Tác động của đổi mới xanh và năng lực chuyển đổi số đến lợi thế cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp ngành bao bì Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:53 | 21/08/2026
Ngành bao bì đang chịu sức ép đồng thời từ yêu cầu giảm chất thải, tiết kiệm tài nguyên, truy xuất nguồn gốc, cá thể hóa sản phẩm và rút ngắn thời gian giao hàng. Vì vậy, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không còn chỉ dựa trên giá và quy mô sản xuất, mà phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng kết hợp đổi mới xanh với chuyển đổi số.

ThS. Bùi Văn Vinh

Công ty TNHH SAKATA INX Việt Nam; Email: [email protected]

ThS. Lê Xuân Phong

Công ty Cổ Phần FTI Sài Gòn; Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích tác động của đổi mới xanh và năng lực chuyển đổi số đến lợi thế cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp bao bì tại Việt Nam, với vai trò trung gian của năng lực động. Dữ liệu được thu thập từ 202 cán bộ quản lý từ cấp phó phòng trở lên. Kết quả cho thấy, Đổi mới xanh tác động tích cực đến Năng lực động và Lợi thế cạnh tranh bền vững; Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Năng lực động nhưng không có tác động trực tiếp có ý nghĩa đến Lợi thế cạnh tranh bền vững. Năng lực động đóng vai trò trung gian bổ sung đối với Đổi mới xanh và trung gian gián tiếp duy nhất đối với Năng lực chuyển đổi số, qua đó làm rõ cơ chế chuyển hóa nguồn lực xanh và số thành lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Từ khóa: Đổi mới xanh, năng lực chuyển đổi số, năng lực động, doanh nghiệp bao bì

Abstract

This study analyzes the effects of green innovation and digital transformation capability on the sustainable competitive advantage of packaging enterprises in Viet Nam, with dynamic capabilities mediating the relationship. Data were collected from 202 managerial employees at the deputy department head level and above. The results show that green innovation has positive effects on both dynamic capabilities and sustainable competitive advantage, while digital transformation capability has a positive effect on dynamic capabilities but no statistically significant direct effect on sustainable competitive advantage. Dynamic capabilities play a complementary mediating role in the relationship between green innovation and sustainable competitive advantage and serve as the sole indirect mediator in the relationship between digital transformation capability and sustainable competitive advantage, thereby clarifying the mechanism through which green and digital resources are transformed into long-term competitive advantage.

Keywords: Green innovation, digital transformation capability, dynamic capabilities, packaging enterprises

GIỚI THIỆU

Ngành bao bì đang chịu sức ép đồng thời từ yêu cầu giảm chất thải, tiết kiệm tài nguyên, truy xuất nguồn gốc, cá thể hóa sản phẩm và rút ngắn thời gian giao hàng. Vì vậy, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không còn chỉ dựa trên giá và quy mô sản xuất, mà phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng kết hợp đổi mới xanh với chuyển đổi số. Đổi mới xanh giúp doanh nghiệp cải tiến vật liệu, thiết kế và quy trình nhằm giảm tác động môi trường; năng lực chuyển đổi số giúp tích hợp dữ liệu, công nghệ và kỹ năng số vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Theo Quan điểm nguồn lực, lợi thế cạnh tranh bền vững hình thành khi doanh nghiệp sở hữu và tổ chức hiệu quả những nguồn lực có giá trị, khan hiếm và khó bắt chước (Barney, 1991). Trong môi trường biến động, Lý thuyết năng lực động bổ sung rằng doanh nghiệp phải liên tục nhận diện cơ hội, nắm bắt cơ hội và chuyển đổi cấu trúc nguồn lực (Teece, 2007). Nghiên cứu trước cho thấy đổi mới sản phẩm và quy trình xanh có liên hệ tích cực với lợi thế cạnh tranh (Chen và cộng sự, 2006), trong khi năng lực chuyển đổi số được hình thành từ kỹ năng số, cường độ số hóa và khả năng tham gia hệ sinh thái số (Sousa-Zomer và cộng sự, 2020). Tuy vậy, các dòng nghiên cứu này thường được xem xét riêng biệt, vai trò chuyển hóa của năng lực động trong ngành bao bì còn ít được kiểm định.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Nền tảng lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên Quan điểm dựa trên nguồn lực, Quan điểm dựa trên nguồn lực tự nhiên và Lý thuyết năng lực động. Theo Quan điểm dựa trên nguồn lực, lợi thế cạnh tranh bền vững hình thành khi doanh nghiệp sở hữu và khai thác hiệu quả những nguồn lực có giá trị, khan hiếm, khó bắt chước và khó thay thế (Barney, 1991). Theo Teece (2007), năng lực động cho phép doanh nghiệp nhận diện cơ hội và thách thức, nắm bắt cơ hội, đồng thời tái cấu hình nguồn lực để thích ứng với thay đổi. Kump và cộng sự (2019) cụ thể hóa năng lực động thành 3 thành phần gồm: năng lực nhận diện, năng lực nắm bắt và năng lực chuyển đổi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xem năng lực động là cơ chế tổ chức giúp doanh nghiệp chuyển hóa đổi mới xanh và năng lực chuyển đổi số thành lợi thế cạnh tranh có khả năng duy trì theo thời gian.

Đổi mới xanh và năng lực động

Đổi mới xanh bao gồm đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình nhằm giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Đổi mới sản phẩm xanh liên quan đến việc phát triển sản phẩm sử dụng ít nguyên vật liệu, ít gây ô nhiễm và có khả năng tái sử dụng hoặc tái chế cao hơn (Chen và cộng sự, 2006).

Đối với doanh nghiệp bao bì, thực hiện đổi mới xanh đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm kiếm vật liệu thay thế, cập nhật công nghệ, trao đổi tri thức với các bên liên quan và điều chỉnh quy trình sản xuất. Albort-Morant và cộng sự (2016) nhấn mạnh vai trò của học hỏi và năng lực tổ chức đối với kết quả đổi mới xanh. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1: Đổi mới xanh tác động tích cực đến Năng lực động của doanh nghiệp.

Năng lực chuyển đổi số và năng lực động

Năng lực chuyển đổi số phản ánh khả năng doanh nghiệp kết hợp chiến lược số, kỹ năng số, dữ liệu, cơ sở hạ tầng công nghệ và các điều kiện tổ chức để chuyển đổi hoạt động và phương thức tạo giá trị. Sousa-Zomer và cộng sự (2020) xác định kỹ năng số, mức độ ứng dụng công nghệ số và bối cảnh hỗ trợ hành động, tương tác là những nền tảng quan trọng của năng lực chuyển đổi số. Warner và Wäger (2019) cho rằng chuyển đổi số gắn với quá trình đổi mới chiến lược liên tục và sự hình thành các năng lực động. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H2: Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Năng lực động của doanh nghiệp.

Đổi mới xanh và lợi thế cạnh tranh bền vững

Trong ngành bao bì, đổi mới xanh có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm chất thải, nâng cao khả năng tái chế của sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu môi trường của khách hàng.

Chen và cộng sự (2006) cho thấy, đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có quan hệ tích cực với lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Các hoạt động này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn cải thiện hình ảnh môi trường, tạo sự khác biệt cho sản phẩm và mở rộng khả năng tiếp cận những khách hàng có yêu cầu cao về tiêu chuẩn xanh. Từ lập luận trên, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H3: Đổi mới xanh tác động tích cực đến Lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.

Năng lực chuyển đổi số và lợi thế cạnh tranh bền vững

Năng lực chuyển đổi số giúp doanh nghiệp sử dụng dữ liệu và công nghệ để cải thiện hiệu quả vận hành, chất lượng sản phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc và tốc độ phản ứng trước nhu cầu thị trường. Sousa-Zomer và cộng sự (2020) cho thấy, năng lực chuyển đổi số được hình thành từ sự kết hợp giữa nguồn nhân lực, công nghệ và bối cảnh tổ chức, đồng thời có ý nghĩa đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Theo Barney (1991), công nghệ phổ biến và dễ mua trên thị trường khó có thể tự thân tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Do đó, năng lực chuyển đổi số được kỳ vọng không chỉ nâng cao hiệu quả ngắn hạn mà còn giúp doanh nghiệp bao bì hình thành vị thế cạnh tranh khó bị đối thủ sao chép. Từ lập luận trên, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H4: Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.

Năng lực động và lợi thế cạnh tranh bền vững

Năng lực động là khả năng doanh nghiệp nhận diện những thay đổi của môi trường, huy động nguồn lực để khai thác cơ hội và tái cấu hình nguồn lực khi điều kiện cạnh tranh thay đổi (Teece, 2007). Kump và cộng sự (2019) phát triển thang đo năng lực động dựa trên 3 thành phần nhận diện, nắm bắt và chuyển đổi, qua đó nhấn mạnh khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp.

Trong ngành bao bì, lợi thế hiện tại có thể nhanh chóng suy giảm trước sự thay đổi của công nghệ, tiêu chuẩn môi trường, yêu cầu của khách hàng và đặc điểm vật liệu. Từ lập luận trên, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H5: Năng lực động tác động tích cực đến Lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.

Vai trò trung gian của năng lực động

Đổi mới xanh tạo ra tri thức, công nghệ và quy trình có giá trị đối với môi trường. Tuy nhiên, những kết quả này chưa tự động chuyển thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Doanh nghiệp cần nhận diện nhu cầu thị trường, huy động các nguồn lực bổ trợ và tái cấu hình hoạt động để thương mại hóa, mở rộng và liên tục cải tiến các sáng kiến xanh. Theo Teece (2007), đây chính là những chức năng cốt lõi của năng lực động. Từ lập luận trên, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H6: Năng lực động đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Đổi mới xanh và Lợi thế cạnh tranh bền vững.

Tương tự, năng lực chuyển đổi số cung cấp nền tảng công nghệ, dữ liệu và kết nối cho doanh nghiệp, nhưng việc đầu tư vào công nghệ chưa bảo đảm tạo ra lợi thế dài hạn. Doanh nghiệp cần sử dụng các nguồn lực số để nhận diện biến động, đưa ra quyết định, huy động nguồn lực và tái thiết kế quy trình kinh doanh. Từ lập luận trên, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H7: Năng lực động đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Năng lực chuyển đổi số và Lợi thế cạnh tranh bền vững.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu trên, mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đê xuất

Tác động của đổi mới xanh và năng lực chuyển đổi số đến lợi thế cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp ngành bao bì Việt Nam

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát các nhà quản lý giữ vị trí phó phòng tại 20 doanh nghiệp bao bì tiêu biểu đang hoạt động tại Việt Nam, gồm: Chinh Long Group, SCG Group, Ojitex Group, King Group, Quick Pack, Thuận Phát, Ngọc Diệp, HT Vina, Dynapac Group, Việt Hưng SG, Huhtamaki, Vina UC Group, Tín Thành (SCG), Tân Tiến Group, Bình Minh Group, IN Nông Nghiệp, Liksin Group, Namkyung, Accredo Asia và Takigawa. Cơ cấu gồm 41,1% doanh nghiệp bao bì giấy/carton, 36,6% bao bì nhựa và 22,3% nhóm kim loại, thủy tinh, composite hoặc loại khác. Có 78,7% doanh nghiệp dưới 200 lao động. Tất cả biến quan sát được đo bằng thang Likert 5 mức, từ 1 - Hoàn toàn không đồng ý, đến 5 - Hoàn toàn đồng ý.

Đổi mới xanh (GI) được đo bằng 4 biến phản ánh cải tiến vật liệu, thiết kế, tiết kiệm tài nguyên và giảm chất thải, kế thừa Chen và cộng sự (2006). Năng lực chuyển đổi số (DTC) gồm 4 biến: chiến lược số, kỹ năng số, tích hợp dữ liệu và khả năng triển khai công nghệ, dựa trên Sousa-Zomer và cộng sự (2020). Năng lực động (DC) gồm 4 biến đại diện cho nhận diện, nắm bắt và chuyển đổi, kế thừa của Kump và cộng sự (2019). Lợi thế cạnh tranh bền vững (SCA) gồm 4 biến về chi phí, khác biệt hóa, quan hệ khách hàng và khả năng khó bắt chước, dựa trên Barney (1991).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ số tải ngoài đều lớn hơn 0,70; Cronbach’s alpha và độ tin cậy tổng hợp đều vượt ngưỡng 0,70, trong khi AVE của các cấu trúc lớn hơn 0,50. Giá trị HTMT cao nhất thấp hơn 0,85, qua đó xác nhận độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các thang đo. Các giá trị VIF đều thấp hơn 3, cho thấy hiện tượng đa cộng tuyến không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả ước lượng.

Hình 2: Kiểm định PLS SEM

Tác động của đổi mới xanh và năng lực chuyển đổi số đến lợi thế cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp ngành bao bì Việt Nam

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Hình 2 cho thấy, mô hình giải thích được 39,8% biến thiên của Năng lực động và 35,3% biến thiên của Lợi thế cạnh tranh bền vững. Đổi mới xanh tác động tích cực đến Năng lực động (β = 0,283; p < 0,001) và Lợi thế cạnh tranh bền vững (β = 0,142; p = 0,038), do đó H1 và H3 được chấp nhận. Năng lực chuyển đổi số tác động tích cực đến Năng lực động (β = 0,476; p < 0,001), qua đó chấp nhận H2. Tuy nhiên, tác động trực tiếp của Năng lực chuyển đổi số đến Lợi thế cạnh tranh bền vững không có ý nghĩa thống kê (β = 0,126; p = 0,108), nên H4 không được chấp nhận. Năng lực động tác động tích cực và mạnh nhất đến Lợi thế cạnh tranh bền vững (β = 0,433; p < 0,001), qua đó chấp nhận H5.

Kết quả kiểm định tác động gián tiếp cho thấy, Đổi mới xanh ảnh hưởng tích cực đến Lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua Năng lực động (β ≈ 0,123; p < 0,001). Do tác động trực tiếp và gián tiếp đều có ý nghĩa và cùng chiều, Năng lực động đóng vai trò trung gian bổ sung, vì vậy H6 được chấp nhận. Tác động gián tiếp của Năng lực chuyển đổi số thông qua Năng lực động cũng có ý nghĩa (β ≈ 0,206; p < 0,001), trong khi tác động trực tiếp không có ý nghĩa. Kết quả này xác nhận cơ chế trung gian gián tiếp duy nhất, và H7 được chấp nhận.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, Đổi mới xanh tác động tích cực đến Năng lực động và Lợi thế cạnh tranh bền vững phù hợp với Quan điểm dựa trên nguồn lực tự nhiên. Theo đó Đổi mới xanh có thể tạo lợi thế về chi phí, khác biệt hóa và hình ảnh môi trường.

Năng lực chuyển đổi số tác động mạnh đến Năng lực động nhưng không tác động trực tiếp có ý nghĩa đến Lợi thế cạnh tranh bền vững. Kết quả này cho thấy, chiến lược số, kỹ năng số và tích hợp dữ liệu chủ yếu tạo giá trị thông qua việc nâng cao khả năng nhận diện cơ hội, phối hợp và tái cấu hình hoạt động. Việc sở hữu công nghệ đơn thuần chưa đủ tạo lợi thế dài hạn nếu công nghệ chưa được tích hợp với nguồn nhân lực, tri thức và quy trình đặc thù của doanh nghiệp.

Năng lực động là yếu tố tác động mạnh nhất đến Lợi thế cạnh tranh bền vững. Điều này khẳng định rằng các nguồn lực xanh và số chỉ tạo ra giá trị bền vững khi được chuyển hóa thành khả năng thích ứng và đổi mới tổ chức.

Hàm ý quản trị

Trên cơ sơ kết quả nghiên cứu trên, các doanh nghiệp bao bì cần tích hợp mục tiêu xanh và số trong cùng một chiến lược chuyển đổi. Trước hết, doanh nghiệp nên số hóa dữ liệu về nguyên vật liệu, năng lượng, phế phẩm và khả năng tái chế để phát hiện cơ hội cải tiến. Tiếp theo, cần thành lập các nhóm liên chức năng giữa sản xuất, nghiên cứu và phát triển, chất lượng, mua hàng, kinh doanh và công nghệ thông tin nhằm rút ngắn quá trình triển khai sáng kiến.

Tài liệu tham khảo:

1. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108

2. Chen, Y.-S., Lai, S.-B., & Wen, C.-T. (2006). The influence of green innovation performance on corporate advantage in Taiwan. Journal of Business Ethics, 67(4), 331-339. https://doi.org/10.1007/s10551-006-9025-5

3. Kump, B., Engelmann, A., Kessler, A., & Schweiger, C. (2019). Toward a dynamic capabilities scale: Measuring organizational sensing, seizing, and transforming capacities. Industrial and Corporate Change, 28(5), 1149-1172. https://doi.org/10.1093/icc/dty054

4. Sousa-Zomer, T. T., Neely, A., & Martinez, V. (2020). Digital transforming capability and performance: A microfoundational perspective. International Journal of Operations & Production Management, 40(7/8), 1095-1128. https://doi.org/10.1108/IJOPM-06-2019-0444

5. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of sustainable enterprise performance. Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350. https://doi.org/10.1002/smj.640

6. Warner, K. S. R., & Wäger, M. (2019). Building dynamic capabilities for digital transformation: An ongoing process of strategic renewal. Long Range Planning, 52(3), 326-349. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2018.12.001

Ngày nhận bài: 3/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/8/2026; Ngày duyệt đăng: 20/8/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.