Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Nghiên cứu - Trao đổi 10:20 | 02/11/2026
Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết.

TS. Nguyễn Thị Oanh

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích bước chuyển căn bản trong tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội, đặc biệt nhấn mạnh tinh thần Văn kiện Đại hội XIV. Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu làm rõ nội hàm của 4 không gian phát triển mới bao gồm: Không gian số, Không gian biển, Không gian đổi mới sáng tạo và Không gian liên kết vùng. Đồng thời, đề xuất các nhóm giải pháp then chốt nhằm kiến tạo và khai thác hiệu quả những không gian này, bao gồm: chuyển từ quản lý nguồn lực sang kiến tạo không gian phát triển, hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ sinh thái phát triển và đổi mới quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu/thời gian thực. Đây là nền tảng quan trọng giúp mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao năng suất quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Từ khóa: Mô hình tăng trưởng, Văn kiện Đại hội XIV, không gian phát triển mới, không gian số, kinh tế biển

Abstract

This study examines the fundamental shift in the Communist Party of Viet Nam’s thinking on growth model innovation across its National Congresses, with particular emphasis on the spirit of the Documents of the 14th National Congress. As traditional resources, such as capital, low-cost labor, and natural resources, gradually approach their limits, shifting from a mindset of “expanding resources” to one of “expanding development space” has become an urgent imperative. The study clarifies the substance of four new development spaces: digital, maritime, innovation, and regional connectivity. It also proposes key groups of solutions to create and effectively leverage these spaces, including shifting from resource management to enabling development spaces, improving institutions, building development ecosystems, and reforming national governance based on real-time data. These efforts provide an important foundation for expanding growth potential, enhancing national productivity, and realizing the goal of making Viet Nam a developed, high-income country by 2045.

Keywords: Growth model, Documents of the 14th National Congress, new development spaces, digital space, marine economy

TỪ MỞ RỘNG NGUỒN LỰC ĐẾN MỞ RỘNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN: BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG CỦA ĐẢNG

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, thay đổi mô hình tăng trưởng luôn gắn với những bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển. Nếu ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc huy động và mở rộng các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên, thì ở giai đoạn phát triển cao hơn, động lực tăng trưởng ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo lập những không gian phát triển mới, nơi các nguồn lực được tái cấu trúc, kết nối và khai thác theo phương thức mới. Xu hướng này ngày càng rõ nét trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và cạnh tranh quốc tế gia tăng.

Tư duy của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng từng bước được bổ sung và phát triển qua các kỳ Đại hội XI, XII, XIII và XIV. Đại hội XI đánh dấu bước khởi đầu khi xác định yêu cầu “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế”, hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Văn kiện cũng chỉ ra những hạn chế của mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn đầu tư, tài nguyên và lao động giá rẻ, trong khi đóng góp của khoa học, công nghệ và năng suất lao động còn hạn chế.

Đến Đại hội XII, tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng được phát triển theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng hơn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) được xác định là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tăng trưởng. Điều này thể hiện sự chuyển dịch từ việc mở rộng quy mô đầu vào sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đại hội XIII tiếp tục tạo bước chuyển quan trọng khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy khai thác nguồn lực sang tư duy kiến tạo các động lực tăng trưởng mới.

Đến Đại hội XIV, tư duy này được phát triển lên một bước mới khi nhấn mạnh yêu cầu “thúc đẩy mạnh mẽ và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời tạo thuận lợi, khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới”. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), kinh tế số, kinh tế xanh và các chuỗi giá trị toàn cầu thế hệ mới phát triển nhanh, yêu cầu đặt ra không chỉ là sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có mà còn phải tạo lập những không gian phát triển mới.

Thực tiễn cho thấy, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào các yếu tố đầu vào truyền thống đang bộc lộ giới hạn. Dư địa mở rộng vốn đầu tư không còn lớn như trước; lợi thế lao động giá rẻ suy giảm do quá trình già hóa dân số; trong khi việc khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng chịu những ràng buộc về môi trường và yêu cầu phát triển xanh.

Vì vậy, “không gian phát triển” cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ không gian địa lý mà còn có không gian số, không gian đổi mới sáng tạo, không gian biển, không gian dữ liệu và không gian liên kết vùng. Đây là tổng thể các điều kiện về thể chế, hạ tầng, công nghệ, nguồn lực và mạng lưới liên kết cho phép các chủ thể kinh tế tạo ra giá trị mới vượt ra ngoài những giới hạn truyền thống của lãnh thổ.

Từ góc độ này, việc chuyển từ tư duy mở rộng nguồn lực sang tư duy mở rộng không gian phát triển là một bước phát triển mới trong nhận thức về mô hình tăng trưởng. Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu rà soát, điều chỉnh quy hoạch quốc gia, quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch tỉnh phù hợp với không gian phát triển mới.

Có thể khẳng định, việc mở rộng không gian phát triển sẽ tạo ra những nguồn lực, động lực và lợi thế cạnh tranh mới, qua đó nâng cao năng suất quốc gia và tạo nền tảng để Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

CÁC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN SỐ THEO TINH THẦN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV

Không gian số - động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế tri thức

Không gian số là một trong những không gian phát triển có tính đột phá nhất trong mô hình tăng trưởng mới. Trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng trở thành một nguồn lực sản xuất quan trọng bên cạnh vốn, lao động và đất đai. Giá trị kinh tế không còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự hiện diện vật lý mà ngày càng được tạo ra thông qua dữ liệu, công nghệ và các nền tảng số.

Công nghệ số làm giảm đáng kể giới hạn địa lý của hoạt động kinh tế. Doanh nghiệp có thể cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho thị trường toàn cầu thông qua nền tảng số mà không nhất thiết phải hiện diện trực tiếp tại thị trường đó. Điều này tạo ra không gian phát triển mới, trong đó quy mô kinh tế không còn bị giới hạn bởi diện tích lãnh thổ hay quy mô dân số.

Việc phát triển không gian số đồng thời mở rộng cơ hội cho các ngành có giá trị gia tăng cao như AI, Big Data, điện toán đám mây, an ninh mạng, công nghệ tài chính, thương mại điện tử và công nghiệp bán dẫn. Vì vậy, chuyển đổi số cần được nhìn nhận không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, hình thành các thị trường, chuỗi giá trị và mô hình kinh doanh mới.

Không gian biển - không gian phát triển chiến lược

Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng một triệu km² và vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, biển là một không gian phát triển có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam.

Khai thác không gian biển hiện nay không còn giới hạn ở đánh bắt thủy sản, dầu khí hay vận tải biển mà đang mở rộng sang năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics biển, dịch vụ hàng hải quốc tế, công nghiệp đóng tàu, nuôi biển công nghệ cao và kinh tế biển xanh.

Điểm cốt lõi của tư duy mới là chuyển từ khai thác tài nguyên biển sang tạo ra giá trị gia tăng từ không gian biển. Điều này đòi hỏi phát triển đồng bộ hệ thống cảng biển, logistics, khu công nghiệp ven biển, đô thị biển, năng lượng tái tạo và các dịch vụ kinh tế biển.

Phát triển không gian biển không chỉ tạo động lực kinh tế mà còn góp phần nâng cao vị thế địa kinh tế của Việt Nam trong các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, đồng thời góp phần bảo đảm tự chủ chiến lược quốc gia.

Không gian đổi mới sáng tạo - nền tảng của nền kinh tế tri thức

Nếu không gian số tạo ra phương thức phát triển mới, thì không gian đổi mới sáng tạo tạo ra các nguồn lực phát triển mới. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực sáng tạo ngày càng giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng.

Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ mô hình gia công, lắp ráp sang các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Để thực hiện quá trình này, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, Nhà nước và các quỹ đầu tư.

Không gian đổi mới sáng tạo cần bao gồm các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ, trường đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Mục tiêu không chỉ là tạo ra nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp mà quan trọng hơn là hình thành các doanh nghiệp công nghệ có khả năng làm chủ công nghệ lõi và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Không gian liên kết vùng - tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia

Một hạn chế của mô hình phát triển truyền thống là tổ chức phát triển chủ yếu theo địa giới hành chính. Điều này có thể dẫn đến phân tán nguồn lực, đầu tư dàn trải và hạn chế khả năng bổ sung lợi thế giữa các địa phương.

Trong bối cảnh mới, phát triển vùng cần dựa nhiều hơn vào không gian kinh tế thay vì chỉ dựa trên không gian hành chính. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát huy các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế và nâng cao hiệu quả liên kết vùng.

Liên kết vùng cho phép các địa phương bổ sung lợi thế cho nhau, cùng tham gia vào các chuỗi giá trị quy mô lớn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Hạ tầng số cũng tạo điều kiện để kết nối dữ liệu, thị trường lao động, đổi mới sáng tạo và logistics giữa các địa phương với chi phí thấp hơn.

Do đó, không gian liên kết vùng không chỉ là mở rộng phạm vi địa lý mà còn bao gồm kết nối về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và chuỗi giá trị. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các cực tăng trưởng mới và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Bốn không gian phát triển gồm: không gian số, không gian biển, không gian đổi mới sáng tạo và không gian liên kết vùng có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Không gian số tạo động lực công nghệ; không gian biển tạo lợi thế địa kinh tế; không gian đổi mới sáng tạo tạo nguồn lực tri thức; còn không gian liên kết vùng tạo cơ chế phân bổ và kết nối nguồn lực hiệu quả.

KIẾN TẠO VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI NHẰM HIỆN THỰC HÓA MỤC TIÊU TRỞ THÀNH NƯỚC PHÁT TRIỂN CÓ THU NHẬP CAO VÀO NĂM 2045

Sự hình thành các không gian phát triển mới không đơn thuần là việc bổ sung các lĩnh vực kinh tế mới, mà phản ánh sự chuyển dịch căn bản trong mô hình tăng trưởng và mô hình phát triển quốc gia. Động lực phát triển ngày càng phụ thuộc vào khả năng kiến tạo tri thức, dữ liệu, công nghệ, kết nối và giá trị gia tăng. Do đó, các công cụ quản lý và phương thức điều hành truyền thống cần được đổi mới theo hướng chuyển từ quản lý nguồn lực sang kiến tạo không gian phát triển. Cụ thể:

Chuyển từ quản lý nguồn lực sang kiến tạo không gian phát triển

Trong nền kinh tế số và kinh tế tri thức, nhiều nguồn lực quan trọng như dữ liệu, tri thức, công nghệ và mạng lưới kết nối không nằm hoàn toàn trong phạm vi kiểm soát trực tiếp của Nhà nước. Vì vậy, vai trò của Nhà nước cần chuyển mạnh từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo môi trường để các nguồn lực mới được hình thành, kết nối và phát triển.

Thể chế phải trở thành công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, liên kết vùng và phát triển các ngành kinh tế mới. Đặc biệt, trước tốc độ phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, kinh tế nền tảng và công nghệ tài chính, thể chế cần có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi công nghệ.

Hoàn thiện thể chế cho các không gian phát triển mới

Đối với không gian số, cần xây dựng hệ thống thể chế dữ liệu hiện đại, bao gồm các quy định về sở hữu, chia sẻ, bảo vệ và khai thác dữ liệu, đồng thời bảo đảm an ninh dữ liệu.

Đối với không gian biển, cần chuyển từ quản lý theo ngành và địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp không gian biển, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, năng lượng, quốc phòng và an ninh.

Đối với không gian liên kết vùng, cần đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền và điều phối phát triển vùng. Cơ chế điều phối phải đủ mạnh để huy động và phân bổ nguồn lực vượt qua giới hạn của từng địa phương, qua đó biến liên kết vùng thành một cấu phần quan trọng của thể chế phát triển quốc gia.

Hình thành các hệ sinh thái phát triển mới

Hệ sinh thái phát triển là điều kiện để các không gian phát triển mới vận hành hiệu quả. Trước hết, cần hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia với hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây, định danh số, cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Đối với đổi mới sáng tạo, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và Nhà nước. Trọng tâm là phát triển doanh nghiệp công nghệ có khả năng làm chủ công nghệ lõi, nâng cao năng lực nghiên cứu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.

Đối với kinh tế biển, cần hình thành hệ sinh thái kết nối cảng biển, trung tâm logistics, khu công nghiệp ven biển, đô thị biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và các cơ sở nghiên cứu biển.

Đối với liên kết vùng, cần xây dựng kết nối đồng bộ trên 3 phương diện: hạ tầng, dữ liệu và chuỗi giá trị. Trong đó, kết nối dữ liệu sẽ ngày càng trở thành yếu tố quan trọng đối với khả năng vận hành của các vùng kinh tế hiện đại.

Đổi mới quản trị quốc gia

Sự hình thành các không gian phát triển mới đòi hỏi đổi mới mô hình quản trị quốc gia. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược và hoạt động kinh tế ngày càng dựa trên nền tảng số, mô hình quản trị dựa chủ yếu vào báo cáo hành chính và phản ứng chậm sẽ không còn phù hợp. Quản trị quốc gia cần chuyển mạnh sang quản trị số, quản trị theo thời gian thực và quản trị dựa trên dữ liệu. Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà phải trở thành chủ thể kiến tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và điều phối hiệu quả các nguồn lực.

Trong quá trình này, doanh nghiệp cần trở thành lực lượng tiên phong trong khai thác dữ liệu, phát triển công nghệ và mở rộng các không gian kinh tế mới; Nhà nước tập trung vào kiến tạo thể chế, hạ tầng và môi trường kinh doanh thuận lợi.

KẾT LUẬN

Mở rộng không gian phát triển là bước phát triển mới trong tư duy về mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng vốn, lao động, hạ tầng và tài nguyên, thì trong giai đoạn mới, năng lực phát triển ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo lập những không gian mới dựa trên công nghệ, tri thức, dữ liệu, kết nối và đổi mới sáng tạo.

Bốn không gian phát triển gồm: Không gian số, Không gian biển, Không gian đổi mới sáng tạo và Không gian liên kết vùng có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Việc khai thác hiệu quả các không gian này sẽ góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa định hướng đó, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới thể chế, xây dựng các hệ sinh thái phát triển đồng bộ, tăng cường liên kết vùng, phát triển hạ tầng số và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Đồng thời, cần phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ, sáng tạo và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Như vậy, vấn đề cốt lõi trong giai đoạn tới không chỉ là Việt Nam có bao nhiêu nguồn lực, mà quan trọng hơn là có khả năng kiến tạo, kết nối và khai thác những không gian phát triển mới đến đâu. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để tạo ra động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương (2019). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018). Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật

Ngày nhận bài: 10/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2029; Ngày duyệt đăng: 29/10/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa.
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

TikTok Shop nổi lên như một mô hình thương mại điện tử tích hợp giải trí, nơi người tiêu dùng vừa tiếp nhận nội dung video ngắn vừa có thể thực hiện thao tác mua hàng ngay trên cùng một nền tảng; khác với các sàn thương mại điện tử truyền thống.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Trong quản trị y tế ngày nay, sự hài lòng của người bệnh không chỉ là phản ứng sau sử dụng dịch vụ mà còn là chỉ báo phản ánh chất lượng vận hành, mức độ lấy người bệnh làm trung tâm và khả năng duy trì niềm tin.
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Bằng chứng về tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả doanh nghiệp chưa thống nhất, một phần do đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có cơ chế tạo giá trị khác nhau. Bài viết phân tích tác động riêng của hai hình thức đổi mới này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng xanh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiêu dùng bền vững ngày càng được quan tâm tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xanh nhập khẩu.
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Sơn Trà sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan và đa dạng sinh học, tạo tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên.
Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Công nghệ khép kín góp phần tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc.