Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
ThS. Võ Minh Hiệp
Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của thế hệ Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu khảo sát 300 người được phân tích bằng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ. Trong đó, Chất lượng nội dung xanh có tác động mạnh nhất đến Thái độ đối với sản phẩm xanh và Chuẩn mực xã hội. Thái độ và Chuẩn mực xã hội tác động tích cực đến Ý định mua sản phẩm xanh, với khả năng giải thích của mô hình đạt 67,5%. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông của người ảnh hưởng xanh và thúc đẩy ý định tiêu dùng xanh của Gen Z.
Từ khóa: Người ảnh hưởng xanh, ý định mua sản phẩm xanh, Gen Z, Thành phố Hồ Chí Minh
Abstract
This study examines the impact of green influencers on Generation Z’s purchase intention toward green products in Ho Chi Minh City. Survey data from 300 respondents were analyzed using partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM). The results indicate that the measurement scales meet the requirements for reliability and convergent validity. Among the factors examined, green content quality has the strongest effects on attitudes toward green products and subjective norms. Both attitudes and subjective norms positively influence green purchase intention, with the model explaining 67.5% of the variance. On this basis, the study proposes managerial implications to improve the communication effectiveness of green influencers and promote green consumption intentions among Generation Z.
Keywords: Greenfluencers, green purchase intention, Generation Z, Ho Chi Minh City
GIỚI THIỆU
Tiếp thị thông qua người có sức ảnh hưởng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động tiếp thị số. Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD (Influencer Marketing Hub, 2025). Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy người có sức ảnh hưởng xanh có khả năng tác động đến nhận thức, thái độ và quyết định tiêu dùng thân thiện với môi trường (Conte, 2025; Eldon và cộng sự, 2025; Brito de Silva và cộng sự, 2025). Tuy nhiên, cơ chế tác động của các đặc điểm người có sức ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh, đặc biệt thông qua thái độ và chuẩn mực xã hội của người tiêu dùng trẻ, cần tiếp tục được làm rõ.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích tác động của 5 đặc điểm người có sức ảnh hưởng xanh gồm tính chân thực, độ tin cậy, tính tương đồng, chất lượng nội dung xanh và mức độ tương tác, đến ý định mua sản phẩm xanh của thế hệ trẻ sinh từ năm 1997 đến năm 2012 tại TP. Hồ Chí Minh, thông qua vai trò trung gian của thái độ đối với sản phẩm xanh và chuẩn mực xã hội. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả tiếp thị thông qua người có sức ảnh hưởng xanh, góp phần thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Một số khái niệm
Sản phẩm xanh là những sản phẩm được thiết kế, sản xuất và sử dụng theo hướng giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường thông qua tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, hạn chế sử dụng chất độc hại và giảm thiểu ô nhiễm, chất thải (Sdrolia và Zarotiadis, 2019).
Ý định mua sản phẩm xanh phản ánh mức độ sẵn sàng và khả năng người tiêu dùng lựa chọn mua sản phẩm dựa trên các đặc tính thân thiện với môi trường (Chen và Chang, 2012). Theo Paul và cộng sự (2016), ý định mua sản phẩm xanh là yếu tố quan trọng trong việc dự báo hành vi tiêu dùng xanh thực tế theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch.
Thế hệ Z là nhóm người sinh trong giai đoạn 1997-2012, có đặc trưng nổi bật về khả năng tiếp cận công nghệ và sự quan tâm đến các vấn đề xã hội, môi trường (Pew Research Center, 2020). Theo Dabija và cộng sự (2018), tiêu dùng xanh không chỉ thể hiện nhận thức về trách nhiệm môi trường mà còn là phương thức khẳng định bản sắc và giá trị cá nhân của người tiêu dùng trẻ.
Người có sức ảnh hưởng xanh là những cá nhân có khả năng tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của người theo dõi trên mạng xã hội thông qua việc chia sẻ thông tin, quảng bá lối sống bền vững và khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường (Pittman và Abell, 2021).
Các lý thuyết liên quan
Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) cho rằng, ý định hành vi là yếu tố trực tiếp quyết định hành vi của cá nhân, được hình thành từ 3 nhân tố: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Lý thuyết này cung cấp cơ sở giải thích quá trình hình thành ý định mua sản phẩm xanh, trong đó thái độ và ảnh hưởng xã hội giữ vai trò quan trọng đối với quyết định của người tiêu dùng.
Lý thuyết độ tin cậy của nguồn thông tin của Hovland và cộng sự (1953) nhấn mạnh hiệu quả thuyết phục của thông điệp phụ thuộc vào mức độ tin cậy và chuyên môn của người truyền tải. Nguồn thông tin được đánh giá cao về tính trung thực và năng lực chuyên môn có khả năng tác động tích cực đến nhận thức, thái độ và ý định hành vi của người tiếp nhận. Đây là cơ sở lý thuyết để xem xét ảnh hưởng của độ tin cậy và các đặc điểm của người có sức ảnh hưởng xanh đến thái độ của người tiêu dùng.
Lý thuyết tương hợp bản sắc của Sirgy (1982) cho rằng, hành vi tiêu dùng không chỉ xuất phát từ lợi ích chức năng của sản phẩm mà còn gắn với nhu cầu thể hiện bản sắc cá nhân. Sự tương đồng giữa hình ảnh bản thân và hình ảnh thương hiệu có thể thúc đẩy thái độ tích cực và ý định mua. Trong bối cảnh nghiên cứu, lý thuyết này góp phần giải thích vai trò của tính tương đồng giữa người có sức ảnh hưởng xanh và thế hệ Z trong quá trình hình thành thái độ đối với sản phẩm xanh.
Nhìn chung, 3 lý thuyết tạo nền tảng bổ trợ cho nhau trong việc giải thích tác động của các đặc điểm người có sức ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh, thông qua thái độ và ảnh hưởng xã hội của người tiêu dùng thuộc thế hệ Z.
Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ vai trò của người có sức ảnh hưởng xanh đối với nhận thức, thái độ và hành vi tiêu dùng bền vững. Conte (2025) cho thấy, hoạt động truyền thông của người có sức ảnh hưởng xanh góp phần giảm rào cản về kiến thức nhưng có thể làm gia tăng lo ngại về chi phí chuyển đổi và sự hoài nghi của người tiêu dùng. Nghiên cứu của Eldon và cộng sự (2025) khẳng định các đặc điểm của người có sức ảnh hưởng xanh tác động đến ý định mua sản phẩm bền vững thông qua niềm tin và thái độ. Trong khi đó, Brito de Silva và cộng sự (2025) nhấn mạnh vai trò của sự tương đồng giữa hình ảnh thực tế của người tiêu dùng và người có sức ảnh hưởng trong việc thúc đẩy hành vi tiêu dùng thân thiện với môi trường.
Tại Việt Nam, Lê Nguyễn Bình Minh và cộng sự (2023) chỉ ra rằng, sự tin tưởng và sức thu hút của người có ảnh hưởng tác động tích cực đến ý định mua của thế hệ Z. Lượng Văn Quốc và cộng sự (2025) cho thấy sự chứng thực của người nổi tiếng có tác động tích cực đến thái độ đối với sản phẩm xanh nhưng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh còn hạn chế. Tương tự, Nguyễn Thị Kim Oanh và cộng sự (2025) xác định sức thu hút và sự phù hợp của người chứng thực có ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với thương hiệu, qua đó thúc đẩy ý định mua sản phẩm xanh.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã khẳng định vai trò của người có sức ảnh hưởng đối với hành vi tiêu dùng xanh. Tuy nhiên, việc xem xét đồng thời các đặc điểm của người có sức ảnh hưởng xanh và cơ chế tác động thông qua thái độ, chuẩn mực xã hội đến ý định mua sản phẩm xanh của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn.
Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa từ các nghiên trên và một số nghiên cứu khác, tác giả đưa ra các giả thuyết tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh như sau:
H1: Tính chân thực của người ảnh hưởng xanh có tác động tích cực (+) đến thái độ của Gen Z đối với sản phẩm xanh.
H2: Độ tin cậy của người ảnh hưởng xanh tác động cùng chiều (+) đến Thái độ của Gen Z về sản phẩm xanh.
H3: Tính tương đồng của người ảnh hưởng xanh có tác động tích cực (+) đến Thái độ của Gen Z đối với sản phẩm xanh.
H4: Chất lượng nội dung xanh của người ảnh hưởng xanh có tác động tích cực (+) đến Thái độ đối với sản phẩm xanh.
H5: Mức độ tương tác của người ảnh hưởng xanh có tác động tích cực (+) đến Thái độ đối với sản phẩm xanh.
H6: Tính chân thực của người ảnh hưởng xanh có tác động tích cực (+) đến Chuẩn mực xã hội của Gen Z.
H7: Chất lượng nội dung xanh có tác động tích cực (+) đến Chuẩn mực xã hội của Gen Z.
H8: Thái độ đối với sản phẩm xanh có tác động tích cực (+) đến Ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z.
H9: Chuẩn mực xã hội có tác động tích cực (+) đến Ý định mua sản phẩm xanh.
H10: Chuẩn mực xã hội có tác động tích cực (+) đến Ý thái độ của Gen Z về sản phẩm xanh.
H11: Chuẩn mực xã hội đóng vai trò trung gian giữa các đặc điểm của người ảnh hưởng xanh và Ý định mua sản phẩm xanh.
H12: Thái độ đối với sản phẩm xanh đóng vai trò trung gian giữa các đặc điểm của người ảnh hưởng xanh và Ý định mua sản phẩm xanh.
Mô hình nghiên cứu
Từ những giả thuyết đã nêu, tác giả xây dựng mô hình tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh bao gồm: Tính chân thực, Độ tin cậy, Tính tương đồng, Chất lượng nội dung do, Mức độ tương tác, Chuẩn mực xã hội, Thái độ đối với sản phẩm xanh và Ý định mua sản phẩm xanh. Mô hình nghiên cứu đề xuất như Hình.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Tác giả đề xuất
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông qua bảng khảo sát online kết hợp phỏng vấn trong thời gian từ tháng 06 đến tháng 07/2026. Thông qua kết quả 300 bảng khảo sát hợp lệ của Gen Z sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh được đưa vào phân tích. Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng được sử dụng để xây dựng, kiểm định mô hình và các giả thuyết thông qua phân tích PLS-SEM algorithm và Bootstrapping của phần mềm SmartPLS4 (Bài viết sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đánh giá mô hình đo lường
Bảng 1: Giá trị outer loading
| CL | CM | CT | HD | TC | TD | TT | YD | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| CL1 | 0.861 | |||||||
| CL2 | 0.856 | |||||||
| CL3 | 0.815 | |||||||
| CL4 | 0.856 | |||||||
| CM1 | 0.842 | |||||||
| CM2 | 0.827 | |||||||
| CM3 | 0.779 | |||||||
| CM4 | 0.749 | |||||||
| CT1 | 0.842 | |||||||
| CT2 | 0.835 | |||||||
| CT3 | 0.792 | |||||||
| CT4 | 0.813 | |||||||
| HD1 | 0.801 | |||||||
| HD2 | 0.828 | |||||||
| HD3 | 0.840 | |||||||
| HD4 | 0.848 | |||||||
| TC1 | 0.854 | |||||||
| TC2 | 0.813 | |||||||
| TC3 | 0.827 | |||||||
| TD1 | 0.869 | |||||||
| TD2 | 0.841 | |||||||
| TD3 | 0.931 | |||||||
| TD4 | 0.869 | |||||||
| TT1 | 0.820 | |||||||
| TT2 | 0.844 | |||||||
| TT3 | 0.751 | |||||||
| TT4 | 0.763 | |||||||
| YD1 | 0.853 | |||||||
| YD2 | 0.862 | |||||||
| YD3 | 0.838 | |||||||
| YD4 | 0.854 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu
Khi phân tích lần đầu cho thấy, giá trị TC4 có hệ số Outer loading < 0.7 nên loại bỏ khỏi nghiên cứu. Kết quả kiểm định thang đo lần 2 (Bảng 1) cho thấy, toàn bộ các nhân tố trong mô hình đều đạt và vượt các ngưỡng tiêu chuẩn trong nghiên cứu định lượng. Cụ thể, hệ số Outer loading của các biến quan sát đạt từ 0.749-0.931 (đều > 0.700). Hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0.813-0.900 (đều > 0.700), Composite Reliability (CR) có giá trị từ 0.810-0.931 (đều > 0.700), Average Variance Extracted (AVE) của các thang đo dao động từ 0.632-0.771 (đều > 0.5), giá trị Heterotrait - Monotrait Ratio (HTMT) từ 0.399-0.840 (đều < 0.85), Fornell – Larcker cho thấy căn bậc hai của phương sai trích trung bình (AVE) của mỗi biến tiềm ẩn đều lớn hơn hệ số tương quan giữa biến đó với các biến tiềm ẩn còn lại trong mô hình (Bảng 2).
Bảng 2: Giá trị độ tin cậy và AVE
| Cronbach's Alpha | Composite reliability (rho_a) | Composite reliability (rho_c) | Average variance extracted (AVE) | |
|---|---|---|---|---|
| CL | 0.869 | 0.870 | 0.911 | 0.718 |
| CM | 0.813 | 0.824 | 0.877 | 0.640 |
| CT | 0.834 | 0.837 | 0.889 | 0.668 |
| HD | 0.849 | 0.856 | 0.898 | 0.688 |
| TC | 0.815 | 0.820 | 0.878 | 0.643 |
| TD | 0.900 | 0.905 | 0.931 | 0.771 |
| TT | 0.806 | 0.810 | 0.873 | 0.632 |
| YD | 0.874 | 0.875 | 0.914 | 0.726 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu
Đánh giá mô hình cấu trúc
Bảng 3: Giá trị R bình phương hiệu chỉnh
| R-square | R-square adjusted | |
|---|---|---|
| CM | 0.329 | 0.324 |
| TD | 0.599 | 0.591 |
| YD | 0.677 | 0.675 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu
Kết quả nghiên cứu Bảng 3 cho thấy, mô hình có khả năng giải thích tương đối cao với R2 hiệu chỉnh = 0.675 đối với biến mục tiêu YD (giải thích được 67.5% biến thiên của biến này).
Bảng 4: Hệ số tác động giữa các biến trong mô hình cấu trúc
| Original sample (O) | Sample mean (M) | Standard deviation (STDEV) | T statistics (|O/STDEV|) | P values | |
|---|---|---|---|---|---|
| CL -> CM | 0.429 | 0.430 | 0.062 | 6.967 | 0.000 |
| CL -> TD | 0.279 | 0.277 | 0.063 | 4.402 | 0.000 |
| CM -> TD | 0.217 | 0.217 | 0.064 | 3.379 | 0.001 |
| CM -> YD | 0.426 | 0.427 | 0.049 | 8.660 | 0.000 |
| CT -> CM | 0.223 | 0.225 | 0.060 | 3.698 | 0.000 |
| CT -> TD | 0.136 | 0.135 | 0.061 | 2.238 | 0.025 |
| HD -> TD | 0.173 | 0.174 | 0.055 | 3.140 | 0.002 |
| TC -> TD | 0.123 | 0.124 | 0.051 | 2.424 | 0.015 |
| TD -> YD | 0.497 | 0.496 | 0.049 | 10.128 | 0.000 |
| TT -> TD | 0.122 | 0.126 | 0.055 | 2.217 | 0.027 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc Bảng 4 cho thấy, các nhân tố đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến các biến phụ thuộc, cụ thể:
Đối với Thái độ về sản phẩm xanh (TD), Chất lượng nội dung xanh (CL) có tác động mạnh nhất (β = 0.279; p < 0.001), tiếp đến là Chuẩn mực xã hội (β = 0.217; p = 0.001), Mức độ tương tác (β = 0.173; p = 0.002), Tính chân thực (β = 0.136; p = 0.025), Độ tin cậy nguồn (β = 0.123; p = 0.015) và Tính tương đồng (β = 0.122; p = 0.027).
Đối với Chuẩn mực xã hội (CM), Chất lượng nội dung xanh có tác động mạnh hơn (β = 0.429; p < 0.001) so với Tính chân thực (β = 0.223; p < 0.001).
Đối với Ý định mua sản phẩm xanh (YD), Thái độ đối với sản phẩm xanh có tác động mạnh nhất (β = 0.497; p < 0.001), tiếp đến là Chuẩn mực xã hội (β = 0.426; p < 0.001). Kết quả khẳng định vai trò quan trọng của hai nhân tố này trong việc hình thành ý định mua sản phẩm xanh của thế hệ Z.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết luận
Nghiên cứu phân tích tác động của người có sức ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, 5 đặc điểm của người có sức ảnh hưởng xanh gồm: Tính chân thực, Độ tin cậy, Tính tương đồng, Chất lượng nội dung xanh và Mức độ tương tác đều có tác động tích cực đến Thái độ đối với sản phẩm xanh. Trong đó, Chất lượng nội dung xanh có tác động mạnh nhất đến cả Thái độ và Chuẩn mực xã hội. Đặc biệt, Thái độ đối với sản phẩm xanh và Chuẩn mực xã hội có tác động trực tiếp đến ý định mua, trong đó Thái độ giữ vai trò nổi bật hơn. Mô hình nghiên cứu giải thích được 67,5% sự biến thiên của ý định mua sản phẩm xanh.
Hàm ý quản trị
Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông và thúc đẩy ý định mua sản phẩm xanh của thế hệ Z.
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nội dung truyền thông xanh. Doanh nghiệp cần lựa chọn người có sức ảnh hưởng xanh có khả năng cung cấp thông tin chính xác, minh bạch về lợi ích môi trường và giá trị sử dụng của sản phẩm. Đồng thời, bảo đảm sự nhất quán giữa thông điệp truyền thông và hành vi thực tế, hạn chế quảng cáo sai lệch về tính thân thiện với môi trường.
Thứ hai, thúc đẩy thái độ tích cực và phát huy vai trò của chuẩn mực xã hội. Doanh nghiệp cần xây dựng nội dung truyền thông phù hợp với nhu cầu, giá trị của thế hệ Z; tăng cường tương tác, chia sẻ trải nghiệm và lan tỏa hành vi tiêu dùng xanh. Đồng thời, theo dõi sự thay đổi về thái độ và ý định mua để đánh giá, điều chỉnh chiến lược truyền thông phù hợp.
Thứ ba, củng cố niềm tin và sự gắn kết với người tiêu dùng. Doanh nghiệp cần chú trọng tính chân thực, độ tin cậy, tính tương đồng và mức độ tương tác khi lựa chọn người có sức ảnh hưởng xanh. Ưu tiên sự phù hợp về giá trị, phong cách sống và đặc điểm người theo dõi; đồng thời duy trì tương tác hai chiều và thông điệp nhất quán nhằm nâng cao hiệu quả tác động đến ý định mua sản phẩm xanh.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
2. Chen, Y. S., & Chang, C. H. (2012). Enhance green purchase intentions: The roles of green perceived value, green perceived risk, and green trust. Management Decision, 50(3), 502–520. https://doi.org/10.1108/00251741211216250
3. Conte, F., Sammartino, F., Bertolini, A., Siano, A., & D’Onza, I. (2025). The role of greenfluencers’ communication in overcoming consumers’ barriers to circular economy: An explorative study on @Eco.narratrice. Sustainability, 17(5), Article 1994. https://doi.org/10.3390/su17051994
4. Dabija, D. C., Bejan, B. M., & Grant, D. B. (2018). The impact of consumer green behaviour on green loyalty among retail formats: A Romanian case study. Moravian Geographical Reports, 26(3), 173–185. https://doi.org/10.2478/mgr-2018-0014
5. de Silva, M. J. B., de Lima, M. I. C., dos Santos, M. D., da Silva Santos, A. K., da Costa, M. F., Melo, F. V. S., & de Farias, S. A. (2025). Exploring the interplay among environmental knowledge, green purchase intention, and pro-environmental behavior in greenfluencing scenarios: The mediating effect of self-congruity. Sustainable Development, 33(3), 4112–4127. https://doi.org/10.1002/sd.3343
6. Dimock, M. (2019). Defining generations: Where Millennials end and Generation Z begins. Pew Research Center. https://www.pewresearch.org/short-reads/2019/01/17/where-millennials-end-and-generation-z-begins/
7. Eldon, M., Ashari, D. R. W., & Waskita, G. S. (2025). The rise of greenfluencers: Micro-influencer impact on sustainable product purchase intentions. Inovasi Pembangunan: Jurnal Kelitbangan, 13(1). https://doi.org/10.35450/jip.v13i1.1020
8. Hovland, C. I., Janis, I. L., & Kelley, H. H. (1953). Communication and persuasion: Psychological studies of opinion change. Yale University Press.
9. Lê Nguyễn Bình Minh, Võ Hoàng Yến, & Phạm Quân Đạt (2023). Tác động của người ảnh hưởng đến ý định mua của giới trẻ (Gen Z) trong lĩnh vực thời trang tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Kinh tế và Quản trị kinh doanh, 18(5), 100–114. https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.econ.vi.18.5.2332.2023
10. Lượng Văn Quốc, Trần Thị Tuyết Mai, Trần Thế Nam, Đặng Quang Sang, & Bùi Thị Nhi (2025). Tác động của quảng cáo xanh và sự chứng thực từ người nổi tiếng đến hành vi tiêu dùng xanh: Vai trò trung gian của thái độ và nhận thức về môi trường. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, 16(5), 73–88. https://doi.org/10.52932/jfmr.v16i5.618
11. Nguyễn Thị Kim Oanh, Cung Thục Linh, Võ Thị Ngọc Trinh, & Nguyễn Minh Châu (2025). Ảnh hưởng của người chứng thực nổi tiếng đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (2). https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/anh-huong-cua-nguoi-chung-thuc-noi-tieng-den-y-dinh-mua-san-pham-xanh-cua-nguoi-tieu-dung-tai-tp-ho-chi-minh-1-79755.html
12. Paul, J., Modi, A., & Patel, J. (2016). Predicting green product consumption using theory of planned behavior and reasoned action. Journal of Retailing and Consumer Services, 29, 123–134. https://doi.org/10.1016/j.jretconser.2015.11.006
13. Pittman, M., & Abell, A. (2021). More trust in fewer followers: Diverging effects of popularity metrics and green orientation social media influencers. Journal of Interactive Marketing, 56(1), 70–82. https://doi.org/10.1016/j.intmar.2021.05.002
14. Sdrolia, E., & Zarotiadis, G. (2019). A comprehensive review for green product term: From definition to evaluation. Journal of Economic Surveys, 33(1), 150–178. https://doi.org/10.1111/joes.12268
15. Sirgy, M. J. (1982). Self-concept in consumer behavior: A critical review. Journal of Consumer Research, 9(3), 287–300. https://doi.org/10.1086/208924
| Ngày nhận bài: 13/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 22/10/2026; Ngày duyệt đăng: 30/10/2026 |
Các tin khác
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà
