Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc
Võ Anh Tuấn
Email: [email protected]
Nguyễn Thế Phát
Email: [email protected]
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Nghề làm nước mắm Phú Quốc vừa mang giá trị kinh tế, thương hiệu, vừa chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và tri thức địa phương. Nghiên cứu phân tích trải nghiệm của du khách tại các nhà thùng nước mắm Phú Quốc, nhận diện nhu cầu đối với sản phẩm trải nghiệm chuyên sâu và đề xuất định hướng phát triển bền vững. Dữ liệu được thu thập từ 400 khách du lịch, kết hợp nghiên cứu tài liệu, quan sát thực địa và phỏng vấn các bên liên quan. Kết quả cho thấy 71,5% du khách đã tham quan nhà thùng; tính xác thực của không gian được đánh giá cao (M = 4,24), trong khi mức độ tương tác với người làm nghề (M = 3,32) và sự đa dạng hoạt động trải nghiệm (M = 3,26) còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình tham quan đơn thuần sang trải nghiệm gắn với tìm hiểu nghề, tương tác, thực hành và thưởng thức, lấy cộng đồng và tính xác thực của di sản làm nền tảng.
Từ khóa: Nước mắm Phú Quốc, du lịch trải nghiệm, làng nghề truyền thống, sinh kế cộng đồng, du lịch bền vững
Abstract
Phu Quoc fish sauce production holds economic and brand value while embodying cultural heritage and local knowledge. This study examines tourists’ experiences at traditional fish sauce production facilities in Phu Quoc, identifies demand for more immersive experiential tourism products, and proposes directions for sustainable development. Data were collected from 400 tourists, supplemented by a literature review, field observations, and interviews with relevant stakeholders. The findings indicate that 71.5% of respondents had visited fish sauce production facilities. The authenticity of the production environment received a high rating (M = 4.24), whereas interaction with local producers (M = 3.32) and the diversity of experiential activities (M = 3.26) remained limited. The study proposes shifting from a sightseeing-oriented model toward immersive experiences that integrate learning about traditional production, interpersonal interaction, hands-on activities, and product tasting, with community participation and heritage authenticity as the foundations of sustainable development.
Keywords: Phu Quoc fish sauce, experiential tourism, traditional craft villages, community livelihoods, sustainable tourism
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các điểm đến, tài nguyên tự nhiên không còn là yếu tố duy nhất quyết định sức hấp dẫn của du lịch. Văn hóa địa phương, ký ức cộng đồng, nghề thủ công, ẩm thực và phương thức sống ngày càng trở thành những nguồn lực quan trọng để tạo ra sự khác biệt cho điểm đến. Xu hướng này làm gia tăng vai trò của du lịch trải nghiệm, trong đó du khách không chỉ quan sát một đối tượng văn hóa mà còn mong muốn tham gia, tương tác, học hỏi và hình thành những kết nối có ý nghĩa với cộng đồng địa phương.
Phú Quốc là một trường hợp đáng chú ý. Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, địa phương còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo. Nghề làm nước mắm Phú Quốc chứa đựng hệ thống tri thức về nguyên liệu, kỹ thuật ủ chượp, không gian nhà thùng, kinh nghiệm truyền nghề và văn hóa lao động. Nghề làm nước mắm Phú Quốc đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; đồng thời tên gọi “Phú Quốc” đối với sản phẩm nước mắm đã được Liên minh châu Âu đăng ký bảo hộ chỉ dẫn xuất xứ. Những yếu tố này tạo nên nguồn tài nguyên đặc thù để phát triển sản phẩm du lịch văn hóa và trải nghiệm (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2021; European Commission, 2012).
Tuy nhiên, sở hữu tài nguyên văn hóa không đồng nghĩa với việc các giá trị đó tự động trở thành trải nghiệm du lịch. Thực tế cho thấy, hoạt động tham quan nhà thùng tại Phú Quốc đã được hình thành nhưng chủ yếu vẫn xoay quanh quan sát không gian sản xuất, nghe giới thiệu quy trình, nếm thử và mua nước mắm. Các hoạt động cho phép du khách tương tác với người làm nghề, khám phá câu chuyện của gia đình, thực hành những thao tác phù hợp hoặc hiểu sâu hơn mối quan hệ giữa nghề với văn hóa biển đảo chưa được tổ chức thành một hệ thống sản phẩm hoàn chỉnh.
Từ thực tiễn trên, nghiên cứu tập trung trả lời 3 câu hỏi: (1) trải nghiệm hiện tại của khách du lịch tại các nhà thùng nước mắm Phú Quốc có những đặc điểm gì?; (2) du khách có nhu cầu như thế nào đối với các hoạt động trải nghiệm chuyên sâu gắn với nghề làm nước mắm?; và (3) kết quả khảo sát gợi mở những định hướng nào cho việc xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm bền vững dựa trên di sản nghề và sự tham gia của cộng đồng?
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Du lịch trải nghiệm và giá trị của di sản nghề
Du lịch trải nghiệm là hình thức tổ chức hoạt động du lịch theo hướng tăng cường sự tham gia trực tiếp của du khách vào không gian, hoạt động sản xuất, đời sống văn hóa và các thực hành đặc trưng của cộng đồng tại điểm đến. So với hình thức tham quan chủ yếu dựa trên quan sát và tiếp nhận thông tin, du lịch trải nghiệm chú trọng quá trình du khách được tìm hiểu, tương tác, thực hành, thưởng thức và cảm nhận những giá trị đặc thù của điểm đến. Đối với làng nghề truyền thống, cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa bởi sản phẩm du lịch không chỉ được hình thành từ sản phẩm hàng hóa cuối cùng mà còn từ không gian sản xuất, kỹ năng nghề, tri thức địa phương, lịch sử hình thành, ký ức cộng đồng, văn hóa lao động và những câu chuyện gắn với người làm nghề.
Quan điểm này phù hợp với định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề ở Việt Nam hiện nay. Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đặt việc bảo tồn làng nghề trong mối quan hệ đồng thời với phát triển sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, bảo vệ cảnh quan và môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và phát triển du lịch. Đáng chú ý, phát triển làng nghề gắn với du lịch được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, qua đó cho thấy làng nghề không chỉ được nhìn nhận như một đơn vị sản xuất mà còn là một không gian văn hóa, kinh tế và xã hội có khả năng tạo ra những giá trị mới thông qua hoạt động du lịch (Thủ tướng Chính phủ, 2022a).
Theo định hướng đó, bảo tồn làng nghề không thể chỉ dừng ở việc duy trì sản xuất sản phẩm truyền thống. Nội dung bảo tồn còn bao gồm không gian làm nghề, bí quyết nghề nghiệp, tri thức bản địa, kỹ năng sản xuất, các giá trị văn hóa liên quan đến nghề và quá trình truyền nghề giữa các thế hệ. Khi những yếu tố này được tổ chức và diễn giải phù hợp, chúng có thể trở thành nguồn lực để hình thành các sản phẩm du lịch trải nghiệm mang tính đặc thù. Du khách khi đó không chỉ đến để mua sản phẩm mà còn có cơ hội hiểu cách sản phẩm được tạo ra, tiếp xúc với người làm nghề, tìm hiểu lịch sử và văn hóa của cộng đồng, tham gia những thao tác phù hợp và cảm nhận giá trị của nghề trong chính không gian tồn tại của nó.
Định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa trong Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 2/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Chương trình nhấn mạnh việc khai thác các giá trị văn hóa, sinh thái, nghề truyền thống và sản phẩm đặc trưng của cộng đồng để hình thành điểm đến và sản phẩm du lịch; đồng thời chú trọng xây dựng sản phẩm đặc trưng, đào tạo nguồn nhân lực, truyền thông, xúc tiến và phát triển các mô hình du lịch xanh, có trách nhiệm và bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2022b). Cách tiếp cận này cho thấy giá trị của nghề truyền thống chỉ thực sự được phát huy khi hoạt động du lịch vừa tạo ra trải nghiệm cho du khách, vừa góp phần duy trì sinh kế và nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương.
Bên cạnh đó, Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 14/9/2023 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục đặt phát triển ngành nghề trong yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, phát huy bản sắc văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Từ góc độ này, giá trị của làng nghề truyền thống cần được nhìn nhận như một hệ thống bao gồm giá trị văn hóa và di sản, giá trị kinh tế và sinh kế, giá trị xã hội và cộng đồng, giá trị tri thức, giá trị thương hiệu, giá trị du lịch và giá trị đối với phát triển bền vững của địa phương.
Như vậy, phát triển du lịch trải nghiệm tại làng nghề không nên được hiểu là thay thế hoạt động sản xuất truyền thống bằng hoạt động du lịch, mà là quá trình bổ sung và mở rộng khả năng tạo giá trị từ nghề. Sản xuất vẫn là nền tảng bảo đảm tính xác thực; cộng đồng làm nghề là chủ thể nắm giữ và truyền tải tri thức; còn du lịch là phương thức giúp chuyển hóa một phần các giá trị văn hóa, kỹ năng, không gian và câu chuyện nghề thành nguồn lực bổ sung cho phát triển kinh tế và sinh kế. Mối quan hệ này chỉ có tính bền vững khi lợi ích từ du lịch quay trở lại hỗ trợ cộng đồng, tạo động lực duy trì nghề, truyền nghề và bảo tồn không gian văn hóa.
Đối với nghề làm nước mắm Phú Quốc, cách tiếp cận trên đặc biệt phù hợp bởi giá trị của làng nghề không chỉ nằm ở sản phẩm nước mắm mà còn ở hệ thống nhà thùng, nguyên liệu cá cơm, kỹ thuật ủ chượp, kinh nghiệm sản xuất, lịch sử các gia đình làm nghề, văn hóa biển đảo và tri thức được tích lũy qua nhiều thế hệ. Việc phát triển du lịch trải nghiệm vì vậy cần hướng tới chuyển hóa có chọn lọc những giá trị này thành các hoạt động giúp du khách “hiểu nghề - gặp người làm nghề - trải nghiệm - thưởng thức”, đồng thời bảo đảm hoạt động sản xuất truyền thống tiếp tục giữ vai trò trung tâm.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Về định lượng, khảo sát bằng bảng hỏi được tiến hành đối với 400 khách du lịch tại Phú Quốc theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp có chủ đích. Người tham gia từ 18 tuổi trở lên, đang tham quan hoặc lưu trú tại Phú Quốc, tự nguyện trả lời và có khả năng cung cấp thông tin liên quan đến trải nghiệm du lịch. Mẫu bao gồm cả nhóm đã và chưa từng tham quan nhà thùng nhằm phản ánh đồng thời trải nghiệm hiện có và nhu cầu tiềm năng đối với sản phẩm mới.
Bảng hỏi tập trung vào 4 nhóm nội dung: hành vi tham quan nhà thùng; đánh giá của khách đã tham quan đối với trải nghiệm hiện hữu; nhu cầu đối với các hoạt động trải nghiệm có thể phát triển; và mức sẵn lòng chi trả cho một chương trình chuyên sâu. Những tiêu chí đánh giá chất lượng trải nghiệm sử dụng thang Likert 5 mức.
Bên cạnh khảo sát định lượng, nghiên cứu sử dụng nghiên cứu tài liệu, quan sát thực địa và phỏng vấn bán cấu trúc đối với các chủ thể liên quan như người làm nghề, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp du lịch, đại diện tổ chức nghề nghiệp, nhà quản lý và chuyên gia. Do sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, kết quả khảo sát được dùng chủ yếu để nhận diện xu hướng của nhóm du khách tham gia nghiên cứu, không nhằm suy rộng thống kê tuyệt đối cho toàn bộ khách du lịch đến Phú Quốc.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mức độ tiếp cận và hình thức trải nghiệm hiện tại
Kết quả khảo sát cho thấy, nhà thùng đã có mức độ hiện diện khá rõ trong hành trình du lịch Phú Quốc: 71,5% người trả lời đã từng tham quan ít nhất một nhà thùng. Hai nhóm kênh tiếp cận nổi bật là truyền thông số và hệ thống lữ hành/hướng dẫn viên, cho thấy khả năng mở rộng thị trường của sản phẩm trải nghiệm phụ thuộc đồng thời vào nội dung số và mạng lưới phân phối du lịch.
Tuy vậy, trải nghiệm hiện tại vẫn thiên về quan sát và tiêu dùng. Phần lớn khách được tiếp cận không gian thùng ủ, nếm thử và nghe giới thiệu quy trình, trong khi chỉ 23,1% cho biết từng có tương tác trực tiếp với người làm nghề ngoài hoạt động mua bán hoặc thuyết minh thông thường. Điều này cho thấy điểm nghẽn không phải ở khả năng thu hút khách đến nhà thùng, mà ở chiều sâu của trải nghiệm.
Giá trị di sản được đánh giá cao nhưng tương tác còn hạn chế
Kết quả ở Hình 1 cho thấy nhóm tiêu chí gắn trực tiếp với tài nguyên di sản được đánh giá cao nhất: tính xác thực của không gian sản xuất, tính độc đáo của nhà thùng và giá trị văn hóa của nghề đều đạt trên 4 điểm. Ngược lại, các tiêu chí phụ thuộc nhiều hơn vào cách tổ chức sản phẩm như kể chuyện, tương tác với người làm nghề và đa dạng hoạt động có mức đánh giá thấp hơn.
Khoảng cách giữa nhóm “tài nguyên” và nhóm “tổ chức trải nghiệm” là phát hiện quan trọng: nhà thùng và nghề truyền thống đã có sức hấp dẫn nội tại, nhưng giá trị ấy chưa được chuyển hóa đầy đủ thành hoạt động tương tác. Vì vậy, cải thiện sản phẩm không nhất thiết phải tạo thêm yếu tố nhân tạo; trọng tâm nên là diễn giải di sản, kể chuyện và thiết kế cơ hội để du khách tham gia sâu hơn.
Hình 1: Đánh giá của du khách đối với trải nghiệm tại nhà thùng (n = 286)
![]() |
Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu
Nhu cầu chuyển từ quan sát sang tham gia
Nhu cầu được trình bày ở Hình 2 cho thấy du khách ưu tiên rõ rệt các hoạt động kết hợp tri thức nghề với trải nghiệm giác quan và tương tác. Nhóm được lựa chọn nhiều nhất gồm học cách nếm và phân biệt nước mắm, trải nghiệm ẩm thực, tìm hiểu quy trình ủ chượp và nghe người làm nghề kể chuyện. Ngay cả các hoạt động đòi hỏi mức tham gia cao hơn như thực hiện một số thao tác nghề phù hợp cũng thu hút tỷ lệ đáng kể.
Như vậy, nhu cầu không dừng ở “xem” mà dịch chuyển sang “hiểu - gặp - làm - nếm - ghi nhớ”. Đây là cơ sở để tổ chức sản phẩm theo chuỗi trải nghiệm có chiều sâu thay vì kéo dài thời gian tham quan bằng những hoạt động rời rạc.
Hình 2: Nhu cầu của du khách đối với các hoạt động trải nghiệm (n = 400)
![]() |
Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu
Khả năng hình thành sản phẩm trải nghiệm có thu phí
Hình 3 cho thấy nhóm mức chi trả được lựa chọn nhiều nhất là 100.000 đến dưới 200.000 đồng/người. Đáng chú ý, tổng tỷ lệ chấp nhận mức từ 100.000 đồng trở lên đạt 69,0%. Kết quả này không nên được hiểu như một mức giá có thể áp dụng ngay, nhưng cho thấy du khách nhìn nhận trải nghiệm chuyên sâu như một dịch vụ có giá trị riêng, thay vì chỉ là hoạt động miễn phí hỗ trợ bán sản phẩm.
Hình 3: Mức sẵn lòng chi trả cho chương trình trải nghiệm chuyên sâu (n = 400)
![]() |
Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu
Ngoài ra, 81,8% khách cho biết sẵn sàng giới thiệu trải nghiệm nhà thùng cho người thân và bạn bè nếu sản phẩm được tổ chức hấp dẫn hơn; 76,3% có ý định mua nước mắm tại nhà thùng sau trải nghiệm và 69,5% cho biết sẽ ưu tiên nước mắm Phú Quốc hơn sau khi hiểu rõ quy trình và giá trị văn hóa của nghề. Điều này gợi ý rằng trải nghiệm không cạnh tranh với hoạt động bán sản phẩm mà có thể hỗ trợ thương hiệu và hành vi tiêu dùng.
THẢO LUẬN
Phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu là sự khác biệt giữa đánh giá cao đối với tài nguyên văn hóa và đánh giá thấp hơn đối với hoạt động tương tác. Nếu tính xác thực của không gian, tính độc đáo của nhà thùng và giá trị văn hóa đều được đánh giá trên 4 điểm, có thể cho rằng nền tảng của sản phẩm đã tồn tại. Điều cần cải thiện không phải là tạo thêm những yếu tố nhân tạo nhằm làm nhà thùng “hấp dẫn” hơn, mà là thiết kế phương thức để du khách tiếp xúc sâu hơn với những giá trị vốn có.
Chỉ 23,1% khách từng có tương tác trực tiếp với người làm nghề, trong khi có tới 73,5% số người được khảo sát mong muốn nghe người làm nghề kể chuyện. Khoảng cách này cho thấy người làm nghề hiện chưa được phát huy đầy đủ với tư cách là chủ thể của trải nghiệm. Sản phẩm tương lai cần tạo ra “điểm gặp người giữ nghề”, nhưng có thể tổ chức theo cơ chế phối hợp giữa người thuyết minh được đào tạo và chủ nhà thùng hoặc người lao động lâu năm để vừa bảo đảm chiều sâu văn hóa, vừa không ảnh hưởng hoạt động sản xuất.
Tỷ lệ tương đối cao du khách chấp nhận trả phí cho thấy khả năng biến hoạt động trải nghiệm thành một cấu phần bổ sung của sinh kế địa phương. Tuy nhiên, tính bền vững phụ thuộc vào cơ chế phân phối giá trị. Phí trải nghiệm cần gắn với lợi ích của cơ sở sản xuất, người trực tiếp kể chuyện, bộ phận tổ chức, nguyên vật liệu và hoạt động bảo tồn - truyền nghề.
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TRẢI NGHIỆM BỀN VỮNG
Từ kết quả khảo sát, nghiên cứu đề xuất thay đổi logic tổ chức sản phẩm từ “tham quan - giới thiệu - nếm thử - mua hàng” thành “hiểu nghề - gặp người - tương tác - thưởng thức - mang câu chuyện về nhà”.
Hình 4: Chuỗi trải nghiệm đề xuất cho du lịch làng nghề nước mắm Phú Quốc
![]() |
Nguồn: Nhóm nghiên cứu đề xuất
Thứ nhất, chuẩn hóa tri thức trước khi phát triển trải nghiệm. Nhóm người trẻ địa phương, con em gia đình làm nghề hoặc nhân lực du lịch cần được đào tạo về lịch sử nghề, nguyên liệu, cấu trúc nhà thùng, kỹ thuật cơ bản, chỉ dẫn địa lý, văn hóa biển và giới hạn của những nội dung có thể đưa vào phục vụ du khách.
Thứ hai, xây dựng ngân hàng câu chuyện di sản cho từng nhà thùng. Các câu chuyện về người sáng lập, chiếc thùng lâu đời, ký ức nghề hoặc kinh nghiệm chọn nguyên liệu có thể được thu thập, xác minh và chuyển tải thông qua thuyết minh, audio, video, QR hoặc bản đồ số.
Thứ ba, thiết kế chuỗi trải nghiệm 60-120 phút gồm các trạm: chào nghề; nhận diện cá cơm và muối; khám phá cấu trúc nhà thùng; tìm hiểu quá trình gài nén, ủ chượp và kéo rút; gặp người giữ nghề; học cách quan sát, ngửi và nếm nước mắm; kết nối với ẩm thực Phú Quốc; và tiếp cận sản phẩm hoặc nội dung số.
Thứ tư, đưa ẩm thực thành một lớp trải nghiệm độc lập thông qua workshop phân biệt nước mắm, pha nước chấm, kết hợp nước mắm với món ăn hoặc bữa ăn chủ đề.
Thứ năm, phát triển không gian số hỗ trợ, bao gồm hồ sơ số của từng nhà thùng, bản đồ trải nghiệm, hệ thống đặt chỗ, nội dung đa ngôn ngữ, truy xuất thông tin và kho câu chuyện nghề.
Thứ sáu, mở rộng cơ hội sinh kế dựa trên di sản cho người trẻ địa phương qua hướng dẫn trải nghiệm, sản xuất nội dung, thiết kế sản phẩm văn hóa, nhiếp ảnh, podcast, giáo dục di sản, tour nhóm nhỏ và hoạt động ẩm thực.
Mô hình nên được thí điểm tại 3-5 nhà thùng có nhu cầu và đủ điều kiện đón khách. Sau giai đoạn thử nghiệm cần đánh giá thời lượng, mức độ tương tác, sự hài lòng, mức sẵn lòng chi trả, ảnh hưởng đối với hoạt động sản xuất và lợi ích kinh tế của các chủ thể trước khi mở rộng.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ QUẢN TRỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy hạn chế của du lịch nhà thùng nước mắm Phú Quốc hiện nay không nằm chủ yếu ở sự thiếu hụt tài nguyên, mà ở cách thức tổ chức và chuyển hóa các giá trị nghề thành trải nghiệm có chiều sâu. Vì vậy, hàm ý chính sách trước hết là cần điều chỉnh cách tiếp cận quản lý, từ tư duy xem nhà thùng như một điểm tham quan gắn với bán sản phẩm sang xem đây là một không gian di sản sống, nơi đồng thời diễn ra hoạt động sản xuất, lưu giữ tri thức nghề, truyền nghề và tương tác văn hóa với du khách. Cách nhìn này đòi hỏi các cơ quan quản lý không chỉ quan tâm đến số lượng khách hay doanh thu du lịch, mà còn phải chú trọng đến tính xác thực của không gian sản xuất, quyền lợi của cộng đồng làm nghề và khả năng duy trì hoạt động nghề trong dài hạn.
Trên cơ sở đó, cần xây dựng một khung hướng dẫn riêng đối với hoạt động du lịch trải nghiệm tại các nhà thùng. Khung này cần xác định tương đối rõ những khu vực du khách được phép tiếp cận, các công đoạn có thể quan sát hoặc tham gia, những nội dung chỉ nên trình diễn, các yêu cầu về vệ sinh và an toàn cũng như nguyên tắc bảo vệ bí quyết nghề và không làm gián đoạn hoạt động sản xuất. Việc chuẩn hóa là cần thiết để tránh 2 xu hướng trái ngược: hoặc khai thác quá mức khiến không gian sản xuất bị thương mại hóa, hoặc quản lý quá chặt làm hạn chế khả năng phát huy giá trị văn hóa và giá trị trải nghiệm của làng nghề.
Một hàm ý quan trọng khác là phải đầu tư cho năng lực diễn giải di sản. Kết quả khảo sát cho thấy du khách đánh giá cao tính xác thực và giá trị văn hóa của nhà thùng, nhưng mức độ tương tác với người làm nghề và sự đa dạng của hoạt động trải nghiệm còn thấp. Điều đó cho thấy giá trị nghề chưa được chuyển tải đầy đủ thành nội dung mà du khách có thể hiểu, cảm nhận và ghi nhớ. Vì vậy, cần xây dựng lực lượng có khả năng kết nối giữa người giữ nghề và khách du lịch, đặc biệt là người trẻ địa phương, con em các gia đình làm nghề hoặc nhân lực đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Nội dung đào tạo không nên chỉ dừng ở kỹ năng thuyết minh, mà cần bao gồm kiến thức về lịch sử nghề, quy trình sản xuất, chỉ dẫn địa lý, kỹ năng kể chuyện, giao tiếp, ngoại ngữ, kỹ năng số và nguyên tắc bảo tồn di sản.
Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị du lịch làng nghề. Nhà thùng khó có thể tự mình đảm nhiệm đồng thời hoạt động sản xuất, đón khách, truyền thông, thiết kế trải nghiệm và kết nối thị trường. Do đó, cần hình thành mạng lưới phối hợp giữa cơ sở sản xuất nước mắm, doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn viên, các nền tảng số và tổ chức nghề nghiệp. Trong cơ chế này, nhà thùng giữ vai trò bảo đảm tính xác thực và chất lượng nội dung; doanh nghiệp du lịch hỗ trợ thị trường và tổ chức khách; các cơ sở dịch vụ mở rộng chuỗi tiêu dùng; nền tảng số hỗ trợ truyền thông, đặt chỗ, truy xuất thông tin và thu thập phản hồi. Sự liên kết này giúp sản phẩm trải nghiệm không tồn tại như một hoạt động rời rạc, mà trở thành một cấu phần trong hệ sinh thái du lịch Phú Quốc.
Đặc biệt, cần thiết lập nguyên tắc chia sẻ lợi ích theo hướng bảo đảm người nắm giữ và thực hành di sản được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch. Nếu doanh thu chủ yếu tập trung ở các tác nhân trung gian trong khi người làm nghề chỉ cung cấp không gian hoặc tham gia mang tính hình thức, du lịch khó tạo ra động lực thực chất cho bảo tồn. Vì vậy, đối với các chương trình có thu phí, cần xây dựng cơ chế phân bổ lợi ích giữa nhà thùng, người trực tiếp kể chuyện hoặc hướng dẫn, nhóm tổ chức, đơn vị phân phối và quỹ phục vụ hoạt động truyền nghề hoặc bảo tồn. Cơ chế này không nhất thiết phải áp dụng một tỷ lệ cứng cho mọi cơ sở, nhưng cần dựa trên nguyên tắc minh bạch, có thỏa thuận và tương xứng với mức độ đóng góp của từng chủ thể.
Cuối cùng, chính sách phát triển cần ưu tiên phương thức thí điểm, đánh giá rồi mới nhân rộng. Thay vì triển khai đồng loạt tại nhiều nhà thùng, có thể lựa chọn một số cơ sở có điều kiện phù hợp để thử nghiệm các sản phẩm trải nghiệm theo quy mô nhỏ, sau đó đánh giá về mức độ hài lòng, khả năng chi trả, tác động đến hoạt động sản xuất, hiệu quả kinh tế và mức độ tham gia của cộng đồng. Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro thương mại hóa quá mức, đồng thời tạo cơ sở thực tiễn để hoàn thiện tiêu chí, quy trình và cơ chế phối hợp trước khi mở rộng mô hình.
Như vậy, hàm ý chính sách và quản trị cốt lõi không chỉ là phát triển thêm sản phẩm du lịch, mà là xây dựng một cơ chế khai thác di sản theo hướng cân bằng giữa bảo tồn, trải nghiệm và sinh kế. Trong cơ chế đó, cộng đồng làm nghề phải giữ vai trò chủ thể, tính xác thực của di sản là nguyên tắc nền tảng, còn du lịch là công cụ để gia tăng giá trị chứ không thay thế hay làm biến dạng nghề truyền thống.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy du lịch gắn với nghề làm nước mắm Phú Quốc đang đứng trước một cơ hội chuyển đổi quan trọng. Nhà thùng đã tương đối quen thuộc đối với du khách, nhưng trải nghiệm hiện tại vẫn thiên về quan sát, thuyết minh, nếm thử và mua hàng, trong khi tương tác trực tiếp với chủ thể của nghề và sự đa dạng hoạt động còn hạn chế. Ở phía cầu, du khách thể hiện nhu cầu rõ rệt đối với những hoạt động có chiều sâu hơn, đặc biệt là nếm và học cách phân biệt nước mắm, trải nghiệm ẩm thực, tìm hiểu quy trình sản xuất và nghe chính người làm nghề kể chuyện. Đồng thời, tỷ lệ đáng kể người được khảo sát chấp nhận trả phí cho một sản phẩm được tổ chức bài bản cho thấy tiềm năng chuyển những giá trị phi vật thể của nghề thành nguồn lực bổ sung cho sinh kế cộng đồng.
Định hướng phù hợp không phải là tạo thêm một điểm vui chơi trong làng nghề, mà là tổ chức lại cách thức du khách tiếp cận những giá trị đã tồn tại. Chuyển đổi từ “xem nhà thùng” sang “hiểu nghề - gặp người - trải nghiệm văn hóa” có khả năng đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, mở rộng nguồn thu và tăng động lực bảo tồn.
Hạn chế của nghiên cứu nằm ở phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp có chủ đích và việc chủ yếu sử dụng thống kê mô tả. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mẫu, phân nhóm khách trong nước và quốc tế, kiểm định các mối quan hệ giữa tính xác thực, tương tác, giá trị cảm nhận, sự hài lòng, mức sẵn lòng chi trả và ý định hành vi; đồng thời thử nghiệm mô hình thực tế tại một số nhà thùng trước khi nhân rộng.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2021). Quyết định số 1730/QĐ-BVHTTDL ngày 27/5/2021 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: Nghề làm nước mắm Phú Quốc.
2. European Commission (2012). Commission Implementing Regulation (EU) No 928/2012 of 8 October 2012 entering a name in the register of protected designations of origin and protected geographical indications (Phú Quốc (PDO)). Official Journal of the European Union, L 277, 1-2. https://eur-lex.europa.eu/eli/reg_impl/2012/928/oj/eng
3. Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 2/8/2022 phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.
5. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 14/9/2023 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
6. UBND thành phố Phú Quốc (2025a). Kế hoạch số 93/KH-UBND ngày 31/3/2025 về tổ chức Festival Nước mắm truyền thống Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang lần thứ I năm 2025.
7. UBND thành phố Phú Quốc (2025b). Kế hoạch số 436/KH-UBND ngày 24/6/2025 về tổ chức Hội thi Ẩm thực nước mắm truyền thống Phú Quốc trong khuôn khổ Festival Nước mắm truyền thống Phú Quốc lần thứ I năm 2025.
| Ngày nhận bài: 11/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 9/10/2026 |
Các tin khác
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh
Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam



