Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu - Trao đổi 10:28 | 02/11/2026
Bằng chứng về tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả doanh nghiệp chưa thống nhất, một phần do đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có cơ chế tạo giá trị khác nhau. Bài viết phân tích tác động riêng của hai hình thức đổi mới này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng xanh.

ThS. Cao Thu Hà

Email: [email protected]

PGS, TS. Đào Duy Huân

Trường Đại học Tây Đô, thành phố Cần Thơ, Việt Nam

Tóm tắt

Đổi mới xanh giúp doanh nghiệp vừa đáp ứng yêu cầu về môi trường, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, bằng chứng về lợi ích kinh tế của đổi mới xanh chưa thống nhất. Một phần nguyên nhân là Đổi mới sản phẩm xanh và Đổi mới quy trình xanh thường được xem xét chung, dù 2 hình thức này tạo ra giá trị theo những cơ chế khác nhau. Bằng phương pháp tổng quan lý thuyết tích hợp, bài viết phân tích mối quan hệ giữa 2 hình thức đổi mới này với Hiệu quả tài chính và Hiệu quả phi tài chính của doanh nghiệp chế biến thực phẩm. Trên cơ sở quan điểm dựa trên tài nguyên thiên nhiên và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, bài viết phát triển 4 giả thuyết. Kết quả tổng quan cho thấy, Đổi mới sản phẩm xanh gắn nhiều hơn với sản phẩm, khách hàng và thị trường, trong khi Đổi mới quy trình xanh gắn với hiệu quả sử dụng nguồn lực và hoạt động sản xuất. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình làm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

Từ khóa: Doanh nghiệp chế biến thực phẩm, đổi mới quy trình xanh, đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới xanh

Abstract

Green innovation enables enterprises not only to meet environmental requirements but also to improve their operational performance. However, evidence regarding the economic benefits of green innovation remains inconclusive. One reason is that green product and green process innovation are often examined together, even though these two forms of innovation generate value through different mechanisms. Using an integrative theoretical review approach, this article analyzes the relationships of these two forms of innovation with the financial and non-financial performance of food processing enterprises. Drawing on the natural resource-based view and relevant empirical studies, the article develops four hypotheses. The review findings indicate that green product innovation is more closely associated with products, customers, and markets, whereas green process innovation is more closely associated with resource-use efficiency and production operations. On this basis, the article proposes a model to serve as a foundation for subsequent empirical research.

Keywords: Food processing enterprises, green process innovation, green product innovation, green innovation.

GIỚI THIỆU

Yêu cầu về giảm phát thải, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường đang làm thay đổi cách doanh nghiệp tiếp cận đổi mới. Ở Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định xanh hóa các ngành kinh tế và thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng bền vững là định hướng quan trọng (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Trong bối cảnh đó, đổi mới xanh ngày càng gắn với sử dụng nguồn lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ngành thực phẩm.

Xét về góc độ lý thuyết, Hart (1995) cho rằng, khả năng xử lý các vấn đề môi trường có thể góp phần hình thành nguồn lực và năng lực có giá trị cho doanh nghiệp. Porter và van der Linde (1995) cũng lập luận rằng, đổi mới giúp sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn có thể tạo lợi ích thông qua tiết kiệm đầu vào, giảm lãng phí hoặc gia tăng giá trị sản phẩm; tuy nhiên, lợi ích chỉ hình thành khi giá trị tạo ra đủ bù đắp chi phí đầu tư.

Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhìn chung có chiều hướng tích cực, nhưng mức độ và cơ chế tác động chưa thống nhất. Tang và cộng sự (2018) cho thấy, đổi mới xanh có thể cải thiện hiệu quả doanh nghiệp và nhấn mạnh vai trò của sự quan tâm đến môi trường từ phía nhà quản trị. Xie và cộng sự (2019) ghi nhận tác động tích cực của cả đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh đến hiệu quả tài chính, còn Wang và cộng sự (2021) phản ánh rằng, 2 hình thức này tạo ra hiệu quả kinh tế thông qua những cơ chế khác nhau. Phân tích tổng hợp của Zhao và cộng sự (2026) tiếp tục xác nhận quan hệ tích cực nhưng mức độ tác động thay đổi theo loại hình đổi mới và bối cảnh nghiên cứu.

Sự khác biệt giữa kết quả của các nghiên cứu có thể bắt nguồn từ cách xác định và đo lường khái niệm. Một số nghiên cứu xem đổi mới xanh là một khái niệm tổng thể, trong khi đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có đối tượng tác động và cơ chế tạo giá trị khác nhau. Đổi mới sản phẩm xanh gắn trực tiếp hơn với sản phẩm, khách hàng và thị trường; đổi mới quy trình xanh chủ yếu liên quan đến công nghệ, sử dụng nguồn lực và tổ chức sản xuất. Tương tự, hiệu quả hoạt động có thể được đo bằng các chỉ tiêu tài chính hoặc phi tài chính. Vì vậy, việc phân loại hình thức đổi mới và đo lường hiệu quả theo những cách khác nhau có thể góp phần lý giải vì sao kết quả giữa các nghiên cứu chưa đồng nhất (Tang và cộng sự, 2018; Zhao và cộng sự, 2026).

Sự phân biệt này phù hợp với doanh nghiệp chế biến thực phẩm, nơi hiệu quả sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, nước, năng lượng, bảo quản và bao bì. Rabadán và cộng sự (2019) ghi nhận mối liên hệ giữa đổi mới sinh thái với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nông nghiệp - thực phẩm; Moreno-Mondéjar và cộng sự (2020) cũng cho thấy việc kết hợp đổi mới sản phẩm và quy trình sinh thái có liên hệ với tăng trưởng doanh số trong ngành thực phẩm và đồ uống.

Từ đó, bài viết đặt ra câu hỏi: đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính của doanh nghiệp chế biến thực phẩm thông qua những cơ chế nào? Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết và bằng chứng nghiên cứu trước, bài viết phát triển 4 mối quan hệ và đề xuất mô hình nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Quan điểm dựa trên tài nguyên thiên nhiên (NRBV) của Hart (1995) cho rằng, những thách thức từ môi trường có thể thúc đẩy doanh nghiệp hình thành năng lực tạo ra lợi thế cạnh tranh. Phòng ngừa ô nhiễm gần với đổi mới quy trình xanh vì nhấn mạnh giảm lãng phí và sử dụng tài nguyên hiệu quả; quản trị sản phẩm gần với đổi mới sản phẩm xanh vì xem xét tác động môi trường từ thiết kế và vòng đời sản phẩm. Porter và van der Linde (1995) bổ sung rằng, đổi mới môi trường có thể bù đắp chi phí khi giúp tiết kiệm đầu vào, nâng chất lượng hoặc tạo ra giá trị thị trường tốt hơn.

Chen và cộng sự (2006) phân biệt đổi mới xanh thành đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh. Đổi mới sản phẩm xanh là việc phát triển hoặc cải tiến sản phẩm nhằm giảm tác động bất lợi đến môi trường trong vòng đời; với chế biến thực phẩm, nội dung này có thể liên quan đến nguyên liệu, bao bì hoặc khả năng giảm lãng phí (Dangelico và Pujari, 2010). Đổi mới quy trình xanh tập trung vào công nghệ, thiết bị và cách tổ chức sản xuất nhằm sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và giảm tác động môi trường. Trong ngành chế biến thực phẩm, đó có thể là giảm hao hụt nguyên liệu, tiết kiệm nước và năng lượng, tận dụng phụ phẩm hoặc giảm phế phẩm. Hai hình thức đổi mới xanh có thể hỗ trợ lẫn nhau nhưng vẫn cần được xem xét riêng khi phân tích nguồn gốc giá trị.

Hiệu quả hoạt động được xem xét trên 2 phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính. Hiệu quả tài chính phản ánh doanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận, khả năng sinh lời và hiệu quả chi phí. Hiệu quả phi tài chính thể hiện qua chất lượng sản phẩm, quan hệ với khách hàng, vị thế thị trường, uy tín và hiệu quả vận hành (Dess và Robinson, 1984; Prieto và Revilla, 2006).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan lý thuyết tích hợp nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu về đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các công trình được lựa chọn tập trung vào cơ sở lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả doanh nghiệp, cùng các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính. Bài viết ưu tiên các công trình trong ngành thực phẩm, đồ uống và nông nghiệp - thực phẩm.

Trên cơ sở tổng hợp và đối chiếu các kết quả nghiên cứu trước, bài viết phát triển 4 giả thuyết về mối quan hệ giữa Đổi mới sản phẩm xanh, Đổi mới quy trình xanh với Hiệu quả tài chính và Hiệu quả phi tài chính, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho doanh nghiệp chế biến thực phẩm.

KẾT QUẢ TỔNG QUAN VÀ GIẢ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Đổi mới sản phẩm xanh và Hiệu quả tài chính

Đổi mới sản phẩm xanh có thể cải thiện hiệu quả tài chính khi những thay đổi về nguyên liệu, bao bì hoặc đặc tính sản phẩm tạo ra giá trị được thị trường chấp nhận. Những cải tiến này có thể giúp doanh nghiệp tạo sự khác biệt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng và mở rộng cơ hội thị trường. Lin và cộng sự (2013) ghi nhận mối quan hệ tích cực giữa đổi mới sản phẩm xanh và hiệu quả doanh nghiệp, trong khi Xie và cộng sự (2019) cho thấy hình thức đổi mới này có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. Đối với doanh nghiệp chế biến thực phẩm, các cải tiến về sản phẩm và bao bì còn có thể hỗ trợ nâng cao giá trị cảm nhận, duy trì khách hàng và cải thiện doanh thu khi phù hợp với nhu cầu thị trường. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H1: Đổi mới sản phẩm xanh có tác động tích cực đến Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp chế biến thực phẩm.

Đổi mới sản phẩm xanh và Hiệu quả phi tài chính

Giá trị của đổi mới sản phẩm xanh không chỉ thể hiện ở hiệu quả tài chính mà còn có thể xuất hiện thông qua hình ảnh doanh nghiệp và vị thế trên thị trường. Khi sản phẩm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về môi trường, doanh nghiệp có thể tạo được sự khác biệt và củng cố niềm tin của khách hàng. Chen và cộng sự (2006) cho thấy đổi mới xanh có liên hệ tích cực với lợi thế doanh nghiệp; Amores-Salvadó và cộng sự (2014) cũng chỉ ra vai trò của hình ảnh xanh trong mối quan hệ giữa đổi mới sản phẩm môi trường và hiệu quả hoạt động. Trong ngành chế biến thực phẩm, những thay đổi về bao bì, thành phần và đặc tính sản phẩm có thể góp phần nâng cao hình ảnh doanh nghiệp, duy trì khách hàng và củng cố vị thế thị trường. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2: Đổi mới sản phẩm xanh có tác động tích cực đến Hiệu quả phi tài chính của doanh nghiệp chế biến thực phẩm.

Đổi mới quy trình xanh và Hiệu quả tài chính

Đổi mới quy trình xanh giúp doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu, nước và năng lượng hiệu quả hơn. Đồng thời, nó giúp giảm hao hụt nguyên liệu, tỷ lệ phế phẩm và các chi phí vận hành, xử lý chất thải và đầu vào. Khi những cải tiến này làm tăng năng suất sử dụng nguồn lực, lợi ích môi trường có thể chuyển thành lợi ích kinh tế. Xie và cộng sự (2019) ghi nhận tác động tích cực của đổi mới quy trình xanh đến hiệu quả tài chính; Wang và cộng sự (2021) cũng cho thấy hình thức đổi mới này có thể cải thiện hiệu quả kinh tế thông qua nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong doanh nghiệp chế biến thực phẩm, nguyên liệu và năng lượng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành. Do đó, cải tiến quy trình có thể giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả tài chính, với điều kiện mức tiết kiệm đủ bù đắp chi phí đầu tư ban đầu. Vì vậy, bài viết đề xuất giả thuyết:

H3: Đổi mới quy trình xanh có tác động tích cực đến Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp chế biến thực phẩm.

Đổi mới quy trình xanh và Hiệu quả phi tài chính

Đổi mới quy trình xanh còn có thể cải thiện những kết quả liên quan đến chất lượng và hiệu quả vận hành thông qua giảm sai lỗi, ổn định quá trình sản xuất và nâng cao khả năng đáp ứng. Tang và cộng sự (2018) ghi nhận mối quan hệ tích cực giữa đổi mới quy trình xanh và hiệu quả doanh nghiệp, trong khi Bhatia (2021) cho thấy tác động đến hiệu quả vận hành có thể được truyền dẫn thông qua năng lực công nghệ và khả năng học hỏi của doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp chế biến thực phẩm, sự ổn định của quy trình có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, tỷ lệ sản phẩm không đạt yêu cầu và khả năng giao hàng. Vì vậy, đổi mới quy trình xanh có thể góp phần nâng cao chất lượng và năng lực vận hành của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H4: Đổi mới quy trình xanh có tác động tích cực đến Hiệu quả phi tài chính của doanh nghiệp chế biến thực phẩm.

Mô hình nghiên cứu đề xuất và thảo luận

Từ 4 giả thuyết trên, mô hình nghiên cứu đề xuất được thể hiện như Hình, gồm 2 hình thức đổi mới xanh là Đổi mới sản phẩm xanh và Đổi mới quy trình xanh, cùng 2 phương diện của hiệu quả hoạt động là Hiệu quả tài chính và Hiệu quả phi tài chính. Việc xem xét riêng 4 mối quan hệ giúp làm rõ cách mỗi hình thức đổi mới xanh gắn với từng phương diện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Kết quả tổng quan cho thấy, câu hỏi cần quan tâm không chỉ là đổi mới xanh có cải thiện hiệu quả doanh nghiệp hay không, mà còn là hình thức đổi mới nào tạo ra loại giá trị nào. Đổi mới sản phẩm xanh gần với thị trường và khách hàng, nên lợi ích thường gắn với sự khác biệt của sản phẩm. Đổi mới quy trình xanh tác động trực tiếp hơn đến hoạt động bên trong doanh nghiệp, thông qua tiết kiệm nguồn lực và nâng cao độ ổn định của sản xuất.

Việc phân biệt Hiệu quả tài chính với Hiệu quả phi tài chính cũng cho thấy lợi ích của đổi mới xanh có thể xuất hiện vào những thời điểm khác nhau. Sản phẩm mới có thể cải thiện hình ảnh hoặc giữ chân khách hàng trước khi làm tăng doanh thu; quy trình mới có thể nâng cao chất lượng và năng suất trước khi mức tiết kiệm được phản ánh đầy đủ vào lợi nhuận. Vì vậy, khi đánh giá đổi mới xanh cần xem xét đồng thời cả hai phương diện hiệu quả.

Mức độ chuyển hóa từ đổi mới xanh thành hiệu quả hoạt động còn phụ thuộc vào điều kiện quản trị và thị trường. Tang và cộng sự (2018) đề cập vai trò của mức độ quan tâm đến môi trường của nhà quản trị; Amores-Salvadó và cộng sự (2014) nhấn mạnh vai trò của hình ảnh xanh; Appiah và cộng sự (2025) cho thấy khả năng tổ chức và điều phối nguồn lực ảnh hưởng đến lợi ích tài chính mà doanh nghiệp thu được từ đổi mới quy trình xanh. Do đó, 4 giả thuyết trong mô hình nên được xem là các mối quan hệ nền tảng, cần tiếp tục được kiểm định.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Kết luận

Bài viết phân tích mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả hoạt động theo hướng tách Đổi mới sản phẩm xanh và Đổi mới quy trình xanh, đồng thời phân biệt Hiệu quả tài chính với Hiệu quả phi tài chính. Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy, Đổi mới sản phẩm xanh tạo ra giá trị chủ yếu thông qua sản phẩm và thị trường, trong khi Đổi mới quy trình xanh gắn nhiều hơn với hiệu quả sử dụng nguồn lực và hoạt động sản xuất.

Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất 4 mối quan hệ giữa 2 hình thức đổi mới xanh với 2 phương diện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm, làm cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

Hàm ý quản trị

Đối với đổi mới sản phẩm, doanh nghiệp chế biến thực phẩm cần theo dõi phản ứng của khách hàng, doanh thu từ sản phẩm mới và mức độ chấp nhận đối với thay đổi về bao bì, nguyên liệu hoặc thuộc tính sản phẩm. Một cải tiến có lợi cho môi trường nhưng không tạo ra giá trị mà khách hàng nhận biết sẽ khó chuyển thành hiệu quả kinh doanh.

Với đổi mới quy trình, việc đánh giá nên tập trung vào lượng nguyên liệu tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm, mức sử dụng nước và năng lượng, tỷ lệ hao hụt, lượng phế phẩm, độ ổn định của quy trình và chi phí sản xuất. Do lợi ích của đổi mới quy trình thường có độ trễ, doanh nghiệp cần kết hợp chỉ tiêu tài chính với hiệu quả về chất lượng và vận hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan lý thuyết tích hợp nên không nhằm bao quát toàn bộ các nghiên cứu đã công bố. Bằng chứng riêng cho doanh nghiệp chế biến thực phẩm vẫn ít hơn so với lĩnh vực sản xuất nói chung; vì vậy, mô hình đề xuất chủ yếu tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong ngành.

Các nghiên cứu tiếp theo có thể kiểm định 4 mối quan hệ trong mô hình, sau đó xem xét khả năng bổ trợ giữa 2 hình thức đổi mới, độ trễ của hiệu quả tài chính và vai trò của đặc điểm doanh nghiệp hoặc môi trường kinh doanh. Những mở rộng này sẽ giúp giải thích rõ hơn điều kiện để đổi mới xanh chuyển thành hiệu quả hoạt động.

Tài liệu tham khảo:

1. Amores-Salvadó, J., Martín-de Castro, G., & Navas-López, J. E. (2014). Green corporate image: Moderating the connection between environmental product innovation and firm performance. Journal of Cleaner Production, 83, 356-365. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2014.07.059

2. Appiah, L. O., Essuman, D., Forson, C. A., Boso, N., & Annan, J. (2025). Green process innovation and financial performance in small and medium-sized enterprises in a developing country: Role of resource orchestration. Journal of Business Research, 189, 115210. https://doi.org/10.1016/j.jbusres.2025.115210

3. Bhatia, M. S. (2021). Green process innovation and operational performance: The role of proactive environment strategy, technological capabilities, and organizational learning. Business Strategy and the Environment, 30(7), 2845-2857. https://doi.org/10.1002/bse.2775

4. Chen, Y.-S., Lai, S.-B., & Wen, C.-T. (2006). The influence of green innovation performance on corporate advantage in Taiwan. Journal of Business Ethics, 67(4), 331-339. https://doi.org/10.1007/s10551-006-9025-5

5. Dangelico, R. M., & Pujari, D. (2010). Mainstreaming green product innovation: Why and how companies integrate environmental sustainability. Journal of Business Ethics, 95(3), 471-486. https://doi.org/10.1007/s10551-010-0434-0

6. Dess, G. G., & Robinson, R. B., Jr. (1984). Measuring organizational performance in the absence of objective measures: The case of the privately-held firm and conglomerate business unit. Strategic Management Journal, 5(3), 265-273. https://doi.org/10.1002/smj.4250050306

7. Hart, S. L. (1995). A natural-resource-based view of the firm. Academy of Management Review, 20(4), 986-1014. https://doi.org/10.5465/amr.1995.9512280033

8. Lin, R.-J., Tan, K.-H., & Geng, Y. (2013). Market demand, green product innovation, and firm performance: Evidence from Vietnam motorcycle industry. Journal of Cleaner Production, 40, 101-107. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2012.01.001

9. Moreno-Mondéjar, L., Triguero, Á., & Sáez-Martínez, F. J. (2020). Successful eco-innovators: Exploring the association between open inbound knowledge strategies and the performance of eco-innovative firms. Business Strategy and the Environment, 29(3), 939-953. https://doi.org/10.1002/bse.2408

10. Porter, M. E., & van der Linde, C. (1995). Toward a new conception of the environment-competitiveness relationship. Journal of Economic Perspectives, 9(4), 97-118. https://doi.org/10.1257/jep.9.4.97

11. Prieto, I. M., & Revilla, E. (2006). Assessing the impact of learning capability on business performance: Empirical evidence from Spain. Management Learning, 37(4), 499-522. https://doi.org/10.1177/1350507606070222

12. Rabadán, A., González-Moreno, Á., & Sáez-Martínez, F. J. (2019). Improving firms’ performance and sustainability: The case of eco-innovation in the agri-food industry. Sustainability, 11(20), 5590. https://doi.org/10.3390/su11205590

13. Tang, M., Walsh, G., Lerner, D., Fitza, M. A., & Li, Q. (2018). Green innovation, managerial concern and firm performance: An empirical study. Business Strategy and the Environment, 27(1), 39-51. https://doi.org/10.1002/bse.1981

14. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050.

15. Wang, M., Li, Y., Li, J., & Wang, Z. (2021). Green process innovation, green product innovation and its economic performance improvement paths: A survey and structural model. Journal of Environmental Management, 297, 113282. https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2021.113282

16. Xie, X., Huo, J., & Zou, H. (2019). Green process innovation, green product innovation, and corporate financial performance: A content analysis method. Journal of Business Research, 101, 697-706. https://doi.org/10.1016/j.jbusres.2019.01.010

17. Zhao, F., Li, M., Xie, X., & He, L. (2026). Green product and process innovation and firm performance: A meta-analytic review. Sustainability, 18(3), 1640. https://doi.org/10.3390/su18031640

Ngày nhận bài: 7/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 19/10/2026; Ngày duyệt đăng: 2/11/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa.
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

TikTok Shop nổi lên như một mô hình thương mại điện tử tích hợp giải trí, nơi người tiêu dùng vừa tiếp nhận nội dung video ngắn vừa có thể thực hiện thao tác mua hàng ngay trên cùng một nền tảng; khác với các sàn thương mại điện tử truyền thống.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Trong quản trị y tế ngày nay, sự hài lòng của người bệnh không chỉ là phản ứng sau sử dụng dịch vụ mà còn là chỉ báo phản ánh chất lượng vận hành, mức độ lấy người bệnh làm trung tâm và khả năng duy trì niềm tin.
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiêu dùng bền vững ngày càng được quan tâm tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xanh nhập khẩu.
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Sơn Trà sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan và đa dạng sinh học, tạo tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên.
Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Công nghệ khép kín góp phần tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc.