Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 10:33 | 02/11/2026
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa.

ThS. Nguyễn Thu Hương

Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

Email: [email protected]

Tóm tắt

Chuyển giao công nghệ từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không tự phát sinh mà phụ thuộc vào động cơ của các tập đoàn đa quốc gia, kênh liên kết với doanh nghiệp nội địa và năng lực hấp thụ của bên tiếp nhận. Dựa trên khung phân tích này, nghiên cứu so sánh thể chế chuyển giao công nghệ của Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc bằng phương pháp phân tích định tính, tổng hợp tài liệu. Kết quả cho thấy, Thái Lan xây dựng được cơ chế kết nối nhà cung ứng nhưng chiều sâu công nghệ còn hạn chế; Malaysia thành công ở đào tạo công - tư nhưng bài học Proton cho thấy rủi ro của bảo hộ thiếu áp lực cạnh tranh; mô hình đổi thị trường lấy công nghệ của Trung Quốc khó áp dụng với Việt Nam do quy mô thị trường và cam kết quốc tế. Nghiên cứu rút ra hàm ý về ưu đãi gắn với kết quả, đầu mối kết nối chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực hấp thụ cho Việt Nam.

Từ khóa: FDI, chuyển giao công nghệ, năng lực hấp thụ, liên kết chuỗi cung ứng

Abstract

Technology transfer from foreign direct investment (FDI) does not occur automatically; rather, it depends on the motivations of multinational corporations, the channels of linkage with domestic enterprises, and the absorptive capacity of recipient firms. Based on this analytical framework, this study compares the institutional mechanisms for technology transfer in Thailand, Malaysia, and China through qualitative analysis and document synthesis. The findings show that Thailand has established mechanisms for connecting suppliers, but the depth of technology transfer remains limited. Malaysia has achieved success in public-private training, while the Proton case highlights the risks of protectionism without competitive pressure. China’s market-for-technology model is difficult for Viet Nam to adopt due to differences in market size and international commitments. The study draws implications for Viet Nam regarding performance-based incentives, supply chain linkage coordination mechanisms, and improvements in absorptive capacity.

Keywords: FDI, technology transfer, absorptive capacity, supply chain linkages

GIỚI THIỆU

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa. Với Việt Nam, quốc gia vừa được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao từ tháng 7/2026 (World Bank, 2026), yêu cầu này càng cấp thiết: lợi thế lao động giá rẻ suy giảm, trong khi Quy tắc Thuế tối thiểu toàn cầu làm các ưu đãi miễn, giảm thuế mất phần lớn giá trị đối với các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) có doanh thu từ 750 triệu EUR (OECD, 2022). Chủ trương nâng cao chất lượng FDI và lấy chuyển giao công nghệ (CGCN) làm trọng tâm đã được nêu tại Nghị quyết số 10-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2026) và Nghị quyết số 280/NQ-CP (Chính phủ, 2026); vấn đề đặt ra là thiết kế thể chế nào để chủ trương ấy đạt kết quả.

Thực tiễn khu vực cho thấy, các nước theo đuổi những con đường thể chế rất khác nhau và đạt kết cục khác nhau (Doner và cộng sự, 2021). Thái Lan dựa vào ưu đãi theo hoạt động và cơ quan kết nối nhà cung ứng; Malaysia chọn ngách công nghệ cao và đào tạo công - tư; Trung Quốc dùng sức mạnh thị trường để đổi lấy công nghệ. Kết quả tương ứng là một cơ sở nhà cung ứng rộng nhưng công nghệ lõi còn do doanh nghiệp nước ngoài nắm; một dự án ô tô quốc gia thất bại; và năng lực tự chủ công nghệ ở quy mô lớn.

Nghiên cứu đặt giả thuyết rằng, CGCN từ khu vực FDI chỉ xảy ra khi 3 điều kiện cùng hội tụ: động cơ của MNCs, kênh liên kết với doanh nghiệp nội địa và năng lực hấp thụ của bên tiếp nhận; thể chế là yếu tố định hình. Trên cơ sở đó, nghiên cứu so sánh 3 trường hợp và rút ra hàm ý cho Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết và thực nghiệm đều cho thấy, lan tỏa công nghệ từ FDI không tự động xảy ra: kết quả phụ thuộc vào khoảng cách công nghệ, năng lực của doanh nghiệp nội địa và mức độ liên kết (Blomström và Kokko, 1998; Crespo và Fontoura, 2007). Sự hiện diện của FDI chỉ tạo ra cơ hội; cơ hội ấy được hiện thực hóa qua 4 kênh: liên kết ngược (MNCs mua đầu vào và truyền tiêu chuẩn, kỹ thuật cho nhà cung ứng), liên kết xuôi, đào tạo và dịch chuyển lao động, hợp tác nghiên cứu và phát triển (R&D). Bằng chứng mạnh nhất thuộc về liên kết ngược (Javorcik, 2004). Liên kết chỉ chuyển hóa thành đổi mới khi doanh nghiệp nội địa có năng lực hấp thụ - khả năng nhận diện, tiếp thu và vận dụng tri thức bên ngoài, vốn mang tính tích lũy (Cohen và Levinthal, 1990). Với các nền kinh tế đang bắt kịp, công nghệ nhập từ bên ngoài chỉ phát huy khi đi cùng nỗ lực đổi mới nội sinh (Fu và cộng sự, 2011).

Hình: Cơ chế từ FDI đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nội địa và các điểm can thiệp thể chế

Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Thể chế tác động lên cả 3 mắt xích của chuỗi này (Hình): Ưu đãi và ràng buộc định hình động cơ của MNCs; cơ quan và chương trình trung gian làm giảm chi phí kết nối; đào tạo, R&D và tài chính định hình năng lực hấp thụ. Thiếu 1 trong 3, tăng quy mô FDI không chuyển thành năng lực công nghệ nội địa.

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TỪ KHU VỰC FDI

Thái Lan: Cơ quan kết nối bền vững nhưng chiều sâu công nghệ còn hạn chế

Về động cơ của MNCs. Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) áp dụng ưu đãi phân nhóm theo hoạt động đầu tư: nhóm công nghệ cao nhất được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 10 đến 13 năm, thay vì căn cứ thuần túy vào quy mô vốn. Từ chiến lược 2015-2021, BOI bổ sung ưu đãi theo “thành tích”: doanh nghiệp được miễn thêm từ một đến 3 năm nếu chi cho R&D, đào tạo công nghệ tiên tiến, phát triển nhà cung ứng nội địa và thiết kế sản phẩm đạt từ 1% đến 3% doanh thu hoặc mức tuyệt đối tương ứng; dự án vốn từ 10 triệu baht trở lên không đạt chứng nhận ISO trong 2 năm bị mất một năm miễn thuế (BOI, 2016). Đây là cách gắn ưu đãi với chỉ tiêu đo đếm được trong khuôn khổ cam kết WTO.

Về kết nối chuỗi cung ứng. Chương trình BUILD (BOI Unit for Industrial Linkage Development) do BOI lập năm 1992, vận hành như một dịch vụ công: lập cơ sở dữ liệu nhà thầu phụ, giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, kết nối cung - cầu với các nhà lắp ráp. Cùng với yêu cầu nội địa hóa theo lộ trình (được bãi bỏ năm 2000) và lập Viện Ô tô Thái Lan, chương trình góp phần hình thành cơ sở hơn 2.300 nhà sản xuất linh kiện ô tô; một số hãng Nhật Bản đạt mức mua sắm nội địa trên 90% (AMRO, 2025).

Về năng lực hấp thụ và kết cục. Độ rộng của cơ sở nhà cung ứng chưa đồng nghĩa với chiều sâu công nghệ. Trong 709 nhà cung ứng cấp 1, 54% do nước ngoài nắm đa số vốn, và các doanh nghiệp này giữ các công nghệ linh kiện chủ chốt như động cơ, hộp số; khoảng 1.700 nhà cung ứng cấp 2-3 chủ yếu là doanh nghiệp nội địa, trong đó nhóm không nâng cấp được chuyển sang sản xuất phụ tùng thay thế hoặc làm thương mại; năm 2014 chỉ 36,2% doanh nghiệp chế tạo có hoạt động R&D (Rattanakhamfu và Tangkitvanich, 2018). Doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 99,5% số doanh nghiệp, vẫn ít hiện diện trong chuỗi cung ứng của nhà đầu tư nước ngoài, và quá trình chuyển sang xe điện với ít linh kiện hơn có thể làm suy yếu liên kết giá trị nội địa nếu thiếu hỗ trợ chủ động (AMRO, 2025). Nhận định của giới nghiên cứu là chính sách chưa đủ; cần các thiết chế như Viện Ô tô Thái Lan để thực thi và dung hòa lợi ích các bên (ISEAS, 2020).

Malaysia: Đào tạo công - tư và rủi ro của bảo hộ thiếu áp lực cạnh tranh

Về động cơ của MNCs. Malaysia tập trung vào ngách đóng gói, kiểm thử và thiết kế bán dẫn tại Penang, nơi tập trung hàng trăm MNCs (MIDA, 2024). Về ưu đãi, Trạng thái Tiên phong (Pioneer Status) được miễn 70% hoặc 100% thu nhập chịu thuế trong 5 hoặc 10 năm, còn Ưu đãi thuế đầu tư miễn trừ 60% hoặc 100% chi phí vốn đủ điều kiện; cả 2 được cấp cho các hoạt động, sản phẩm thuộc danh mục khuyến khích, trong đó có công nghệ cao, dự án chiến lược và thương mại hóa kết quả R&D khu vực công (MIDA, 2022). Các ưu đãi này chủ yếu dựa trên thu nhập và vốn; tính “có điều kiện” nằm ở danh mục hoạt động hơn là ở chỉ tiêu kết quả.

Về năng lực hấp thụ. Điểm nổi bật của Malaysia là đào tạo công - tư. Trung tâm Phát triển Kỹ năng Penang (PSDC) được thành lập năm 1989 bởi chính quyền bang Penang, Đại học Khoa học Malaysia và các MNCs (Intel, Hewlett-Packard, Motorola), vận hành như tổ chức phi lợi nhuận do doanh nghiệp dẫn dắt; đến năm 2012, Trung tâm có khoảng 150 doanh nghiệp thành viên, khoảng 80% kinh phí đến từ khu vực tư nhân, và chính phủ cho khấu trừ 200% chi phí đào tạo gửi nhân viên đến Trung tâm. Mô hình này giải quyết đúng điểm nghẽn nhân lực: chương trình đào tạo do doanh nghiệp thiết kế nên sát nhu cầu sản xuất.

Bài học thất bại. Dự án ô tô quốc gia Proton cho thấy rủi ro của bảo hộ. Theo Athukorala (2014), dự án thất bại ngay từ thiết kế vì thiên lệch thay thế nhập khẩu; nỗ lực xuất khẩu không thành, Proton vẫn là nhà sản xuất chi phí cao, sống nhờ bảo hộ thuế quan, ưu đãi thuế, ưu tiên và các đợt rót vốn ưu đãi. Chính sách Kinh tế Mới (NEP) ưu tiên tỷ lệ sở hữu và cung ứng cho người bản địa cũng có thể làm suy yếu liên kết giữa MNCs và nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân có năng lực kỹ thuật tốt. Hai trường hợp cùng chỉ ra rằng hỗ trợ nội địa thiếu áp lực cạnh tranh và mục tiêu xuất khẩu không tạo ra năng lực hấp thụ thực chất (Felker và cộng sự, 1999).

Trung Quốc: “Đổi thị trường lấy công nghệ” và giới hạn áp dụng

Với quy mô siêu thị trường, Trung Quốc từng dùng quyền tiếp cận thị trường làm đòn bẩy: yêu cầu liên doanh và khống chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các ngành chiến lược, áp tỷ lệ nội địa hóa theo lộ trình. Holmes và cộng sự (2015) cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng chính sách đổi quyền tiếp cận thị trường lấy “vốn công nghệ” tồn tại và mang lại lợi ích phúc lợi lớn cho Trung Quốc. Cùng với đó, nước này đầu tư mạnh cho giáo dục STEM và R&D nội địa theo Chiến lược IDR (chiến lược phát triển công nghệ của Trung Quốc, trong văn bản chính sách thường gọi là “du nhập - tiêu hóa - hấp thụ - đổi mới lại”), để “tiêu hóa” công nghệ nhập thành năng lực tự chủ, hình thành các tập đoàn công nghệ có thể cạnh tranh toàn cầu (Fu và cộng sự, 2011). Cần lưu ý rằng, khuôn khổ này đã thay đổi: Luật Đầu tư nước ngoài (2019) cấm các cơ quan hành chính cưỡng ép CGCN và từ ngày 18/3/2019 Trung Quốc bãi bỏ một số quy định về nhập khẩu công nghệ bị coi là cưỡng ép CGCN (Clifford Chance, 2019). Mô hình vì vậy là kinh nghiệm lịch sử gắn với quy mô thị trường, không phải công thức hiện hành.

Việt Nam không thể áp dụng nguyên bản những cách làm trên vì 2 rào cản. Một là quy mô thị trường: với khoảng 100 triệu dân, Việt Nam không có vị thế đàm phán của thị trường 1,4 tỷ dân để buộc MNCs đánh đổi công nghệ lấy quyền tiếp cận. Hai là cam kết quốc tế: Hiệp định TRIMs của WTO cấm yêu cầu nội địa hóa bắt buộc; Điều 9.10 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cấm áp đặt yêu cầu về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ bắt buộc và cấm gắn ưu đãi với tỷ lệ nội địa hóa hay ưu tiên hàng hóa trong nước, nhưng vẫn cho phép gắn ưu đãi với nghĩa vụ đặt cơ sở sản xuất, đào tạo, tuyển dụng lao động hoặc thực hiện R&D trong lãnh thổ. Vì vậy, bài học không nằm ở biện pháp hành chính cứng mà ở ưu tiên nâng cao năng lực hấp thụ nội địa và nuôi dưỡng các tập đoàn tư nhân trong nước.

So sánh tổng hợp

Bảng: So sánh chính sách CGCN từ khu vực FDI của Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc

Tiêu chí

Thái Lan

Malaysia

Trung Quốc

Mô hình cốt lõi

Trung tâm chế tạo ô tô, điện tử

Ngách công nghệ cao: đóng gói, kiểm thử, thiết kế vi mạch

Đổi thị trường lấy công nghệ

1. Động cơ của MNCs (ưu đãi, điều kiện)

Ưu đãi phân nhóm theo hoạt động; từ 2015-2021 thêm ưu đãi theo chi R&D, đào tạo, phát triển nhà cung ứng, chứng nhận ISO

Pioneer Status, ưu đãi thuế đầu tư theo danh mục hoạt động khuyến khích; ít chỉ tiêu kết quả

Liên doanh bắt buộc, giới hạn sở hữu, tỷ lệ nội địa hóa (giai đoạn trước); nay đã nới lỏng

2. Kết nối chuỗi

BUILD (1992) của BOI: cơ sở dữ liệu nhà thầu phụ, hỗ trợ đạt chuẩn, kết nối cung - cầu

Cụm Penang; kết nối với SMEs nội địa vẫn là điểm yếu

Nội địa hóa buộc MNCs tích hợp nhà cung ứng bản địa

3. Năng lực hấp thụ

Chỉ 36,2% doanh nghiệp chế tạo có R&D (2014); SMEs ít hiện diện trong chuỗi

PSDC (1989): đào tạo do doanh nghiệp dẫn dắt, khấu trừ 200% chi phí đào tạo

Đầu tư lớn cho STEM, R&D; chiến lược IDR

4. Ràng buộc và tương thích

Bãi bỏ yêu cầu nội địa hóa năm 2000

Bảo hộ Proton; NEP làm méo mó liên kết

Không tương thích TRIMs, CPTPP nếu áp dụng nguyên bản

5. Kết cục

Cơ sở trên 2.300 nhà cung ứng nhưng công nghệ lõi do cấp 1 nước ngoài nắm; rủi ro xe điện

Trung tâm bán dẫn của khu vực; Proton thất bại

Hình thành tập đoàn công nghệ quy mô lớn

6. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Cần đầu mối kết nối bền vững và ưu đãi gắn kết quả đo đếm được

Đào tạo công - tư; tránh bảo hộ thiếu áp lực cạnh tranh

Tập trung năng lực hấp thụ và doanh nghiệp tư nhân trụ cột

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Phân tích so sánh (Bảng) cho thấy, một quy luật chung: nơi nào có đầu mối kết nối bền vững và đào tạo gắn với doanh nghiệp (Thái Lan, Penang) thì cơ sở nhà cung ứng và nhân lực hình thành nhanh, nhưng chiều sâu công nghệ chỉ có khi doanh nghiệp nội địa tự nâng được năng lực hấp thụ; nơi bảo hộ không đi cùng áp lực cạnh tranh (Proton) thì thất bại.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Kết luận

Nghiên cứu so sánh 3 mô hình CGCN từ khu vực FDI theo khung 3 mắt xích: động cơ của MNCs, kênh liên kết và năng lực hấp thụ. Kết quả ủng hộ giả thuyết: CGCN chỉ đạt chiều sâu khi cả 3 điều kiện cùng hội tụ. Thái Lan có đầu mối kết nối và ưu đãi theo hoạt động, thậm chí đã gắn ưu đãi với chỉ tiêu chi cho R&D, đào tạo và phát triển nhà cung ứng, nhưng cơ sở nhà cung ứng rộng chưa đi cùng chiều sâu công nghệ. Malaysia mạnh ở đào tạo công - tư song thất bại khi bảo hộ doanh nghiệp quốc gia thiếu áp lực cạnh tranh. Trung Quốc thành công nhờ sức mạnh thị trường và đầu tư cho năng lực nội sinh, nhưng điều kiện đó không thể sao chép.

Hàm ý đối với Việt Nam

Về động cơ của MNCs. Việt Nam cần chuyển từ ưu đãi dựa trên thu nhập và quy mô vốn sang ưu đãi dựa trên chi phí và kết quả, vì loại ưu đãi này ít bị Thuế tối thiểu toàn cầu vô hiệu hóa hơn (OECD, 2022). Kinh nghiệm Thái Lan gợi ý cách làm: tăng ưu đãi theo từng đợt khi nhà đầu tư đạt tỷ lệ chi cho R&D, đào tạo và hỗ trợ nâng cấp nhà cung ứng, kèm hậu kiểm và thu hồi khi không đạt. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 280/NQ-CP. Do Điều 9.10 CPTPP, điều kiện hưởng ưu đãi chỉ nên gắn với hoạt động thực chất tại Việt Nam (R&D, đào tạo, tuyển dụng lao động, hỗ trợ nhà cung ứng), không gắn với tỷ lệ nội địa hóa hay ưu tiên mua hàng trong nước; Điều 9.11 cũng không cho phép yêu cầu quốc tịch đối với nhà quản lý cấp cao. Điều kiện thu hồi cần ghi từ đầu trong thỏa thuận ưu đãi để bảo đảm an toàn pháp lý cho nhà đầu tư.

Về kênh liên kết. Việt Nam cần một đầu mối kết nối chuỗi cung ứng có tính liên tục, thẩm quyền dữ liệu và nguồn lực ổn định theo mô hình BUILD, vận hành như dịch vụ công mở cho mọi doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn thay vì áp nghĩa vụ mua hàng nội địa lên MNCs, nên tương thích với cam kết quốc tế. Đầu mối này cần chuẩn năng lực nhà cung ứng theo bậc, cơ sở dữ liệu nhu cầu linh kiện và quỹ nâng cấp. Bài học xe điện của Thái Lan cho thấy quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi sang linh kiện mới là một phần của thiết kế này (AMRO, 2025).

Về năng lực hấp thụ. Mô hình PSDC cho thấy, đào tạo do doanh nghiệp dẫn dắt, có khấu trừ thuế và cơ chế đồng tài trợ, giải quyết hiệu quả khoảng trống nhân lực mà ngành bán dẫn và điện tử của Việt Nam đang gặp. Việt Nam nên nhân rộng mô hình hợp tác 3 bên giữa Nhà nước, doanh nghiệp FDI và cơ sở đào tạo ở các cụm công nghiệp trọng điểm, đồng thời bảo đảm các ưu đãi R&D hiện có thực sự tiếp cận được với doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp tư nhân trụ cột, bài học Proton đòi hỏi hỗ trợ theo kết quả, giữ áp lực cạnh tranh và mục tiêu xuất khẩu, có điều khoản giới hạn thời gian (Athukorala, 2014).

Về đo lường. Kinh nghiệm Thái Lan cho thấy, chỉ tiêu về bề rộng liên kết (số nhà cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa) không phản ánh chiều sâu CGCN. Bộ chỉ tiêu cần bổ sung mức độ chuyển giao ở cấp thiết kế và công nghệ lõi, năng lực R&D và năng suất của doanh nghiệp nội địa có liên kết so với nhóm đối chứng, cùng thẩm định độc lập định kỳ.

Tài liệu tham khảo:

1. AMRO (2025). Thailand’s transformation - Part 2: Leveraging FDI for structural transformation. AMRO Blog.

2. Athukorala, P. (2014). Industrialisation through state-MNC partnership: Lessons from Malaysia’s national car project. Malaysian Journal of Economic Studies, 51(Special Issue), 113-126.

3. Blomström, M., and Kokko, A. (1998). Multinational corporations and spillovers. Journal of Economic Surveys, 12(3), 247-277.

4. Board of Investment of Thailand - BOI (2016). Investment policies update. BOI.

5. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

6. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8 /6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

7. Clifford Chance (2019). The US-China trade war and liberalisation of China’s technology transfer rules. Briefing.

8. Cohen, W. M., and Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128-152.

9. Crespo, N., and Fontoura, M. P. (2007). Determinants of FDI spillovers - What do we really know? World Development, 35(3), 410-425.

10. Doner, R. F., Noble, G. W., and Ravenhill, J. (2021). The political economy of automotive industrialization in East Asia. Oxford University Press.

11. Felker, G., Jomo, K. S., and Rasiah, R. (Eds.). (1999). Industrial technology development in Malaysia: Industry and firm studies. Routledge.

12. Fu, X., Pietrobelli, C., and Soete, L. (2011). The role of foreign technology and indigenous innovation in the emerging economies: Technological change and catching-up. World Development, 39(7), 1204-1212.

13. Holmes, T. J., McGrattan, E. R., and Prescott, E. C. (2015). Quid pro quo: Technology capital transfers for market access in China. Review of Economic Studies, 82(3), 1154-1193.

14. ISEAS - Yusof Ishak Institute (2020). Webinar on “The future of the automotive sector in selected APEC economies: Case of Thailand and Malaysia”. Event highlights.

15. Javorcik, B. S. (2004). Does foreign direct investment increase the productivity of domestic firms? American Economic Review, 94(3), 605-627.

16. MIDA (2022). Incentives: General guide. Malaysian Investment Development Authority.

17. MIDA (2024). Time for Malaysia to keep its edge in global chips. Malaysian Investment Development Authority.

18. OECD (2022). Tax incentives and the global minimum corporate tax: Reconsidering tax incentives after the GloBE rules. OECD Publishing.

19. Rattanakhamfu, S., and Tangkitvanich, S. (2018). Innovation policy in Thailand. In Innovation policy in ASEAN (Chapter 8, pp. 218-246). ERIA.

20. World Bank (2026). World Bank country classifications by income level.

Ngày nhận bài: 11/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/10/2026; Ngày duyệt đăng: 30/10/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

TikTok Shop nổi lên như một mô hình thương mại điện tử tích hợp giải trí, nơi người tiêu dùng vừa tiếp nhận nội dung video ngắn vừa có thể thực hiện thao tác mua hàng ngay trên cùng một nền tảng; khác với các sàn thương mại điện tử truyền thống.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Trong quản trị y tế ngày nay, sự hài lòng của người bệnh không chỉ là phản ứng sau sử dụng dịch vụ mà còn là chỉ báo phản ánh chất lượng vận hành, mức độ lấy người bệnh làm trung tâm và khả năng duy trì niềm tin.
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Bằng chứng về tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả doanh nghiệp chưa thống nhất, một phần do đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có cơ chế tạo giá trị khác nhau. Bài viết phân tích tác động riêng của hai hình thức đổi mới này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng xanh.
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiêu dùng bền vững ngày càng được quan tâm tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xanh nhập khẩu.
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Sơn Trà sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan và đa dạng sinh học, tạo tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên.
Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Công nghệ khép kín góp phần tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc.