Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Nghiên cứu - Trao đổi 10:07 | 02/11/2026
Công nghệ khép kín góp phần tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc.

TS. Trần Đức Thuận

Trường Đại học Công Thương TP.HCM

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích sự cần thiết và khả năng triển khai mô hình ứng dụng công nghệ khép kín từ canh tác đến bảo quản sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị chuỗi nông sản tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh). Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu khoa học, chính sách phát triển nông nghiệp và phân tích điều kiện thực tế tại địa phương, nghiên cứu đánh giá những hạn chế trong sản xuất truyền thống, đặc biệt là tổn thất sau thu hoạch, thiếu liên kết chuỗi và khó khăn trong ứng dụng công nghệ. Qua đó, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp về chuyển giao công nghệ, xây dựng hạ tầng bảo quản dùng chung, phát triển kinh tế tuần hoàn và tăng cường liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan khoa học nhằm hình thành chuỗi giá trị nông sản bền vững tại xã Châu Pha.

Từ khóa: Công nghệ sau thu hoạch, nông nghiệp thông minh, chuỗi giá trị nông sản, chuyển đổi số, xã Châu Pha

Abstract

This study analyzes the necessity and feasibility of implementing an integrated technology model covering the entire process from cultivation to post-harvest storage to enhance the value of the agricultural supply chain in Chau Pha Commune. Based on a review of scientific literature and agricultural development policies, along with an analysis of local conditions, the study assesses the limitations of traditional production, particularly post-harvest losses, weak supply chain linkages, and difficulties in adopting technology. Accordingly, the study proposes groups of solutions involving technology transfer, the development of shared storage infrastructure, the promotion of a circular economy, and stronger linkages among cooperatives, enterprises, and scientific institutions to establish a sustainable agricultural value chain in Chau Pha Commune.

Keywords: Post-harvest technology, smart agriculture, agricultural value chain, cold storage, digital transformation, Chau Pha Commune

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nông nghiệp Việt Nam đang trải qua một bước chuyển dịch mang tính chiến lược, dịch chuyển mạnh mẽ từ tư duy tăng trưởng dựa trên sản lượng sang phát triển dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng (Trang Nguyễn, 2026). Dù đóng vai trò là 1 trong 10 quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với kim ngạch năm 2025 đạt mốc 70,09 tỷ USD, cấu trúc ngành nông nghiệp nội địa vẫn bộc lộ những điểm nghẽn cố hữu ở các mắt xích sau thu hoạch (Kim Nhung, 2025; Lưu Niệm, 2026). Hiện trạng hơn 70% sản lượng nông sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn tồn tại dưới dạng thô hoặc sơ chế tối thiểu, dẫn đến biên lợi nhuận thấp và năng lực cạnh tranh hạn chế (Gia Hân, 2025).

Tại vùng Đông Nam Bộ, xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh) là một địa bàn sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nằm trong hành lang cung ứng nông sản an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP cho thị trường tiêu thụ trọng điểm là TP. Hồ Chí Minh (Minh Huy, 2026; Ngọc Anh, 2026). Theo Kế hoạch số 207/KH-UBND (UBND xã Châu Pha, 2026), địa phương đang nỗ lực thực hiện đột phá chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (Bộ Chính trị, 2024). Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đưa nông sản xâm nhập sâu vào các chuỗi bán lẻ hiện đại có yêu cầu khắt khe như hệ thống siêu thị Co.opmart hay Bách Hóa Xanh, việc thay đổi phương thức canh tác truyền thống manh mún và tháo gỡ các điểm nghẽn trong khâu bảo quản sau thu hoạch là yêu cầu bắt buộc, mang tính sống còn.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu hướng đến phân tích thực trạng sản xuất, ứng dụng công nghệ và tổ chức chuỗi giá trị nông sản tại xã Châu Pha, qua đó xác định những khâu cần ưu tiên hoàn thiện và đề xuất giải pháp ứng dụng công nghệ khép kín phù hợp với điều kiện địa phương. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, tổng hợp số liệu và đối chiếu các mô hình ứng dụng công nghệ trong sản xuất, bảo quản và tiêu thụ nông sản. Do chưa có dữ liệu định lượng đầy đủ về tổn thất sau thu hoạch tại Châu Pha, các giải pháp được đề xuất theo hướng định hướng ứng dụng, cần tiếp tục được đánh giá về hiệu quả kỹ thuật và kinh tế trước khi nhân rộng.

THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG SẢN TẠI XÃ CHÂU PHA

Thực trạng quy mô và tổ chức sản xuất nông sản tại xã Châu Pha

Đến hết tháng 6/2026, sản xuất rau tại Châu Pha đã hình thành ở quy mô hàng hóa tương đối rõ với vai trò trung tâm của Hợp tác xã Sản xuất Nông nghiệp và Dịch vụ Châu Pha. Theo số liệu công bố tháng 5/2026, HTX có khoảng 60 thành viên, canh tác trên diện tích hơn 55 ha và cung ứng khoảng 10 tấn rau mỗi ngày. Sản phẩm được phân phối vào Bách Hóa Xanh, Aeon và các điểm bán rau an toàn (Hà Duyên, 2026). Đến ngày 25/6/2026, HTX được ghi nhận có 55 ha rau sạch đạt chuẩn VietGAP, trong đó khoảng 20 ha phục vụ sản xuất cho thị trường châu Âu; khối lượng rau gia vị xuất khẩu đạt khoảng 3 tấn mỗi tuần (Hương Giang, 2026).

Các số liệu trên cho thấy, Châu Pha đã có vùng sản xuất tương đối tập trung và một phần sản phẩm đã tham gia các kênh phân phối có yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, chuỗi giá trị tại địa phương không chỉ đặt ra yêu cầu đối với khâu canh tác, mà còn đối với khả năng kiểm soát chất lượng từ sau thu hoạch đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường.

Thực trạng ứng dụng công nghệ trong sản xuất

Công nghệ đã được ứng dụng trong hoạt động sản xuất thực tế của HTX Châu Pha. Đến tháng 6/2026, HTX sử dụng nhà màng, hệ thống tưới tự động và phần mềm quản lý sản xuất để kiểm soát chất lượng và phục vụ truy xuất nguồn gốc. Các thành viên đồng thời phải tuân thủ quy trình kỹ thuật và thực hiện ghi chép trong quá trình sản xuất (Hà Duyên, 2026; Hương Giang, 2026). Điều này cho thấy nền tảng công nghệ của Châu Pha đã được hình thành ở khâu sản xuất, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào phương thức canh tác truyền thống.

Nền tảng này cũng được hỗ trợ bởi các hoạt động chuyển giao khoa học và công nghệ trước đó. Dự án xây dựng mô hình chuỗi giá trị rau đạt chuẩn VietGAP tại Bà Rịa - Vũng Tàu đã hoàn thiện và chuyển giao các quy trình canh tác, sơ chế và đóng gói rau VietGAP cho các HTX tham gia, trong đó có HTX Châu Pha; riêng tại Châu Pha, 5 ha thuộc mô hình đã được đánh giá và chứng nhận VietGAP (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, 2025).

Thực trạng thu hoạch, sơ chế, vận chuyển và tổn thất sau thu hoạch

Chuỗi xử lý sau thu hoạch tại HTX Châu Pha hiện được tổ chức theo một khung thời gian tương đối cụ thể trong ngày. Rau được thu hoạch từ khoảng 10 giờ, bắt đầu sơ chế vào khoảng 14 giờ và khoảng 18 giờ được vận chuyển đến các hệ thống phân phối nhằm duy trì độ tươi và chất lượng sản phẩm (Hà Duyên, 2026). Với quy mô cung ứng khoảng 10 tấn rau mỗi ngày, hoạt động sơ chế và vận chuyển phải xử lý một lượng sản phẩm đáng kể trong thời gian ngắn sau khi thu hoạch.

Hạn chế về hạ tầng logistics chuyên dụng, đặc biệt là hệ thống bảo quản lạnh và cơ sở sơ chế sau thu hoạch, có thể làm gia tăng nguy cơ suy giảm chất lượng, dập nát và biến đổi sinh hóa của nông sản trong quá trình lưu thông (Ngọc Anh, 2026; Trang Nguyễn, 2026).

Đối với xã Châu Pha, yêu cầu duy trì độ tươi của rau trong quá trình vận chuyển đến thị trường TP. Hồ Chí Minh đặt ra nhu cầu hoàn thiện các khâu thu hoạch, sơ chế, đóng gói và bảo quản. Việc đánh giá tỷ lệ hao hụt tại từng công đoạn là cơ sở để xác định những khâu cần ưu tiên đầu tư, qua đó góp phần giảm tổn thất, tối ưu hóa chi phí và nâng cao giá trị nông sản. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ phù hợp trong sản xuất và sau thu hoạch có thể hỗ trợ cải thiện hiệu quả sử dụng đầu vào, giảm áp lực lao động và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường (Ngọc Anh, 2026; Quang Vũ và Đức Trung, 2026).

Thực trạng liên kết tiêu thụ và yêu cầu hoàn thiện chuỗi

Đầu ra của nông sản Châu Pha đã được mở rộng sang nhiều kênh khác nhau. Rau của HTX được phân phối tại Bách Hóa Xanh, Aeon và các điểm bán rau an toàn; đồng thời, một phần sản phẩm được tổ chức sản xuất để phục vụ xuất khẩu sang thị trường châu Âu (Hà Duyên, 2026; Hương Giang, 2026). Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chuỗi giá trị, nhưng đồng thời cũng làm tăng yêu cầu về tính đồng đều của sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng trong các khâu sau thu hoạch.

Về định hướng quản lý, Kế hoạch số 196/KH-UBND ngày 16/5/2026 xác định, Châu Pha là một trong các địa bàn phát triển vùng rau tập trung, rau được chứng nhận VietGAP/GlobalGAP và rau ứng dụng công nghệ cao của TP. Hồ Chí Minh. Kế hoạch đồng thời định hướng gắn sản xuất rau với truy xuất nguồn gốc, chế biến và thị trường tiêu thụ (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026).

Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra

Như vậy, Châu Pha đã hình thành nền tảng sản xuất rau hàng hóa, ứng dụng một số công nghệ canh tác và liên kết với các kênh tiêu thụ có yêu cầu về chất lượng. Tuy nhiên, mức độ kết nối giữa các khâu sản xuất, sơ chế, bảo quản, vận chuyển và truy xuất nguồn gốc chưa được làm rõ đầy đủ bằng dữ liệu. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là bổ sung thiết bị công nghệ mà còn là tổ chức các khâu thành một chuỗi liên thông, đồng thời xây dựng cơ chế theo dõi chất lượng và tổn thất sau thu hoạch để lựa chọn phương án đầu tư phù hợp.

Từ thực trạng trên, 3 vấn đề cần được ưu tiên giải quyết gồm: (i) nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giảm phụ thuộc vào lao động thủ công trong sản xuất; (ii) cải thiện điều kiện sơ chế, bảo quản và vận chuyển sau thu hoạch; (iii) tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị thông qua quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp. Đây là cơ sở để đề xuất các giải pháp ứng dụng công nghệ theo hướng khép kín, phù hợp với quy mô sản xuất và điều kiện triển khai tại xã Châu Pha.

GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ KHÉP KÍN TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG SẢN TẠI XÃ CHÂU PHA

Trên cơ sở những vấn đề được xác định từ thực trạng và tham khảo các mô hình ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, nghiên cứu đề xuất 3 nhóm giải pháp theo hướng ưu tiên công nghệ phù hợp với quy mô sản xuất, tăng cường bảo quản sau thu hoạch và kết nối các khâu trong chuỗi giá trị tại xã Châu Pha.

Một là, tăng cường ứng dụng công nghệ tưới tiêu tự động và dịch vụ drone dùng chung

Mô hình tại Hợp tác xã Dưa lưới An Farm cho thấy, hệ thống tưới nhỏ giọt tích hợp tự động hóa giúp kiểm soát lượng nước tưới và có thể góp phần giảm chi phí sản xuất với mức giảm 30% được ghi nhận tại mô hình này (Quang Vũ và Đức Trung, 2026). Đối với HTX Châu Pha, có thể xem xét mở rộng ứng dụng hệ thống tưới tự động và sử dụng chung dịch vụ drone phun thuốc bảo vệ thực vật phù hợp với điều kiện sản xuất. Các giải pháp này hướng đến nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, qua đó hỗ trợ nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo nền tảng cho việc hoàn thiện chuỗi giá trị nông sản.

Hai là, phát triển mô hình bảo quản lạnh dùng chung với chi phí phù hợp

Thay vì đầu tư ngay các kho lạnh quy mô lớn, HTX có thể nghiên cứu mô hình bảo quản lạnh dùng chung, trong đó xem xét giải pháp CoolBot kết hợp phòng bảo ôn phù hợp. Việc lựa chọn thiết bị, mức nhiệt độ và quy mô đầu tư cần căn cứ vào đặc tính của từng nhóm rau, sản lượng cần bảo quản, thời gian lưu trữ và chi phí vận hành thực tế. HTX có thể tổ chức thí điểm ở quy mô phù hợp để đánh giá hiệu quả bảo quản và tính khả thi về kinh tế trước khi mở rộng.

Ba là, thúc đẩy liên kết kinh tế tuần hoàn và số hóa chuỗi cung ứng

Tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp có sẵn tại địa phương (vỏ rau củ, phế phẩm chứa tinh bột, lá dứa...) ủ vi sinh làm phân bón hữu cơ sinh học giúp cải tạo đất và tối ưu chi phí phân bón (Quang Vũ và Đức Trung, 2026). Đồng thời, ứng dụng hệ thống ghi nhật ký canh tác điện tử thời gian thực qua mã QR nhằm tăng cường khả năng truy xuất nguồn gốc, hỗ trợ kiểm soát chất lượng và từng bước đáp ứng yêu cầu của các đơn vị thu mua như Bách Hóa Xanh và Co.opmart. Nhóm giải pháp này bổ trợ cho việc quản lý đầu vào, phụ phẩm và truy xuất nguồn gốc, qua đó tăng cường sự liên kết giữa sản xuất với yêu cầu của thị trường tiêu thụ.

Việc triển khai cần thực hiện theo lộ trình, bắt đầu từ khảo sát và ghi nhận dữ liệu về chi phí, chất lượng và tổn thất sau thu hoạch; tiếp đó thí điểm các giải pháp bảo quản và quản lý truy xuất nguồn gốc; sau khi đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế mới xem xét mở rộng các công nghệ phù hợp với quy mô sản xuất và nguồn lực của HTX.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, xã Châu Pha đã có nền tảng sản xuất rau hàng hóa, ứng dụng công nghệ canh tác và liên kết với các kênh tiêu thụ có yêu cầu về chất lượng. Tuy nhiên, việc hoàn thiện chuỗi giá trị cần chú trọng hơn đến sự kết nối giữa sản xuất, sơ chế, bảo quản, vận chuyển và truy xuất nguồn gốc. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp về tưới tiêu và cơ giới hóa, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế tuần hoàn và số hóa chuỗi cung ứng. Hiệu quả thực tế của các giải pháp cần được đánh giá thông qua dữ liệu về chi phí, tỷ lệ hao hụt, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Do nghiên cứu chủ yếu dựa trên tài liệu thứ cấp và chưa có dữ liệu định lượng đầy đủ về tổn thất sau thu hoạch tại địa phương, các giải pháp được đề xuất mang tính định hướng. Việc triển khai cần gắn với việc đánh giá điều kiện kỹ thuật, nguồn lực tài chính và hiệu quả kinh tế trước khi mở rộng quy mô.

Khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhằm phát huy lợi thế địa phương và thúc đẩy ứng dụng công nghệ khép kín trong chuỗi giá trị nông nghiệp tại xã Châu Pha, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị chính sách sau:

Đối với UBND xã Châu Pha

Rà soát các chương trình, chính sách và nguồn kinh phí hỗ trợ phù hợp để đề xuất bố trí nguồn lực cho các mô hình thí điểm ứng dụng công nghệ trong sản xuất và bảo quản nông sản, bảo đảm phù hợp với các quy định hiện hành.

Phối hợp chặt chẽ với Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh theo biên bản ký kết MOU để tiếp nhận, chuyển giao quy trình sấy lạnh, công nghệ màng sinh học và bao bì MAP phù hợp với thổ nhưỡng địa phương.

Đối với các định chế tài chính (các ngân hàng khu vực Phú Mỹ)

Nghiên cứu cơ chế tín dụng phù hợp, xem xét khả năng sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản bảo đảm theo quy định hiện hành. Việc chấp nhận tài sản bảo đảm còn phụ thuộc vào quy định và chính sách của tổ chức tín dụng (như hệ thống nhà màng, nhà kho thông minh IoT) nhằm hỗ trợ hợp tác xã và các hộ nông dân tiếp cận nguồn vốn dài hạn để đổi mới công nghệ.

Đối với HTX và các hộ sản xuất

Cần phối hợp ghi nhận sản lượng, chất lượng và tỷ lệ hao hụt ở từng công đoạn; tổ chức thử nghiệm công nghệ bảo quản trên quy mô phù hợp trước khi đầu tư mở rộng; đồng thời thống nhất quy trình sản xuất, sơ chế và truy xuất nguồn gốc với các đơn vị thu mua.

Đối với các doanh nghiệp bao tiêu đầu ra (Co.opmart, Bách Hóa Xanh)

Tăng cường hợp đồng liên kết tiêu thụ có cam kết về sản lượng, chất lượng, phương thức phân loại, giá thu mua và trách nhiệm của các bên, có tính cam kết bao tiêu dài hạn, đồng thời đưa ra bộ tiêu chuẩn phân loại kỹ thuật rõ ràng ngay từ đầu vụ để định hình tư duy sản xuất theo quy chuẩn cho người nông dân.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Gia Hân (2025). Đột phá công nghệ chế biến, bảo quản: Đòn bẩy giúp nông sản Việt “tăng tốc” đến chuỗi giá trị bền vững. https://congluan.vn/dot-pha-cong-nghe-che-bien-bao-quan-don-bay-giup-nong-san-viet-tang-toc-den-chuoi-gia-tri-ben-vung-post317402.html

3. Hà Duyên (2026). Chuỗi cung ứng nông sản an toàn: [Bài 1] Giữ chuẩn từ gốc. https://nongnghiepmoitruong.vn/chuoi-cung-ung-nong-san-an-toan-bai-1-giu-chuan-tu-goc-d808213.html

4. Hương Giang (2026). Nửa thế kỷ kiến tạo nền nông nghiệp công nghệ cao - Bài 1: Cuộc chuyển đổi chiến lược. https://baotintuc.vn/kinh-te/nua-the-ky-kien-tao-nen-nong-nghiep-cong-nghe-caobai-1-cuoc-chuyen-doi-chien-luoc-20260625114518105.htm

5. Kim Nhung (2025). Ứng dụng công nghệ bảo quản nông sản sau thu hoạch. https://thongke.cesti.gov.vn/an-pham-thong-ke/thong-tin-chuyen-de-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao/1386-ung-dung-cong-nghe-bao-quan-nong-san-sau-thu-hoach

6. Lưu Niệm (2026). Tăng giá trị công nghệ chế biến sâu nông sản theo hướng kinh tế tuần hoàn. https://baotintuc.vn/kinh-te/tang-gia-tri-cong-nghe-che-bien-sau-nong-san-theo-huong-kinh-te-tuan-hoan-20260508162210096.htm

7. Minh Huy (2026). TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu nâng tỷ trọng rau công nghệ cao lên 70%. https://vneconomy.vn/tp-ho-chi-minh-dat-muc-tieu-nang-ty-trong-rau-cong-nghe-cao-len-70.htm

8. Ngọc Anh (2026). Công nghệ chế biến, đóng gói và bảo quản tạo đòn bẩy nâng tầm nông sản Việt. https://www.doanhnghiepthuonghieu.vn/cong-nghe-che-bien-dong-goi-va-bao-quan-tao-don-bay-nang-tam-nong-san-viet1-p69870.html

9. Quang Vũ & Đức Trung (2026). Đổi đời nhờ trồng dưa lưới ứng dụng công nghệ cao. https://www.sggp.org.vn/doi-doi-nho-trong-dua-luoi-ung-dung-cong-nghe-cao-post856499.html

10. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2025). Nghiệm thu dự án SXTN “Xây dựng mô hình chuỗi giá trị rau đạt chuẩn VietGAP tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”. Thông tin Khoa học và Công nghệ, (136). https://sti.gov.vn/project/xay-dung-mo-hinh-chuoi-gia-tri-rau-dat-chuan-vietgap-tai-ba-ria-vung-tau-MTY1NjYx

11. Trang Nguyễn (2026). Công nghệ bảo quản sau thu hoạch nâng tầm nông sản Việt. https://tapchikinhtetaichinh.vn/cong-nghe-bao-quan-sau-thu-hoach-nang-tam-nong-san-viet-157615.html

12. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 196/KH-UBND ngày 16/5/2026 triển khai Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

13. UBND xã Châu Pha (2026). Kế hoạch số 207/KH-UBND ngày 16/6/2026 về tổ chức buổi tọa đàm chuyển giao khoa học công nghệ cho hợp tác xã và các hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã.

Ngày nhận bài: 19/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/9/2026; Ngày duyệt đăng: 24/10/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa.
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

TikTok Shop nổi lên như một mô hình thương mại điện tử tích hợp giải trí, nơi người tiêu dùng vừa tiếp nhận nội dung video ngắn vừa có thể thực hiện thao tác mua hàng ngay trên cùng một nền tảng; khác với các sàn thương mại điện tử truyền thống.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Trong quản trị y tế ngày nay, sự hài lòng của người bệnh không chỉ là phản ứng sau sử dụng dịch vụ mà còn là chỉ báo phản ánh chất lượng vận hành, mức độ lấy người bệnh làm trung tâm và khả năng duy trì niềm tin.
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Bằng chứng về tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả doanh nghiệp chưa thống nhất, một phần do đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có cơ chế tạo giá trị khác nhau. Bài viết phân tích tác động riêng của hai hình thức đổi mới này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng xanh.
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiêu dùng bền vững ngày càng được quan tâm tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xanh nhập khẩu.
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Sơn Trà sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan và đa dạng sinh học, tạo tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên.