng bộ các trục đường chính nội đồng, đảm bảo xe du lịch lữ hành tiếp cận các trang trại thuận tiện. Quy hoạch các bãi đỗ xe rộng rãi, khu nhà chờ sơ chế đạt chuẩn vệ sinh môi trường để tiếp đón các đoàn khách quy mô lớn (Cổng Thông tin điện tử Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026).

Tích hợp dịch vụ ẩm thực hữu cơ tại chỗ: Xây dựng khu ẩm thực gắn với điểm trải nghiệm nông nghiệp hoặc khu vực của HTX, tận dụng nguồn rau sạch hiện được HTX Châu Pha cung ứng ra thị trường để phát triển các sản phẩm ẩm thực phục vụ khách tham quan (Nguyên Vỹ, 2025).

Đa dạng hóa sản phẩm quà tặng OCOP chế biến sâu: Để tối ưu hóa nguồn thu, địa phương cần ứng dụng các tiến bộ công nghệ cốt lõi như sấy lạnh, sấy thăng hoa, cô đặc chân không nhằm chuyển đổi các loại rau quả tươi dư thừa lúc cao điểm thu hoạch thành các sản phẩm đóng gói hiện đại (mứt hữu cơ, bột rau củ sinh học, nông sản sấy khô kỹ thuật cao) đạt chuẩn OCOP 3-4 sao.

Xây dựng bản đồ du lịch nông nghiệp số: Tiến hành số hóa dữ liệu về các vùng sản xuất, HTX, nông trại ứng dụng công nghệ và các điểm trải nghiệm được hình thành trên địa bàn xã. Khi các cơ sở lưu trú hoặc tour trải nghiệm được đưa vào vận hành, thông tin về dịch vụ, lịch hoạt động và khả năng tiếp nhận khách có thể được tích hợp để hỗ trợ du khách tìm kiếm và đặt dịch vụ trực tuyến.

Minh bạch thương hiệu qua mã QR: Áp dụng 100% việc dán nhãn quét mã QR truy xuất nguồn gốc điện tử cho nông sản trải nghiệm. Du khách có thể dùng điện thoại thông minh để xem toàn bộ nhật ký canh tác điện tử thời gian thực của sản phẩm, củng cố vững chắc niềm tin chất lượng đối với người tiêu dùng đô thị.

Xây dựng tour - tuyến cố định ổn định: Thiết lập hệ thống tour học đường cố định định kỳ vào các ngày trong tuần và tour gia đình nghỉ dưỡng vào 2 ngày cuối tuần. Cơ chế phân chia tỷ lệ lợi nhuận giữa đơn vị lữ hành, ban quản trị HTX và nông hộ trực tiếp phải được quy định bằng hợp đồng minh bạch, giúp người nông dân yên tâm nâng cao chất lượng dịch vụ chuyên nghiệp.

Liên kết bền vững chuỗi giá trị: HTX sản xuất nông nghiệp và dịch vụ Châu Pha ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU) với các công ty du lịch lữ hành lớn tại TP. Hồ Chí Minh. HTX chịu trách nhiệm giám sát quy trình an toàn thực phẩm, đồng thời điều tiết gối vụ thu hoạch giữa các nhà vườn để đảm bảo luôn có sản phẩm trải nghiệm quanh năm.

UBND xã Châu Pha nên cụ thể hóa thỏa thuận hợp tác khoa học với các đơn vị chuyên môn của Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh để tiếp nhận các quy trình kỹ thuật sơ chế, sấy lạnh tiên tiến và bao bì thông minh. Đồng thời, phối hợp tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ năng hướng dẫn, kỹ năng giao tiếp đô thị và ứng dụng công nghệ số cho bà con nông dân.

Các doanh nghiệp lữ hành và đơn vị bao tiêu cần chủ động đồng hành, tham gia góp ý thiết kế các điểm dừng chân, các quy chuẩn phân loại kỹ thuật sản phẩm ngay từ đầu vụ để định hình chuỗi sản phẩm phù hợp hoàn hảo với thị hiếu khắt khe của du khách thành thị.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Chí Linh (2025). Châu Pha nỗ lực xây dựng mô hình “xã thông minh” vào năm 2030. https://hanoimoi.vn/chau-pha-no-luc-xay-dung-mo-hinh-xa-thong-minh-vao-nam-2030-712565.html

3. Cổng Thông tin điện tử Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Xã Châu Pha (TPHCM) đặt mục tiêu trở thành phường vào năm 2030. https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/xa-chau-pha-tphcm-dat-muc-tieu-tro-thanh-phuong-vao-nam-2030-1491938368

4. Gálvez Nogales, E., Puntsagdavaa, A., Casari, G., & Bennett, A. (2023). Linking agriculture and tourism to strengthen agrifood systems in Asia and the Pacific. Food and Agriculture Organization of the United Nations. https://doi.org/10.4060/cc7124en

5. Hà Duyên (2026). Chuỗi cung ứng nông sản an toàn: [Bài 1] Giữ chuẩn từ gốc. https://nongnghiepmoitruong.vn/chuoi-cung-ung-nong-san-an-toan-bai-1-giu-chuan-tu-goc-d808213.html

6. Hoang, H. H., Vu, T. T. H., Tran, H. T. B., & Nguyen, D.-M. (2026). Smart tourism technologies and revisit intention in Vietnam’s agritourism destinations: An expectation-confirmation model with novelty and worry. Digital Technologies Research and Applications, 5(2), 321-340. https://doi.org/10.54963/dtra.v5i2.2375

7. Hương Giang (2026). Nửa thế kỷ kiến tạo nền nông nghiệp công nghệ cao - Bài 1: Cuộc chuyển đổi chiến lược. https://baotintuc.vn/kinh-te/nua-the-ky-kien-tao-nen-nong-nghiep-cong-nghe-caobai-1-cuoc-chuyen-doi-chien-luoc-20260625114518105.htm

8. Nguyên Vỹ (2025). Làm hợp tác xã, xây dựng chuỗi liên kết, nông dân Châu Pha vươn xa với rau sạch xuất khẩu. https://danviet.vn/lam-hop-tac-xa-xay-dung-chuoi-lien-ket-nong-dan-chau-pha-vuon-xa-voi-rau-sach-xuat-khau-d1387188.html

9. Phillip, S., Hunter, C., & Blackstock, K. (2010). A typology for defining agritourism. Tourism Management, 31(6), 754-758. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2009.08.001

10. Porter, M. E. (1985). Competitive advantage: Creating and sustaining superior performance. Free Press.

11. Thông, T. T., & Nhân, N. T. (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nông nghiệp ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 60(2), 200-213. https://doi.org/10.22144/ctujos.2024.262

12. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 196/KH-UBND triển khai Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

13. World Bank (2022). Digital technology for traceability in Vietnam’s fruit and vegetable value chains. World Bank Group. https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/099724310182330688

Ngày nhận bài: 19/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.
Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Doanh nghiệp logistics thường đứng ra giao dịch với khách hàng nhưng thuê lại các bên thứ ba thực hiện từng chặng dịch vụ lẻ. Mô hình này phát sinh bài toán phức tạp trong việc xác định vai trò Principal (Chủ thể) hay Agent (Đại lý).
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Sự gắn kết của nhân viên là một nội dung quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực vì nó liên quan đến mức độ người lao động chủ động đầu tư năng lượng, tâm lý và nỗ lực vào công việc.