Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:17 | 12/10/2026
Doanh nghiệp logistics thường đứng ra giao dịch với khách hàng nhưng thuê lại các bên thứ ba thực hiện từng chặng dịch vụ lẻ. Mô hình này phát sinh bài toán phức tạp trong việc xác định vai trò Principal (Chủ thể) hay Agent (Đại lý).

Trần Thị Luận

Khoa Kế toán Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp

Email: [email protected]

Tóm tắt

Sự phát triển của thương mại quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu đã nâng cao vai trò của doanh nghiệp logistics trong việc tổ chức chuỗi dịch vụ tích hợp, kết hợp giữa năng lực tự có và mạng lưới nhà cung cấp bên thứ ba (hãng tàu, hãng hàng không, kho bãi). Theo Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế số 15 (IFRS 15), việc xác định doanh nghiệp đóng vai trò Chủ thể hay Đại lý đối với từng nghĩa vụ thực hiện có ý nghĩa then chốt, quyết định trực tiếp việc ghi nhận doanh thu gộp hay doanh thu thuần, từ đó tác động sâu sắc đến quy mô doanh thu, tỷ suất lợi nhuận và tính so sánh của các chỉ tiêu tài chính. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận về phân định Chủ thể - Đại lý theo IFRS 15, đối chiếu với thực trạng hạch toán tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam, nhận diện những vướng mắc kỹ thuật và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao mức độ tuân thủ chuẩn mực và tính minh bạch của thông tin doanh thu trên báo cáo tài chính.

Từ khóa: IFRS 15, Chủ thể, Đại lý, doanh thu, logistics

Abstract

The expansion of international trade and global supply chains has increased the role of logistics companies in coordinating integrated service chains that combine in-house capabilities with networks of third-party providers, including shipping lines, airlines, and warehousing operators. Under International Financial Reporting Standard 15 (IFRS 15), determining whether an entity acts as a principal or an agent for each performance obligation is critical, as this assessment directly determines whether revenue is recognized on a gross or net basis. This distinction has significant implications for reported revenue, profit margins, and the comparability of financial indicators. This study examines the theoretical foundations of principal-agent assessment under IFRS 15, compares these requirements with current accounting practices among Vietnamese logistics companies, identifies key technical challenges, and proposes a set of solutions to enhance compliance with the standard and improve the transparency of revenue information reported in financial statements.

Keywords: IFRS 15, principal, agent, revenue recognition, logistics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và triển khai đề án áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế tại Việt Nam theo Quyết định số 345/QĐ-BTC (Bộ Tài chính, 2020), ngành logistics ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 786,93 tỷ USD, tăng 15,5% so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026). Quy mô thương mại hàng hóa lớn cùng tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu duy trì ở mức cao tạo điều kiện thúc đẩy nhu cầu đối với các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi và quản trị chuỗi cung ứng. Theo World Bank (2023), Việt Nam xếp hạng 43 trong 139 nền kinh tế về Chỉ số Hiệu quả logistics (LPI), đạt 3,3 điểm.

Theo xu hướng toàn cầu, các doanh nghiệp (DN) logistics Việt Nam đang dịch chuyển từ mô hình cung cấp dịch vụ đơn lẻ (1PL, 2PL) sang mô hình trọn gói (3PL, 4PL) bao gồm nhiều công đoạn như thủ tục hải quan, lưu kho bãi, gom hàng, vận tải nội địa và mua cước vận tải biển, hàng không quốc tế. Khi đó, DN logistics thường đứng ra giao dịch với khách hàng nhưng thuê lại các bên thứ ba thực hiện từng chặng dịch vụ lẻ. Mô hình này phát sinh bài toán phức tạp trong việc xác định vai trò Principal (Chủ thể) hay Agent (Đại lý). Vì vậy, nghiên cứu phân định Chủ thể - Đại lý theo IFRS 15, giúp nhận diện các điểm nghẽn trong hạch toán, từ đó nâng cao tính nhất quán, minh bạch và khả năng so sánh của thông tin doanh thu, đáp ứng định hướng tích hợp chuẩn mực quốc tế IFRS 15 tại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN ĐỊNH CHỦ THỂ VÀ ĐẠI LÝ THEO IFRS 15

Bản chất Chủ thể và Đại lý theo IFRS 15

Chuẩn mực IFRS 15 - Doanh thu từ Hợp đồng với Khách hàng do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) ban hành năm 2014 và chính thức áp dụng từ ngày 1/1/2018. IFRS 15 thiết lập nguyên tắc ghi nhận doanh thu dựa trên sự chuyển giao quyền kiểm soát hàng hóa, dịch vụ đã cam kết cho khách hàng theo mô hình 5 bước: (1) Nhận diện hợp đồng; (2) Xác định các nghĩa vụ thực hiện; (3) Xác định giá giao dịch; (4) Phân bổ giá giao dịch cho từng nghĩa vụ thực hiện dựa trên giá bán độc lập và (5) Ghi nhận doanh thu khi hoặc trong khi hoàn thành nghĩa vụ thực hiện (IASB, 2014).

Trong mô hình này, phân định Chủ thể - Đại lý không phải là một bước độc lập mà gắn liền trực tiếp với bước 2 (xác định nghĩa vụ thực hiện) và bước 5 (đánh giá quyền kiểm soát) nhằm làm rõ bản chất cam kết khi có bên thứ ba tham gia cung ứng dịch vụ: DN là Chủ thể nếu nắm giữ quyền kiểm soát dịch vụ chỉ định trước khi dịch vụ đó được chuyển giao cho khách hàng và ghi nhận doanh thu theo giá trị gộp tương ứng với tổng khoản đối giá dự kiến nhận được. Ngược lại, DN là Đại lý nếu bản chất nghĩa vụ chỉ dừng lại ở việc thu xếp để bên thứ ba cung cấp dịch vụ cho khách hàng và ghi nhận doanh thu theo giá trị thuần, tương ứng với khoản phí dịch vụ hoặc hoa hồng được hưởng. Vì vậy, phân định Chủ thể - Đại lý là mắt xích kỹ thuật then chốt kết nối giữa việc xác định nghĩa vụ thực hiện và đánh giá quyền kiểm soát, quyết định trực tiếp đến phương pháp hạch toán và quy mô doanh thu được trình bày trên BCTC.

Các chỉ báo hỗ trợ xác định Chủ thể và Đại lý

Theo IFRS 15, khi đánh giá DN có kiểm soát hàng hóa, dịch vụ được xác định trước khi chuyển giao cho khách hàng hay không, cần xem xét 3 chỉ báo chủ yếu:

Thứ nhất, trách nhiệm chính đối với việc thực hiện cam kết. Nếu DN chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện cam kết cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng, đây là chỉ báo cho thấy DN có thể đang kiểm soát hàng hóa hoặc dịch vụ trước khi chuyển giao.

Thứ hai, rủi ro hàng tồn kho. Nếu DN chịu rủi ro đối với hàng hóa trước khi chuyển giao cho khách hàng hoặc sau khi chuyển giao trong trường hợp khách hàng có quyền trả lại, đây là chỉ báo về quyền kiểm soát.

Thứ ba, quyền quyết định giá. Nếu DN có quyền quyết định giá đối với hàng hóa, dịch vụ được xác định, đây là chỉ báo cho thấy DN có khả năng định hướng việc sử dụng và thu được phần lớn lợi ích còn lại. Tuy nhiên, quyền quyết định giá không phải là điều kiện độc lập để kết luận DN là Chủ thể.

Các chỉ báo trên không phải là các điều kiện bắt buộc hay một bảng kiểm được áp dụng máy móc. Theo IFRS 15, DN trước hết phải xác định hàng hóa, dịch vụ được cung cấp cho khách hàng và đánh giá liệu mình có kiểm soát hàng hóa, dịch vụ đó trước khi chuyển giao hay không. Ba chỉ báo tại IFRS 15 chỉ hỗ trợ cho đánh giá quyền kiểm soát và mức độ phù hợp của từng chỉ báo phụ thuộc vào bản chất của hàng hóa, dịch vụ và điều khoản cụ thể của hợp đồng. Do đó, việc phân định Chủ thể - Đại lý đòi hỏi DN thực hiện xét đoán dựa trên toàn bộ hoàn cảnh và bản chất của giao dịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu tình huống (case study) nhằm phân tích việc phân định vai trò Chủ thể - Đại lý trong ghi nhận doanh thu tại các DN Logistics Việt Nam. Phân tích và tổng hợp dữ liệu được thu thập từ IFRS 15, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) và BCTC, báo cáo thường niên của một số DN logistics lớn như Transimex, Gemadept, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam... Đồng thời so sánh IFRS 15 với VAS 14 để làm rõ sự khác biệt trong phân định Chủ thể - Đại lý, phương pháp ghi nhận doanh thu. Bên cạnh đó, phỏng vấn các chuyên gia kế toán, kiểm toán và quản trị tài chính trong lĩnh vực logistics được thực hiện nhằm kiểm chứng các kết quả phân tích.

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÂN ĐỊNH CHỦ THỂ VÀ ĐẠI LÝ THEO IFRS 15 TRONG GHI NHẬN DOANH THU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM

Ngành dịch vụ logistics Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển dịch cấu trúc mạnh mẽ với khoảng 34.000-35.000 DN tham gia hoạt động, trong đó các DN nhỏ và vừa chiếm tới 95%. Mảng giao nhận vận tải có từ 4.000-4.500 DN, chủ yếu vận hành theo chuỗi liên kết vận tải đa phương thức. Về năng lực cung ứng, khoảng 25%-30% DN nội địa đủ năng lực cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL), trong khi tỷ lệ đạt cấp độ tích hợp 4PL chỉ chiếm khoảng 3%-5% với khối lượng hàng hóa thông qua dịch vụ giao nhận ước đạt 1.650-1.700 triệu tấn (Bộ Công Thương, 2025). Phần lớn các DN giao nhận vận tải Việt Nam không sở hữu đội tàu biển hay máy bay chở hàng quốc tế, mà hoạt động chủ yếu dựa trên việc mua cước từ các hãng tàu ngoại rồi bán lại cho khách hàng xuất nhập khẩu.

Hiện nay, công tác kế toán tại các DN logistics Việt Nam vẫn chủ yếu tuân thủ VAS 14. Khái niệm đại lý trong VAS 14 chỉ được tiếp cận hẹp thông qua các giao dịch ủy thác xuất nhập khẩu hoặc đại lý bán hàng đúng giá hưởng hoa hồng. Ngược lại, IFRS 15 xác lập một khuôn khổ đánh giá hoàn toàn khác biệt dựa trên nguyên tắc quyền kiểm soát. DN được xác định là Chủ thể nếu kiểm soát được dịch vụ cụ thể đã cam kết trước khi chuyển giao dịch vụ đó cho khách hàng. Ngược lại, nếu nghĩa vụ thực hiện của DN chỉ mang tính chất thu xếp để bên thứ ba cung cấp dịch vụ, DN sẽ đóng vai trò là Đại lý. Chính việc tuân thủ theo VAS 14, tạo thói quen hạch toán đi kèm với hóa đơn GTGT, các DN có xu hướng ghi nhận doanh thu gộp cho toàn bộ số tiền ghi trên hóa đơn xuất cho khách hàng, đồng thời ghi nhận toàn bộ chi phí mua cước ngoài vào giá vốn hàng bán.

Thực tiễn hạch toán doanh thu tại các DN logistics niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bộc lộ rõ sự chênh lệch giữa mô hình vận hành thực tế và các nguyên tắc cốt lõi của IFRS 15. Tại Transimex Logistics, doanh thu thuần tăng từ 255.129,52 triệu đồng năm 2024 lên 290.204,84 triệu đồng năm 2025; giá vốn cung cấp dịch vụ lần lượt khoảng 203.422 triệu đồng và 232.123 triệu đồng, trong khi lợi nhuận trước thuế tăng từ khoảng 29.114 triệu đồng lên 30.567 triệu đồng. BCTC năm 2025 cho thấy doanh thu chủ yếu đến từ dịch vụ vận tải, đồng thời DN thực hiện cả dịch vụ đại lý giao nhận quốc tế và đại lý vận chuyển container quốc tế của hãng tàu Dongjin (Công ty Cổ phần Transimex Logistics, 2025, 2026). Trong các hợp đồng logistics trọn gói, việc DN thuê hãng tàu hoặc nhà vận chuyển bên ngoài thực hiện một phần dịch vụ không đồng nghĩa với việc DN đương nhiên là Đại lý. Theo IFRS 15, DN phải xác định từng dịch vụ được cam kết và đánh giá liệu mình có kiểm soát dịch vụ đó trước khi chuyển giao cho khách hàng hay chỉ thu xếp để bên thứ ba cung cấp dịch vụ. Trường hợp Transimex Logistics kiểm soát dịch vụ vận tải, chịu trách nhiệm chính đối với việc thực hiện cam kết và có quyền quyết định về giá, việc ghi nhận doanh thu gộp có thể phù hợp với vai trò Chủ thể. Do đó, vấn đề đặt ra đối với Transimex Logistics là sự khác biệt trong cách thức đánh giá bản chất Chủ thể - Đại lý giữa mô hình kế toán hiện hành và yêu cầu đánh giá quyền kiểm soát theo IFRS 15. Nếu một dịch vụ mà DN thực chất chỉ đóng vai trò đại lý nhưng được trình bày theo cơ sở gộp, doanh thu và giá vốn sẽ cùng tăng, làm thay đổi đáng kể quy mô doanh thu và các chỉ tiêu biên lợi nhuận, mặc dù không nhất thiết làm thay đổi lợi nhuận của giao dịch.

Tại nhóm các tập đoàn logistics quy mô lớn, việc phân định Chủ thể - Đại lý có thể trở nên phức tạp hơn do DN đồng thời tham gia nhiều công đoạn của chuỗi dịch vụ và có mạng lưới công ty con, công ty liên kết và liên doanh. Trường hợp Gemadept là một ví dụ điển hình. Theo BCTC hợp nhất, tổng tài sản của Gemadept tăng từ 17.997,85 tỷ đồng năm 2024 lên 19.826,40 tỷ đồng năm 2025, trong khi vốn chủ sở hữu đạt 14.918,25 tỷ đồng. Tập đoàn đồng thời có các khoản đầu tư vào CJ Gemadept Logistics Holdings, K'Line-Gemadept Logistics, CJ Gemadept Shipping Holdings và Gemadept-Terminal Link Cái Mép với các hình thức quan hệ liên kết và đồng kiểm soát khác nhau. Trong hệ sinh thái này, BCTC hợp nhất (2025) cho thấy phát sinh nhiều giao dịch dịch vụ và giao dịch với các bên liên quan, bao gồm doanh thu dịch vụ, phí đại lý tàu và các khoản chi hộ (Công ty Cổ phần Gemadept, 2025, 2026). Điều này cho thấy việc xác định DN là Chủ thể hay Đại lý đối với từng dịch vụ không nên chỉ dựa vào hình thức hợp đồng hoặc dòng tiền thu - chi, mà cần xem xét bản chất quyền kiểm soát đối với dịch vụ trước khi chuyển giao cho khách hàng.

Tương tự, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tại đơn vị thành viên Cảng Sài Gòn tham gia các liên doanh cảng quốc tế (SP-PSA, SSIT và CMIT), trong đó BCTC (2025) ghi nhận tỷ lệ lợi ích 36% tại SP-PSA (Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam – CTCP, 2025, 2026). Cấu trúc liên kết này làm gia tăng yêu cầu xét đoán khi xác định phạm vi dịch vụ mà DN thực sự kiểm soát và phần dịch vụ chỉ được thu xếp cho khách hàng. Tuy nhiên, các BCTC công bố hiện chủ yếu trình bày thông tin về doanh thu, đầu tư và giao dịch với bên liên quan, chưa trình bày riêng biệt các xét đoán Chủ thể - Đại lý cho từng loại dịch vụ. Vì vậy, nguy cơ áp dụng không đồng nhất giữa ghi nhận doanh thu gộp của Chủ thể và doanh thu thuần của Đại lý cần được xem xét trong quá trình chuyển đổi sang IFRS 15.

THÁCH THỨC ÁP DỤNG PHÂN ĐỊNH THEO IFRS 15 TẠI CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM

Thứ nhất, tâm lý thị trường và áp lực duy trì chỉ tiêu quy mô tài chính, khi đa số DN logistics có xu hướng ghi nhận doanh thu theo giá trị gộp nhằm làm đẹp hồ sơ năng lực để tham gia đấu thầu các dự án chuỗi cung ứng lớn, cũng như đáp ứng các điều kiện vay vốn từ tổ chức tín dụng.

Thứ hai, sự phức tạp của các hợp đồng tích hợp dịch vụ logistics khiến bộ phận kế toán gặp khó khăn trong việc tách biệt các nghĩa vụ thực hiện độc lập, họ thường quy đồng toàn bộ gói hợp đồng về vai trò của dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất để ghi nhận doanh thu gộp.

Thứ ba, sự liên kết giữa hạ tầng chứng từ số như cảng điện tử ePort, lệnh giao hàng điện tử eDO với phần mềm kế toán ERP còn hạn chế, dẫn đến việc hạch toán phần lớn phụ thuộc vào thời điểm lập hóa đơn GTGT thay vì dựa trên bản chất thỏa thuận hợp đồng và mức độ chịu rủi ro cam kết dịch vụ theo IFRS 15.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Để nâng cao hiệu quả áp dụng phân định Chủ thể và Đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu, các DN logistics Việt Nam cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện quy trình nội bộ về đánh giá và phân loại hợp đồng dịch vụ. Nhằm giải quyết triệt để các vướng mắc trong việc phân định, các DN cần chuẩn hóa quy trình phân tích hợp đồng kinh tế dựa trên mô hình 5 bước của IFRS 15. Tại thời điểm đàm phán và giao kết hợp đồng, phòng kế toán cần phối hợp với bộ phận kinh doanh để nhận diện từng nghĩa vụ thực hiện riêng biệt trong hợp đồng trọn gói, bao gồm vận tải đa phương thức, bốc dỡ cảng, lưu kho bãi và thủ tục hải quan. Việc đánh giá bản chất giao dịch phải căn cứ trực tiếp vào mức độ kiểm soát dịch vụ trước khi cung cấp cho khách hàng. Nếu DN cam kết các thỏa thuận bao trọn công suất phương tiện vận chuyển và gánh chịu rủi ro thanh toán bất kể khả năng lấp đầy chỗ hàng, DN có đủ căn cứ để xác định vai trò Chủ thể và ghi nhận doanh thu theo giá trị gộp. Ngược lại, nếu DN chỉ tìm kiếm nhà vận chuyển theo từng đơn hàng cụ thể của khách hàng mà không chịu rủi ro, DN vai trò là Đại lýA và chỉ được phép ghi nhận doanh thu thuần tương ứng với phần phí hoa hồng môi giới.

Hai là, chuẩn hóa hệ thống kế toán quản trị và hạch toán tài khoản. DN cần quy định việc theo dõi riêng biệt các khoản chi hộ và thu hộ phát sinh liên quan đến cước hãng tàu, phí cảng biển và thuế hải quan thông qua các tài khoản thanh toán vãng lai như tài khoản phải thu khác và phải trả khác, kiên quyết loại bỏ việc đưa các dòng tiền thuần túy thanh toán hộ vào doanh thu và chi phí hoạt động. Đối với các hợp đồng được xác định đóng vai trò Đại lý, kế toán cần ghi nhận doanh thu thuần bằng cách lấy tổng giá trị thu từ khách hàng trừ đi chi phí trả trực tiếp cho đơn vị cung cấp hạ tầng vận chuyển. Việc chuyển đổi từ phương pháp ghi nhận doanh thu gộp sang doanh thu thuần trong các giao dịch đại lý sẽ giúp BCTC phản ánh trung thực biên lợi nhuận gộp thực tế, hạn chế tình trạng suy giảm giả tạo của chỉ số tỷ suất sinh lời trên doanh thu và cung cấp thông tin tài chính hữu ích hơn cho các nhà đầu tư.

Ba là, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và tích hợp dữ liệu vận hành. Dựa trên cơ sở các nền tảng số hóa đang được ngành logistics triển khai như hệ thống quản lý cảng điện tử ePort, cổng tự động Auto Gate và lệnh giao hàng eDO, các DN cần thiết lập các giao diện kết nối dữ liệu tự động giữa phần mềm điều hành kho bãi (WMS), hệ thống quản lý vận tải (TMS) với phân hệ kế toán ERP. Dữ liệu từ các chứng từ vận tải như vận đơn chủ và vận đơn thứ cấp cần được số hóa để hệ thống kế toán tự động gán nhãn trạng thái hợp đồng, từ đó định khoản chính xác doanh thu theo giá trị gộp hay thuần ngay khi dịch vụ hoàn thành.

Bốn là, đào tạo nhân sự kế toán và phối hợp liên phòng ban. DN cần chú trọng nâng cao năng lực cho nhân sự kế toán viên và chuyên viên pháp chế thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu về IFRS 15. Đồng thời, tăng cường phối hợp liên phòng ban giữa kế toán, kinh doanh, khai thác vận hành, pháp chế và công nghệ thông tin trong quá trình ký kết, thực hiện và đánh giá hợp đồng, giúp DN đánh giá đúng nghĩa vụ thực hiện, vai trò Chủ thể - Đại lý và cơ sở ghi nhận doanh thu, bảo đảm thông tin kế toán phản ánh đúng bản chất kinh tế của giao dịch.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Việc phân định chuẩn xác vai trò Chủ thể - Đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu không dừng lại ở một kỹ thuật điều chỉnh định khoản kế toán giữa doanh thu gộp và doanh thu thuần, mà là bước chuyển mang tính nền tảng quyết định độ tin cậy và chất lượng thông tin tài chính của các DN logistics Việt Nam. Để chuẩn bị sẵn sàng cho lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán VFRS/IFRS bắt buộc, các DN cần chủ động tái cấu trúc mô hình quản lý hợp đồng, số hóa dữ liệu kết nối vận hành với kế toán ERP, đồng thời chuẩn hóa hệ thống kế toán quản trị.

Ngoài các giải pháp đối với DN, nghiên cứu khuyến nghị Bộ Tài chính cần sớm ban hành chính thức bộ Chuẩn mực BCTC Việt Nam (VFRS), trong đó có chuẩn mực VFRS 15 tương thích với IFRS 15, đi kèm với thông tư hướng dẫn chi tiết các trường hợp đặc thù của chuỗi cung ứng dịch vụ vận tải đa phương thức và logistics. Cục Thuế cần ban hành hướng dẫn rõ ràng về việc xuất hóa đơn GTGT đối với các khoản thu hộ, chi hộ và các khoản doanh thu dịch vụ thuần của đại lý giao nhận, loại bỏ nguy cơ xử phạt hành chính khi DN hạch toán doanh thu thuần theo đúng bản chất kinh tế nhưng hóa đơn xuất ra phản ánh toàn bộ giá trị gói vận chuyển. Sự nỗ lực nội tại của DN kết hợp với việc sớm hoàn thiện hành lang pháp lý chuẩn mực sẽ là động lực then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy ngành logistics Việt Nam phát triển minh bạch và hội nhập bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025: Logistics thông minh, Nxb Công Thương.

2. Bộ Tài chính (2020). Quyết định số 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020 phê duyệt Đề án áp dụng Chuẩn mực BCTC tại Việt Nam.

3. Công ty Cổ phần Gemadept (2025, 2026). BCTC hợp nhất kiểm toán năm 2024, năm 2025 và Báo cáo thường niên năm 2025.

4. Công ty Cổ phần Transimex Logistics (2025, 2026). BCTC kiểm toán năm 2024, năm 2025 và Báo cáo thường niên năm 2025.

5. Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.

6. IASB (2014). IFRS 15 - Revenue from Contracts with Customers. International Accounting Standards Board.

7. Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam - CTCP (2025, 2026). BCTC hợp nhất kiểm toán năm 2024, năm 2025.

8. World Bank (2023). Connecting to Compete 2023: Trade Logistics in the Global Economy - The Logistics Performance Index and Its Indicators.

Ngày nhận bài: 12/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Sự gắn kết của nhân viên là một nội dung quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực vì nó liên quan đến mức độ người lao động chủ động đầu tư năng lượng, tâm lý và nỗ lực vào công việc.