Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng thu nhập ở Việt Nam
TS. Trần Thị Diên
Giảng viên Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Tân Trào; Email: [email protected]
Đặng Minh Nhất
Sinh viên Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Tân Trào
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tăng trưởng thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2010-2025 bằng phương pháp thống kê mô tả, so sánh theo thời gian và đối chiếu cơ cấu GDP với cơ cấu lao động. Dữ liệu được tổng hợp từ niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội, Khảo sát mức sống dân cư và Điều tra lao động, việc làm. Kết quả cho thấy tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP giảm từ 20,58% năm 2010 xuống 11,64% năm 2025; tỷ trọng lao động của khu vực này giảm từ 49,5% xuống 25,7%. Ngược lại, vai trò của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng. Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu, thu nhập bình quân đầu người một tháng tăng từ 1,387 triệu đồng năm 2010 lên 5,415 triệu đồng năm 2024. Chuyển dịch cơ cấu góp phần cải thiện thu nhập thông qua phân bổ lại lao động, nâng cao năng suất và mở rộng việc làm phi nông nghiệp. Tuy nhiên, năng suất nông nghiệp còn thấp, nhiều việc làm phi chính thức thiếu ổn định và chênh lệch thu nhập giữa các khu vực vẫn đáng kể. Nghiên cứu đề xuất nâng cao năng suất nội ngành, phát triển công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng việc làm chính thức.
Từ khóa: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng thu nhập, năng suất lao động, cơ cấu lao động, Việt Nam
Abstract
This study analyzes economic structural transformation, labor structure, and income growth in Viet Nam during the 2010-2025 period using descriptive statistics, temporal comparisons, and comparisons between GDP structure and labor structure. The data were compiled from statistical yearbooks, socioeconomic reports, the Viet Nam Household Living Standards Survey, and the Labor Force Survey. The results show that the share of agriculture, forestry, and fisheries in GDP declined from 20.58% in 2010 to 11.64% in 2025, while the share of labor in this sector decreased from 49.5% to 25.7%. In contrast, the roles of industry, construction, and services have continued to increase. Along with the structural transformation process, average monthly per capita income increased from VND 1.387 million in 2010 to VND 5.415 million in 2024. Structural transformation has contributed to income improvement through labor reallocation, productivity enhancement, and the expansion of non-agricultural employment. However, agricultural productivity remains low, many informal jobs lack stability, and income disparities across sectors remain substantial. The study proposes enhancing within-sector productivity, developing high-value-added industries and services, improving the quality of human resources, and expanding formal employment.
Keywords: Economic structural transformation, income growth, labor productivity, labor structure, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi tỷ trọng các ngành và phân bổ lại lao động, vốn, công nghệ giữa những khu vực có mức năng suất khác nhau. Theo Herrendorf, Rogerson và Valentinyi (2014), quá trình này cần được xem xét đồng thời qua cơ cấu giá trị tăng thêm và cơ cấu lao động.
Lewis (1954) cho rằng việc chuyển lao động từ nông nghiệp truyền thống có năng suất thấp sang công nghiệp hiện đại góp phần nâng cao năng suất, tích lũy và tiền lương. Ở trình độ phát triển cao hơn, nguồn lực tiếp tục dịch chuyển sang các ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu chỉ tác động tích cực đến thu nhập khi lao động chuyển sang những ngành có năng suất cao hơn (McMillan, Rodrik và Verduzco-Gallo, 2014). Nếu lao động chủ yếu tham gia các hoạt động phi chính thức hoặc dịch vụ giản đơn, thu nhập có thể không tăng tương xứng (Diao, McMillan và Rodrik, 2019).
Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đã làm giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và việc làm, đồng thời nâng cao vai trò của công nghiệp và dịch vụ. Cùng với đó, năng suất và thu nhập của người dân có xu hướng tăng. Tuy nhiên, tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn cao hơn đáng kể so với đóng góp của khu vực này vào GDP; công nghiệp còn phụ thuộc vào gia công, lắp ráp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; nhiều việc làm dịch vụ có năng suất thấp và thiếu tính chính thức. Vì vậy, thay đổi tỷ trọng ngành chưa đồng nghĩa với chuyển dịch cơ cấu có chất lượng và tăng trưởng thu nhập bao trùm.
Nghiên cứu phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tăng trưởng thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2010–2025; làm rõ các kênh tác động và những hạn chế trong việc chuyển hóa tăng năng suất thành cải thiện thu nhập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và tính bao trùm của quá trình chuyển dịch cơ cấu.
Dữ liệu được tổng hợp từ niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội, Khảo sát mức sống dân cư và Điều tra lao động, việc làm của Cục Thống kê. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh theo thời gian và đối chiếu cơ cấu GDP với cơ cấu lao động. Do không thực hiện kiểm định kinh tế lượng, kết quả chủ yếu phản ánh xu hướng, sự đồng biến và các kênh tác động, chưa khẳng định quan hệ nhân quả.
CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG THU NHẬP
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và cải thiện đời sống nhân dân là chủ trương nhất quán của Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tăng trưởng ngày càng dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Theo đó, chuyển dịch cơ cấu không chỉ là thay đổi tỷ trọng giữa các ngành mà còn là phân bổ nguồn lực vào những hoạt động có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.
Bảng 1: Tổng hợp chủ trương, chính sách của Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng thu nhập giai đoạn 2021-2025
![]() |
Nguồn: Tổng hợp từ Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Quốc hội (2021), Ban Chấp hành Trung ương (2022a, 2022b), Bộ Chính trị (2024, 2025), Chính phủ (2023, 2024) và Thủ tướng Chính phủ (2021a, 2021b).
Nhìn chung, hệ thống chính sách đã gắn cơ cấu lại nền kinh tế với nâng cao năng suất, chuyển dịch việc làm và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng việc làm, cơ chế phân phối và mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội.
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG THU NHẬP Ở VIỆT NAM
Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và thu nhập năm 2025
Năm 2025, GDP của Việt Nam tăng 8,02% so với năm 2024. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 125,5 triệu đồng, tương đương 5.026 USD/người, tăng 326 USD so với năm trước. Kết quả này cho thấy quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, tạo điều kiện phân bổ nguồn lực vào các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn (Cục Thống kê, 2026a).
Cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng vai trò của dịch vụ. Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,64% GDP; công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96%. So với năm 2024, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,22 điểm phần trăm, dịch vụ tăng 0,39 điểm phần trăm, trong khi công nghiệp và xây dựng tương đối ổn định (Cục Thống kê, 2026a).
Hình 1: Cơ cấu GDP của Việt Nam năm 2025
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê (2026a).
Dịch vụ và công nghiệp - xây dựng đóng góp tổng cộng 80,40% GDP, phản ánh vai trò chủ đạo của các hoạt động phi nông nghiệp. Sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, thương mại, logistics, du lịch, tài chính và dịch vụ số đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch này. Việc tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống còn 11,64% không đồng nghĩa với quy mô sản xuất bị thu hẹp mà chủ yếu do công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh hơn. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là một cấu phần trong cách tính GDP, không phải khu vực kinh tế độc lập; vì vậy, phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành tập trung vào ba khu vực kinh tế chính.
Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng giảm lao động nông nghiệp và tăng lao động dịch vụ. Năm 2025, nông, lâm nghiệp và thủy sản sử dụng 25,7% tổng số lao động có việc làm; công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%; dịch vụ chiếm 40,8%. Như vậy, hai khu vực phi nông nghiệp đã thu hút 74,3% lực lượng lao động có việc làm. So với năm 2021, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm 3,4 điểm phần trăm, công nghiệp và xây dựng tăng 0,4 điểm phần trăm, còn dịch vụ tăng 3,0 điểm phần trăm (Cục Thống kê, 2026b).
Hình 2: Cơ cấu lao động có việc làm của Việt Nam năm 2025
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê (2026b).
Đối chiếu cơ cấu GDP với cơ cấu lao động cho thấy chênh lệch đáng kể về năng suất giữa các khu vực. Nông, lâm nghiệp và thủy sản sử dụng 25,7% lao động nhưng chỉ tạo ra 11,64% GDP; tỷ lệ giữa tỷ trọng GDP và tỷ trọng lao động đạt khoảng 0,45. Trong khi đó, tỷ lệ này của công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 1,12, còn dịch vụ đạt 1,05. Điều này cho thấy giá trị tăng thêm bình quân trên một lao động trong nông nghiệp thấp hơn đáng kể so với hai khu vực còn lại.
Sự khác biệt về năng suất được phản ánh qua thu nhập của người lao động. Trong 6 tháng đầu năm 2025, thu nhập bình quân của lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 4,9 triệu đồng/người/tháng; công nghiệp và xây dựng đạt 9,0 triệu đồng; dịch vụ đạt 9,8 triệu đồng, trong khi mức bình quân chung là 8,3 triệu đồng/người/tháng (Cục Thống kê, 2025c). Thu nhập của lao động dịch vụ cao gấp hai lần, còn thu nhập của lao động công nghiệp và xây dựng cao hơn khoảng 83,7% so với lao động nông nghiệp.
Chênh lệch này bắt nguồn từ sự khác biệt về năng suất, công nghệ, quy mô sản xuất, trình độ lao động và mức độ chính thức hóa việc làm. Nông nghiệp vẫn có tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình cao, sản xuất nhỏ và chịu nhiều rủi ro. Ngược lại, công nghiệp và dịch vụ có khả năng ứng dụng công nghệ, tổ chức sản xuất và tạo việc làm hưởng lương tốt hơn, qua đó đem lại mức thu nhập cao hơn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và thu nhập giai đoạn 2010-2025
Giai đoạn 2010–2025, cơ cấu kinh tế Việt Nam chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng vai trò của dịch vụ và duy trì tỷ trọng tương đối cao của công nghiệp và xây dựng. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 20,58% năm 2010 xuống 11,64% năm 2025; dịch vụ tăng từ 38,32% lên 42,75%; công nghiệp và xây dựng có sự biến động nhưng vẫn chiếm 37,65% GDP vào năm 2025 (Cục Thống kê, 2025b; 2026a).
Hình 3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2010-2025
![]() |
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê và báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Cục Thống kê.
Xu hướng trên phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, khi vốn, lao động và các nguồn lực sản xuất từng bước chuyển sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Nông nghiệp cũng chuyển dần từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển chuỗi liên kết. Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ trọng công nghiệp chưa phản ánh đầy đủ quá trình nâng cấp công nghệ, do một bộ phận sản xuất vẫn dựa vào gia công, lắp ráp, nguyên liệu nhập khẩu và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra rõ nét hơn. Tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 49,5% năm 2010 xuống 25,7% năm 2025, tương ứng giảm 23,8 điểm phần trăm. Trong cùng thời kỳ, tỷ trọng lao động công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,0% lên 33,5%, còn dịch vụ tăng từ 29,5% lên 40,8% (Cục Thống kê, 2025b; 2026b).
Hình 4: Chuyển dịch cơ cấu lao động của Việt Nam giai đoạn 2010–2025
![]() |
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê và Điều tra lao động, việc làm của Cục Thống kê.
Sự dịch chuyển này giúp một bộ phận lớn lao động tiếp cận việc làm có mức trang bị vốn, công nghệ và thu nhập cao hơn. Các khu công nghiệp, đô thị, doanh nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại, vận tải và dịch vụ tiêu dùng là những khu vực chủ yếu thu hút lao động rời nông nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi lao động đều chuyển sang việc làm có năng suất cao. Một bộ phận làm việc trong xây dựng thời vụ, thương mại nhỏ, vận tải cá thể và dịch vụ phi chính thức, với thu nhập thiếu ổn định, ít hợp đồng lao động và hạn chế tiếp cận bảo hiểm xã hội. Vì vậy, tác động của chuyển dịch lao động đến thu nhập phụ thuộc nhiều vào chất lượng việc làm được tạo ra.
Cùng với chuyển dịch lao động, giá trị tăng thêm bình quân trên một lao động cũng được cải thiện. Năm 2025, chỉ tiêu này theo giá hiện hành ước đạt 111,0 triệu đồng/năm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 275,6 triệu đồng trong công nghiệp và xây dựng; 256,9 triệu đồng trong dịch vụ. GDP bình quân trên một lao động của toàn nền kinh tế đạt khoảng 245,2 triệu đồng/năm.
Hình 5: Giá trị tăng thêm bình quân trên một lao động theo khu vực kinh tế giai đoạn 2010-2025
![]() |
Nguồn: Tác giả tính toán từ GDP theo giá hiện hành, cơ cấu giá trị tăng thêm và cơ cấu lao động của Cục Thống kê.
Giá trị tăng thêm bình quân trên một lao động được tính bằng giá trị tăng thêm của từng khu vực chia cho số lao động có việc làm tương ứng. Đây là chỉ tiêu năng suất lao động danh nghĩa, không phải tiền lương hoặc thu nhập thực nhận; mức tăng của chỉ tiêu còn chịu ảnh hưởng của biến động giá cả. Khoảng cách lớn giữa nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ cho thấy Việt Nam còn dư địa nâng cao năng suất và thu nhập thông qua phân bổ lại lao động. Tuy nhiên, quá trình này cần gắn với nâng cao năng suất nội ngành nông nghiệp, cơ giới hóa, chuyển đổi số, phát triển kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi giá trị. Nếu lao động chủ yếu chuyển sang các hoạt động phi chính thức có năng suất thấp, đóng góp của chuyển dịch cơ cấu đối với tăng trưởng thu nhập sẽ bị hạn chế.
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ ĐẾN THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Tác động thông qua phân bổ lại lao động giữa các khu vực kinh tế
Phân bổ lại lao động là kênh tác động trực tiếp của chuyển dịch cơ cấu đến thu nhập. Theo Lewis (1954), việc chuyển lao động dư thừa từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại giúp nâng cao năng suất chung, mở rộng tích lũy và tạo điều kiện tăng tiền lương. McMillan, Rodrik và Verduzco-Gallo (2014) cũng cho rằng chuyển dịch cơ cấu chỉ đóng góp tích cực vào tăng trưởng năng suất khi lao động chuyển từ ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao hơn.
Tại Việt Nam, tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 49,5% năm 2010 xuống 25,7% năm 2025; trong khi công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,0% lên 33,5%, dịch vụ tăng từ 29,5% lên 40,8% (Cục Thống kê, 2025b; 2026b). Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sử dụng 25,7% lao động nhưng chỉ tạo ra 11,64% GDP. Công nghiệp và xây dựng sử dụng 33,5% lao động, đóng góp 37,65% GDP; dịch vụ sử dụng 40,8% lao động và đóng góp 42,75% GDP (Cục Thống kê, 2026a; 2026b). Sự dịch chuyển lao động sang hai khu vực phi nông nghiệp có năng suất cao hơn đã góp phần nâng năng suất bình quân và tạo cơ sở cải thiện thu nhập.
Tuy nhiên, tác động này phụ thuộc vào chất lượng việc làm tiếp nhận lao động. Nếu lao động rời nông nghiệp nhưng chủ yếu chuyển sang xây dựng thời vụ, thương mại nhỏ, vận tải cá thể hoặc dịch vụ phi chính thức có năng suất thấp, mức tăng thu nhập sẽ thiếu ổn định và khó duy trì. Vì vậy, hiệu quả của chuyển dịch lao động không chỉ được đánh giá bằng mức giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp mà còn bằng khả năng tạo việc làm chính thức, có năng suất và thu nhập cao trong công nghiệp và dịch vụ.
Tác động thông qua nâng cao năng suất lao động
Chuyển dịch cơ cấu góp phần nâng cao năng suất lao động theo hai cơ chế: lao động chuyển từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao hơn và năng suất trong từng ngành được cải thiện nhờ tích lũy vốn, đổi mới công nghệ, nâng cao kỹ năng và chất lượng quản trị. Diao, McMillan và Rodrik (2019) cho rằng cần phân biệt hai cơ chế này, bởi sự thay đổi tỷ trọng ngành nhưng không đi kèm cải thiện năng suất nội ngành khó tạo động lực tăng trưởng bền vững.
Năm 2025, giá trị tăng thêm bình quân trên một lao động theo giá hiện hành đạt khoảng 111,0 triệu đồng/năm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 275,6 triệu đồng trong công nghiệp và xây dựng; 256,9 triệu đồng trong dịch vụ. Như vậy, chỉ tiêu này của công nghiệp và xây dựng cao gấp khoảng 2,48 lần, còn dịch vụ cao gấp 2,31 lần so với nông nghiệp. Khoảng cách trên cho thấy việc chuyển lao động sang công nghiệp và dịch vụ có thể nâng cao năng suất chung, qua đó tạo cơ sở cho tăng thu nhập.
Tuy nhiên, nâng cao thu nhập của bộ phận lao động tiếp tục làm việc trong nông nghiệp đòi hỏi phải đồng thời cải thiện năng suất nội ngành thông qua cơ giới hóa, ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế hợp tác, tổ chức sản xuất phù hợp và tăng cường liên kết giữa sản xuất, chế biến với tiêu thụ. Cần lưu ý rằng giá trị tăng thêm bình quân trên một lao động phản ánh năng suất lao động danh nghĩa, không phải tiền lương hoặc thu nhập thực nhận. Giá trị tăng thêm còn được phân phối cho tiền lương, lợi nhuận, khấu hao, thuế và các khoản khác. Do đó, tăng năng suất là điều kiện cần nhưng chưa đủ để bảo đảm thu nhập của người lao động tăng tương ứng.
Tác động thông qua mở rộng việc làm phi nông nghiệp và đa dạng hóa nguồn thu
Chuyển dịch cơ cấu thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, thương mại, vận tải, logistics, du lịch, tài chính và các dịch vụ phục vụ sản xuất. Sự mở rộng của những ngành này tạo thêm việc làm phi nông nghiệp, giúp người lao động và hộ gia đình đa dạng hóa nguồn thu, giảm phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ và nhiều rủi ro.
Đối với khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu có thể diễn ra dưới hình thức một hoặc nhiều thành viên trong hộ làm việc tại doanh nghiệp, khu công nghiệp hoặc khu vực dịch vụ, trong khi hộ vẫn duy trì sản xuất nông nghiệp. Việc kết hợp thu nhập từ tiền lương, sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp góp phần nâng cao tổng thu nhập, đồng thời tăng khả năng ứng phó với những biến động của thị trường và thiên tai.
Tác động đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập của người dân Việt Nam đã tăng đáng kể. Theo Khảo sát mức sống dân cư, thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành tăng từ khoảng 1,387 triệu đồng năm 2010 lên 5,415 triệu đồng năm 2024, gấp khoảng 3,9 lần (Cục Thống kê, 2021; 2025a). Năm 2025, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 125,5 triệu đồng, tương đương 5.026 USD; thu nhập bình quân của người lao động đạt 8,4 triệu đồng/người/tháng, tăng 8,9% so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026a; 2026b).
Những kết quả trên cho thấy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu đã tạo nền tảng cho cải thiện thu nhập. Sự gia tăng vai trò của công nghiệp và dịch vụ góp phần mở rộng việc làm phi nông nghiệp, nâng cao năng suất và đa dạng hóa nguồn thu của hộ gia đình. Đồng thời, đô thị hóa, phát triển kết cấu hạ tầng và hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường lao động và tăng cơ hội tiếp cận các hoạt động có thu nhập cao hơn.
Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người, thu nhập bình quân của người lao động và thu nhập bình quân đầu người của hộ dân cư có nội hàm khác nhau. GDP bình quân đầu người phản ánh giá trị sản phẩm cuối cùng được tạo ra bình quân trên một người dân, không phải thu nhập thực nhận. Thu nhập của người lao động chỉ tính cho những người đang làm việc, trong khi thu nhập bình quân đầu người của hộ dân cư bao gồm tiền lương, thu nhập từ sản xuất, kinh doanh, tài sản, chuyển giao và các nguồn khác. Vì vậy, ba chỉ tiêu này không thể ghép thành một chuỗi thống kê thống nhất mà chỉ nên được sử dụng bổ sung cho nhau khi đánh giá mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và mức sống dân cư.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Giai đoạn 2010-2025, cơ cấu kinh tế và lao động Việt Nam chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng vai trò của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Quá trình này góp phần nâng cao năng suất, mở rộng việc làm phi nông nghiệp, đa dạng hóa nguồn thu và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, năng suất nông nghiệp còn thấp; công nghiệp vẫn phụ thuộc vào gia công, lắp ráp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; nhiều việc làm dịch vụ có giá trị gia tăng thấp và mang tính phi chính thức. Chênh lệch thu nhập giữa các ngành, khu vực và nhóm lao động vẫn đáng kể. Do nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích mô tả, kết quả phản ánh xu hướng và các kênh tác động, chưa khẳng định quan hệ nhân quả.
Để chuyển dịch cơ cấu tạo ra tăng trưởng thu nhập bền vững và bao trùm, Việt Nam cần ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ có giá trị gia tăng cao; đồng thời nâng cao năng suất nông nghiệp thông qua ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi giá trị. Chính sách đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, chú trọng kỹ năng số và khả năng thích ứng của lao động nông thôn, lao động giản đơn. Bên cạnh đó, cần mở rộng việc làm chính thức, tăng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, hoàn thiện chính sách tiền lương và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng số và các dịch vụ cơ bản. Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cần được đánh giá đồng thời bằng năng suất, chất lượng việc làm, thu nhập thực tế và mức độ thụ hưởng thành quả tăng trưởng của các nhóm dân cư.
*Lời cảm ơn: Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Trường Đại học Tân Trào đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2018). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2022a). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Ban Chấp hành Trung ương (2022b). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
6. Chính phủ (2023). Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/2/2023 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
7. Chính phủ (2024). Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
8. Cục Thống kê (2021). Thông cáo báo chí kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2020. Hà Nội.
9. Cục Thống kê (2025a). Thông cáo báo chí kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2024. Hà Nội.
10. Cục Thống kê (2025b). Niên giám thống kê Việt Nam năm 2024, Nxb Thống kê.
11. Cục Thống kê (2025c). Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025.
12. Cục Thống kê. (2026a). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
13. Cục Thống kê. (2026b). Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2025.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
15. Diao, X., McMillan, M., & Rodrik, D. (2019). The recent growth boom in developing economies: A structural-change perspective. In M. Nissanke & J. A. Ocampo (Eds.), The Palgrave handbook of development economics (pp. 281–334). Palgrave Macmillan. https://doi.org/10.1007/978-3-030-14000-7_9
16. Herrendorf, B., Rogerson, R., & Valentinyi, Á. (2014). Growth and structural transformation. In P. Aghion & S. N. Durlauf (Eds.), Handbook of economic growth (Vol. 2, pp. 855–941). Elsevier. https://doi.org/10.1016/B978-0-444-53540-5.00006-9
17. Kuznets, S. (1966). Modern economic growth: Rate, structure, and spread. Yale University Press.
18. Lewis, W. A. (1954). Economic development with unlimited supplies of labour. The Manchester School, 22(2), 139–191. https://doi.org/10.1111/j.1467-9957.1954.tb00021.x
19. McMillan, M., Rodrik, D., & Verduzco-Gallo, Í. (2014). Globalization, structural change, and productivity growth, with an update on Africa. World Development, 63, 11–32. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2013.10.012
20. Quốc hội (2021). Nghị quyết số 31/2021/QH15 ngày 12/11/2021 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021–2025.
21. Thủ tướng Chính phủ (2021a). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
22. Thủ tướng Chính phủ (2021b). Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05/2/2021 ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030.
| Ngày nhận bài: 3/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/9/2026; Ngày duyệt đăng: 22/9/2026 |
Các tin khác
Đánh giá mối đe dọa đến nhận thức về hiệu quả an toàn thông tin kế toán: Mô hình tích hợp PMT - TPB - Điều kiện hóa hành động - Thói quen tại doanh nghiệp Việt Nam
Ứng dụng robot tích hợp trí tuệ nhân tạo trong phân loại phế liệu công nghiệp tại Việt Nam
Ảnh hưởng của kỹ năng số đến hiệu suất làm việc của nhân viên văn phòng lĩnh vực thương mại điện tử tại TP. Hồ Chí Minh
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại HDBank - Phòng giao dịch Thạnh Phú
Thực thi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong chuỗi cung ứng tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạch định nhân lực trong các trường đại học: Phân tích trắc lượng thư mục bằng VOSviewer
Cơ chế truyền dẫn chi phí và thuế lên giá xăng E10 trong lộ trình chuyển đổi bắt buộc sang nhiên liệu sinh học tại Việt Nam
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới sáng tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc mờ
Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách





