Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu - Trao đổi 20:33 | 12/10/2026
Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.

ThS. Phạm Thị Thu Trang

Khoa Kinh tế Hàng không, Học viện Hàng không Việt Nam

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu tổng hợp mối quan hệ giữa chuyển đổi số, đổi mới xanh và các kết quả bền vững trong logistics và chuỗi cung ứng, qua đó nhận diện khoảng trống và hướng nghiên cứu cho Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống theo PRISMA 2020. Truy vấn trên Scopus giai đoạn 2021-2026 thu được 660 bản ghi; sau khi loại bản trùng lặp, 659 bản ghi được phân tích và 37 nghiên cứu được tổng hợp có hệ thống. Kết quả xác định 5 cụm chủ đề và cho thấy đổi mới xanh thường đóng vai trò trung gian giữa số hóa và các kết quả về môi trường, năng lượng và ESG. Tuy nhiên, bằng chứng vẫn tập trung chủ yếu ở Trung Quốc và còn hạn chế đối với doanh nghiệp logistics Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất khung tích hợp, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu cho logistics bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ khóa: Chuyển đổi số, đổi mới xanh, ĐBSCL, logistics bền vững, tổng quan hệ thống

Abstract

This study synthesises the relationships between digital transformation, green innovation and sustainability outcomes in logistics and supply chains, thereby identifying research gaps and directions for the Mekong Delta. It combines bibliometric analysis with a systematic review following PRISMA 2020. A Scopus search covering the period 2021-2026 retrieved 660 records. After duplicates were removed, 659 records were analysed, and 37 studies were included in the systematic synthesis. The findings identify five thematic clusters and indicate that green innovation frequently mediates the relationships between digitalisation and environmental, energy-related and environmental, social and governance (ESG) outcomes. However, the evidence remains concentrated primarily on China, with limited research on logistics enterprises in Viet Nam. From the research results, the study proposes an integrated framework and outlines directions for future research on sustainable logistics in the Mekong Delta.

Keywords: Digital transformation, green innovation, Mekong Delta, sustainable logistics, systematic review

GIỚI THIỆU

Chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là số hóa dữ liệu hay tự động hóa mà còn làm thay đổi cách doanh nghiệp tổ chức nguồn lực, tạo giá trị và vận hành (Vial, 2019). Trong logistics, công nghệ số tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin và phối hợp trong chuỗi cung ứng, tạo nền tảng cho các cải tiến bền vững. Tuy nhiên, nguồn lực số chỉ tạo ra giá trị môi trường khi được chuyển hóa thành các hoạt động cụ thể, trong đó đổi mới xanh giữ vai trò quan trọng trong việc giảm tác động môi trường (Chen và cộng sự, 2006).

Vì vậy, các nghiên cứu gần đây chuyển từ xem xét tác động trực tiếp sang làm rõ cơ chế chuyển hóa này. CĐS có thể thúc đẩy đổi mới xanh trong doanh nghiệp logistics (Li và cộng sự, 2025), trong khi đổi mới xanh truyền dẫn tác động của CĐS đến hiệu suất ESG (Yu và cộng sự, 2024) và của số hóa chuỗi cung ứng đến giảm phát thải carbon (Han và Wei, 2025). Tại Việt Nam, Le và cộng sự (2024) cũng cho thấy số hóa cải thiện hiệu suất bền vững thông qua đổi mới xanh và quản trị chuỗi cung ứng xanh. Những bằng chứng này cho thấy cần tiếp tục làm rõ các năng lực trung gian giúp chuyển nguồn lực số thành kết quả xanh.

Do đó, nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Số hóa và CĐS là 2 khái niệm khác nhau. Số hóa tập trung chuyển thông tin sang dạng số, trong khi CĐS sử dụng công nghệ để thay đổi hoạt động, năng lực và cách thức tạo giá trị của doanh nghiệp (Vial, 2019; Verhoef và cộng sự, 2021). Trong logistics, số hóa chuỗi cung ứng nhấn mạnh sự kết nối, minh bạch và tích hợp giữa các mắt xích, trong khi CĐS cấp doanh nghiệp tập trung nhiều hơn vào thay đổi nội bộ. Đổi mới xanh bao gồm các đổi mới về sản phẩm, quy trình, công nghệ và quản trị nhằm giảm tác động môi trường, khác với các kết quả bền vững như ESG, phát thải và hiệu quả năng lượng.

Cơ chế chuyển hóa nguồn lực số thành kết quả xanh có thể được giải thích qua quan điểm dựa trên nguồn lực và tài nguyên tự nhiên của doanh nghiệp, cùng với lý thuyết năng lực động. Quan điểm này cho rằng, lợi thế bền vững hình thành từ sự kết hợp giữa nguồn lực doanh nghiệp và năng lực môi trường (Hart, 1995). Trong khi đó, Lý thuyết năng lực động nhấn mạnh khả năng cảm nhận, nắm bắt và tái cấu hình nguồn lực để thích ứng với thay đổi (Teece, 2007). Trên nền tảng đó, năng lực động xanh được xem là sự định hướng các năng lực này vào mục tiêu môi trường, qua đó giúp doanh nghiệp chuyển hóa nguồn lực số thành đổi mới xanh. Bên cạnh đó, Lý thuyết thể chế và cách tiếp cận các bên liên quan giúp giải thích vai trò của áp lực bên ngoài và quan hệ liên tổ chức đối với quá trình hình thành kết quả xanh (DiMaggio và Powell, 1983).

Năng lực động xanh được lựa chọn làm cấu trúc trung gian trung tâm vì các nghiên cứu trong corpus thường xem năng lực động, hấp thụ và thích ứng là các cơ chế truyền dẫn từ số hóa chuỗi cung ứng đến đổi mới công nghệ xanh (Wang và cộng sự, 2026; Shi và Fan, 2025). Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng khung phân tích 4 tầng như Hình 1, trong đó các điều kiện thể chế và liên tổ chức đóng vai trò điều kiện biên. Khung này được sử dụng để tổ chức và diễn giải bằng chứng từ tổng quan, không phải mô hình đã được kiểm định thực nghiệm.

Hình 1: Khung phân tích tích hợp 4 tầng

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứub tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Tác giả đề xuất

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp tổng quan hệ thống (SLR) với phân tích thư mục, thực hiện theo PRISMA 2020 (Page và cộng sự, 2021) và hướng dẫn phân tích thư mục của Donthu và cộng sự (2021). Dữ liệu được xuất từ Scopus ngày 20/5/2026. Truy vấn được khóa cứng, kết hợp 3 nhóm khái niệm: CĐS; logistics/chuỗi cung ứng; xanh/bền vững, trong giai đoạn 2021-2026. Kết quả thu được 660 bản ghi; sau khi loại một bản trùng lặp, còn 659 bản ghi cho phân tích thư mục. Sàng lọc tiêu đề và tóm tắt loại 615 bản ghi, giữ lại 44 bản; đánh giá toàn văn loại thêm 7 bản, gồm 6 bản chỉ đề cập yếu tố xanh/chuỗi cung ứng như bối cảnh và 1 bản không đủ thông tin để trích xuất, còn 37 nghiên cứu cho tổng hợp có hệ thống (Hình 2). Mỗi nghiên cứu được trích xuất theo 13 trường thông tin và đánh giá chất lượng theo 5 tiêu chí gồm: độ rõ mục tiêu; độ chặt của thiết kế và nhận dạng nhân quả; độ tin cậy của đo lường và mẫu; kiểm soát biến, nội sinh và độ vững; tính khái quát và minh bạch.

Hình 2: Sơ đồ dòng PRISMA 2020 của quá trình lựa chọn

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứub tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Tác giả xây dựng theo Page và cộng sự (2021)

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Số công bố trong Scopus tăng nhanh, từ 5 bài năm 2021 lên 46 bài năm 2022, 82 bài năm 2023, 128 bài năm 2024 và 258 bài năm 2025; riêng năm 2026 đã có 140 bài tính đến 20/5/2026. Các nghiên cứu được công bố trên nhiều nhóm tạp chí về quản trị, năng lượng, môi trường và logistics, cho thấy mối quan tâm ngày càng tăng đối với sự kết hợp giữa số hóa, tính bền vững, Cách mạng công nghiệp 4.0 và kinh tế tuần hoàn.

Tổng hợp 37 nghiên cứu xác định 5 cụm chủ đề (Bảng 1). Trong đó, cụm năng lực và tích hợp chuỗi cung ứng số chiếm tỷ trọng lớn nhất với 10 bài (27,0%), tiếp đến là lan tỏa và quản trị liên tổ chức với 8 bài (21,6%). Hai cụm về quan hệ trực tiếp và đổi mới xanh dẫn đến bền vững cùng có 7 bài (18,9%), trong khi nhóm cấp hệ thống và chính sách có 5 bài (13,5%).

Về chất lượng, các nghiên cứu sử dụng thiết kế thí nghiệm gần tự nhiên (Qing và cộng sự, 2025; Wang, Wang và Sun, 2026; Han và Wei, 2025) có ưu thế về nhận dạng nhân quả. Tuy nhiên, hạn chế phổ biến vẫn là tính khái quát và sự chưa thống nhất trong cách sử dụng các cấu trúc số.

Bảng 1: Năm cụm chủ đề của tập nghiên cứu tổng hợp (n = 37)

Cụm chủ đề

N (%)

Nội dung cốt lõi

Nghiên cứu đại diện

Đổi mới xanh trực tiếp từ số hóa

7 (18,9%)

Số hóa/CĐS là tiền đề trực tiếp của đổi mới xanh.

Li và cộng sự (2025); Ma và cộng sự (2024)

Đổi mới xanh dẫn đến bền vững/ESG

7 (18,9%)

Đổi mới xanh truyền dẫn tác động số đến ESG, năng lượng, phát thải.

Yu và cộng sự (2024); Le và cộng sự (2024)

Năng lực và tích hợp chuỗi cung ứng số

10 (27,0%)

Năng lực động, tích hợp, phối hợp giải thích cách đầu tư số tạo giá trị xanh.

Wang và cộng sự (2026); Wang và Zhang (2024)

Lan tỏa và quản trị liên tổ chức

8 (21,6%)

Tác động số lan truyền giữa khách hàng, nhà cung cấp qua minh bạch, hợp tác.

Luo và cộng sự (2025); Han và Wei (2025)

Cấp hệ thống và chính sách

5 (13,5%)

Phân tích vĩ mô và chính sách kết nối số hóa với đổi mới xanh, môi trường.

Abu Khazam và cộng sự (2026); Cao và cộng sự (2025)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ corpus SLR

Đặc điểm và bằng chứng của các nghiên cứu cốt lõi được tóm tắt ở Bảng 2, cho phép so sánh thiết kế, cấu trúc và cơ chế, đồng thời làm nổi bật sự tập trung địa lý và ngành của bằng chứng hiện có.

Bảng 2: Đặc điểm và bằng chứng của một số nghiên cứu cốt lõi

Tác giả (năm)

Quốc gia/bối cảnh

Thiết kế và mẫu

Phát hiện chính

Li và cộng sự (2025)

Trung Quốc; doanh nghiệp logistics niêm yết

Dữ liệu bảng

CĐS thúc đẩy đổi mới xanh; đồng thời góp phần giảm hạn chế tài chính và bất định môi trường.

Ma và cộng sự (2024)

Trung Quốc; doanh nghiệp

Dữ liệu bảng

Số hóa chuỗi cung ứng thúc đẩy đổi mới xanh, phụ thuộc vào mức độ minh bạch và điều kiện tài chính.

Wang và cộng sự (2026)

Trung Quốc; doanh nghiệp

Dữ liệu bảng

Năng lực đổi mới, năng lực hấp thụ và năng lực thích ứng đóng vai trò trung gian giữa số hóa chuỗi cung ứng và đổi mới công nghệ xanh; tác động được điều tiết bởi sự chú ý của nhà quản trị.

Wang và Zhang (2024)

Đa bối cảnh

Nghiên cứu thực nghiệm

Số hóa chuỗi cung ứng xanh thúc đẩy đổi mới sinh thái thông qua tích hợp nội bộ và hợp tác liên tổ chức.

Yu, Xu và Yuan (2024)

Trung Quốc; 95 doanh nghiệp vận tải và logistics

Dữ liệu bảng

Đổi mới xanh đóng vai trò trung gian giữa CĐS và hiệu suất ESG; hạn chế tài chính làm suy yếu tác động.

Qing và cộng sự (2025)

Trung Quốc; chính sách thí điểm

Thiết kế gần thực nghiệm

Số hóa chuỗi cung ứng cải thiện hiệu suất năng lượng thông qua minh bạch chuỗi cung ứng và đổi mới xanh.

Han và Wei (2025)

Trung Quốc

Thiết kế gần thực nghiệm

Chuỗi tác động trung gian từ số hóa đến CĐS, đổi mới xanh và cuối cùng là giảm phát thải carbon.

Luo và cộng sự (2025)

Trung Quốc; mạng lưới khách hàng và nhà cung cấp

Dữ liệu bảng và phân tích mạng lưới

Tác động lan tỏa của CĐS góp phần giảm phát thải carbon trong chuỗi cung ứng.

Liu và Wang (2025)

Trung Quốc; cặp khách hàng và nhà cung cấp

Dữ liệu bảng

Số hóa của khách hàng có thể làm gia tăng hành vi tẩy xanh của nhà cung cấp.

Le và cộng sự (2024)

Việt Nam; doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành thực phẩm và đồ uống

Khảo sát; mô hình cấu trúc tuyến tính từng phần

Số hóa cải thiện hiệu suất bền vững thông qua đổi mới xanh và quản trị chuỗi cung ứng xanh.

Abu Khazam và cộng sự (2026)

Saudi Arabia; cấp độ vĩ mô

Phân tích chuỗi thời gian

Số hóa chuỗi cung ứng có mối liên hệ với chất lượng môi trường; đổi mới xanh đóng vai trò điều kiện.

Cao và cộng sự (2025)

Anh; cấp độ vĩ mô

Hồi quy phân vị kết hợp phân tích wavelet

Gián đoạn chuỗi cung ứng, số hóa và chính sách môi trường cùng định hình đổi mới trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Thảo luận

Trước hết, quan hệ số và xanh đã chuyển từ kiểm định tác động trực tiếp sang giải thích cơ chế năng lực. Câu hỏi trọng tâm không còn là CĐS có thúc đẩy đổi mới xanh hay không?, mà là những năng lực trung gian nào giúp đầu tư số tạo ra đổi mới xanh?

Bên cạnh đó, đổi mới xanh thường đứng giữa đầu tư số và kết quả bền vững. Yu và cộng sự (2024) cho thấy đổi mới xanh trung gian tác động của CĐS tới ESG; Qing và cộng sự (2025) và Wang và cộng sự (2026) ghi nhận vai trò của minh bạch và các kênh đổi mới đối với năng lượng và phát thải; Han và Wei (2025) kiểm định một chuỗi trung gian. Tuy nhiên, chuỗi “CĐS → năng lực động xanh → đổi mới xanh → ESG” vẫn chưa được nhận diện đầy đủ, tạo ra khoảng trống về cơ chế.

Tác động số cũng vượt ra ngoài ranh giới doanh nghiệp và có mặt trái. Luo và cộng sự (2025) ghi nhận hiệu ứng lan tỏa đến phát thải chuỗi cung ứng, trong khi Liu và Wang (2025) cho thấy số hóa của khách hàng có thể làm tăng tẩy xanh ở nhà cung cấp. Bên cạnh đó là nguy cơ dịch chuyển gánh nặng môi trường, hiệu ứng bật lại và khoảng cách số. Vì vậy, tác động số xanh phụ thuộc vào chất lượng quản trị và minh bạch, đồng thời cần được đánh giá ở cấp độ toàn chuỗi.

Đối với ĐBSCL, đặc trưng chuỗi lạnh nông thủy sản, vận tải đa phương thức, phụ thuộc xuất khẩu và nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức độ trưởng thành số thấp tạo nên bối cảnh phù hợp để kiểm định quan hệ giữa CĐS, năng lực động xanh và đổi mới xanh. Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng hiện có tập trung vào doanh nghiệp lớn hoặc chuỗi đã số hóa cao, trong khi doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa tại ĐBSCL chủ yếu mới ở nấc số hóa. Vì vậy, không thể giả định bước chuyển trực tiếp sang năng lực động xanh và đổi mới xanh mà cần xem đây là một lộ trình quá độ nhiều nấc. Các khoảng trống và hướng nghiên cứu được tổng hợp tại Bảng 3, mô hình đề xuất trình bày ở Hình 3.

Bảng 3: Khoảng trống và chương trình nghiên cứu đề xuất

Khoảng trống

Bằng chứng từ tổng quan

Định hướng nghiên cứu

Bối cảnh và địa lý

Bằng chứng tập trung ở Trung Quốc; nghiên cứu tại Việt Nam còn ít và chủ yếu ngoài lĩnh vực logistics.

Mở rộng nghiên cứu tại doanh nghiệp logistics Việt Nam và ĐBSCL; so sánh giữa các vùng và loại hình dịch vụ.

Cơ chế năng lực

Năng lực động, năng lực hấp thụ và năng lực thích ứng đã được đề cập, nhưng năng lực động xanh chưa được chuẩn hóa.

Kiểm định vai trò của năng lực động xanh trong chuyển hóa nguồn lực số thành đổi mới xanh.

Trung gian nối tiếp

Đã có các mô hình trung gian nối tiếp nhưng chưa ghi nhận đầy đủ chuỗi CĐS → năng lực động xanh → đổi mới xanh → ESG.

So sánh các mô hình trung gian đơn, song song và nối tiếp; kiểm định hiệu ứng gián tiếp.

Kết quả đầu ra

Đổi mới xanh, phát thải carbon và hiệu quả năng lượng được sử dụng phổ biến hơn chỉ số ESG tổng hợp.

Sử dụng ESG hoặc các nhóm kết quả bền vững đa chiều; đo lường ở cấp độ toàn chuỗi.

Đo lường và phương pháp

CĐS, số hóa chuỗi cung ứng và công nghệ thông minh còn được sử dụng chưa thống nhất; dữ liệu bảng chiếm ưu thế.

Xây dựng thang đo CĐS có giá trị khái niệm; kết hợp mô hình cấu trúc tuyến tính với dữ liệu thứ cấp và thiết kế nghiên cứu theo thời gian hoặc đa cấp.

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ corpus SLR

Hình 3: Mô hình nghiên cứu

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứub tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Tác giả đề xuất

KẾT LUẬN

Phân tích thư mục 659 bài báo và tổng quan hệ thống 37 nghiên cứu giai đoạn 2021-2026 cho thấy nghiên cứu về CĐS, đổi mới xanh và logistics bền vững đang phát triển nhanh, đồng thời chuyển từ xem xét tác động trực tiếp sang làm rõ các cơ chế về năng lực, tích hợp và lan tỏa. Đổi mới xanh nổi lên như mắt xích quan trọng kết nối nguồn lực số với các kết quả về môi trường, năng lượng và ESG. Tuy nhiên, bằng chứng vẫn tập trung chủ yếu ở Trung Quốc, trong khi nghiên cứu về doanh nghiệp logistics Việt Nam còn hạn chế.

Tổng quan cho thấy năng lực động, minh bạch và hợp tác liên tổ chức ngày càng được chú ý, nhưng chuỗi cơ chế từ CĐS đến năng lực động xanh, đổi mới xanh và kết quả bền vững vẫn chưa được kiểm định đầy đủ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất mô hình tích hợp gồm CĐS, năng lực động xanh, đổi mới xanh và ESG, trong đó năng lực động xanh và đổi mới xanh được xem là các mắt xích kết nối nguồn lực số với kết quả bền vững. Mô hình này cung cấp cơ sở để định hướng các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

Đối với ĐBSCL, đặc điểm logistics gắn với chuỗi lạnh nông thủy sản, vận tải đa phương thức, xuất khẩu và sự hiện diện lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra bối cảnh phù hợp để kiểm định mô hình đề xuất. Đặc biệt, cần làm rõ quá trình chuyển từ số hóa đến năng lực động xanh, đổi mới xanh và các kết quả bền vững trong điều kiện mức độ trưởng thành số còn khác biệt giữa các doanh nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Abu Khazam, M., Khadem, A., & Alzubi, A. B. (2026). A frequency domain causality approach towards the management of supply chain digitalization and environmental quality in Saudi Arabia: What is the role of green innovation?, Sustainability, 18(5), 2527.

2. Cao, Y.-Y., Rehman, S., Subhan, M., Onwe, J. C., & Khan, K. A. (2025). How do supply chain disruptions, digitalization, and environmental policies shape renewable energy innovation in the United Kingdom?, Journal of Environmental Management, 391, 126434.

3. Chen, Y.-S., Lai, S.-B., & Wen, C.-T. (2006). The influence of green innovation performance on corporate advantage in Taiwan, Journal of Business Ethics, 67(4), 331-339.

4. DiMaggio, P. J., & Powell, W. W. (1983). The iron cage revisited: Institutional isomorphism and collective rationality in organizational fields, American Sociological Review, 48(2), 147-160.

5. Donthu, N., Kumar, S., Mukherjee, D., Pandey, N., & Lim, W. M. (2021). How to conduct a bibliometric analysis: An overview and guidelines, Journal of Business Research, 133, 285-296.

6. Han, Y., & Wei, T. (2025). Supply chain digitization and corporate carbon emissions: A chain mediation examination based on digital transformation and green innovation, Journal of Environmental Management, 379, 124825.

7. Hart, S. L. (1995). A natural-resource-based view of the firm, Academy of Management Review, 20(4), 986-1014.

8. Le, T. T., Phan Vo Nhu, Q., Bui Ngoc Bao, T., Vu Nguyen Thao, L., & Pereira, V. (2024). Digitalisation driving sustainable corporate performance: The mediation of green innovation and green supply chain management, Journal of Cleaner Production, 446, 141290.

9. Li, J., Chen, X., & Wan, L. (2025). Is digital transformation boosting green innovation in logistics enterprises? Evidence from listed firms in China’s logistics industry, Journal of University of Science and Technology of China, 55(1), 0102.

10. Liu, Y., & Wang, H. (2025). Customer digitalization and supplier greenwashing, Journal of Environmental Management, 393, 127142.

11. Luo, H., Yu, J., Mu, T., & Zhou, P. (2025). Spillover effects of enterprise digital transformation on supply chain carbon emissions: Evidence from China, Structural Change and Economic Dynamics, 75, 606-617.

12. Ma, J., Li, Q., Zhao, Q., Liou, J., & Li, C. (2024). From bytes to green: The impact of supply chain digitization on corporate green innovation, Energy Economics, 139, 107942.

13. Page, M. J., McKenzie, J. E., Bossuyt, P. M., et al. (2021). The PRISMA 2020 statement: An updated guideline for reporting systematic reviews, PLOS Medicine, 18(3), e1003583.

14. Qing, L., Shen, P., Nam, E.-Y., & Ma, X. (2025). Does supply chain digitalization improve corporate energy performance? A quasi-natural experiment from Chinese supply chain innovation and application pilot policy, Energy Economics, 147, 108567.

15. Shi, Z., & Fan, D. (2025). Dual mechanisms of digital transformation in sustaining green innovation: A supply chain perspective on capability-motivation dynamics, Sustainability, 17(20), 9005.

16. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance, Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350.

17. Verhoef, P. C., Broekhuizen, T., Bart, Y., et al. (2021). Digital transformation: A multidisciplinary reflection and research agenda, Journal of Business Research, 122, 889-901.

18. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda, The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144.

19. Wang, S., & Zhang, H. (2024). Inter-organizational cooperation in digital green supply chains: A catalyst for eco-innovations and sustainable business practices, Journal of Cleaner Production, 472, 143383.

20. Wang, T., Wang, P., & Sun, Z. (2026). Supply chain digitalization and corporate carbon emissions: A quasi-natural experiment based on pilot policies for supply chain innovation and application, Sustainability, 18(4), 1868.

21. Yu, L., Xu, J., & Yuan, X. (2024). Sustainable digital shifts in Chinese transport and logistics: Exploring green innovations and their ESG implications, Sustainability, 16(5), 1877.

Ngày nhận bài: 20/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 1/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.
Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Phân định chủ thể và đại lý theo IFRS 15 trong ghi nhận doanh thu tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Doanh nghiệp logistics thường đứng ra giao dịch với khách hàng nhưng thuê lại các bên thứ ba thực hiện từng chặng dịch vụ lẻ. Mô hình này phát sinh bài toán phức tạp trong việc xác định vai trò Principal (Chủ thể) hay Agent (Đại lý).
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên Công ty TNHH Xe nâng Bình Minh

Sự gắn kết của nhân viên là một nội dung quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực vì nó liên quan đến mức độ người lao động chủ động đầu tư năng lượng, tâm lý và nỗ lực vào công việc.