Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Nghiên cứu - Trao đổi 10:09 | 02/11/2026
Sơn Trà sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan và đa dạng sinh học, tạo tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên.

Nguyễn Hoàng Yến

Đại học FPT Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) là một không gian tự nhiên đặc biệt với sự giao thoa giữa rừng, biển và đô thị, sở hữu hệ sinh thái đa dạng cùng cảnh quan phong phú. Đây cũng là môi trường sống của voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng quý hiếm được xem là biểu tượng sinh thái của bán đảo. Nghiên cứu phân tích thực trạng khai thác du lịch tại Sơn Trà, làm rõ tiềm năng về cảnh quan, đa dạng sinh học và văn hóa bản địa. Trên cơ sở các chính sách quản lý hiện hành, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững, bao gồm: quy hoạch hợp lý các tuyến tham quan, kiểm soát sức chứa du khách, tăng cường giáo dục môi trường và phát huy vai trò của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn.

Từ khóa: Sơn Trà, du lịch sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững, Đà Nẵng

Abstract

Son Tra Peninsula (Da Nang) is a distinctive natural area where forests, the sea, and urban environments intersect, featuring diverse ecosystems and rich landscapes. It is also home to the red-shanked douc langur, a rare primate regarded as an ecological symbol of the peninsula. This study analyzes the current state of tourism development in Son Tra and clarifies its potential for landscapes, biodiversity, and local culture. Based on existing management policies, the study proposes solutions for sustainable ecotourism development, including the appropriate planning of sightseeing routes, control of visitor carrying capacity, enhanced environmental education, and greater involvement of local communities in conservation efforts.

Keywords: Son Tra, ecotourism, nature conservation, sustainable development, Da Nang

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nằm ở phía Đông Bắc TP. Đà Nẵng với diện tích khoảng 4.400 ha, bán đảo Sơn Trà là một trong số ít không gian tại Việt Nam hội tụ đồng thời hệ sinh thái rừng tự nhiên, biển và dải ven bờ ngay sát lòng đô thị. Giá trị nổi bật của Sơn Trà gắn liền với quần thể voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng quý hiếm được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam, cùng thảm thực vật còn tương đối nguyên vẹn, khiến nơi đây trở thành một trong những di sản thiên nhiên đô thị hiếm hoi của cả nước.

Chính những giá trị cảnh quan và sinh thái đặc biệt ấy cũng đồng thời tạo nên sức hấp dẫn du lịch ngày càng lớn của Sơn Trà đối với Đà Nẵng và khu vực miền Trung. Riêng dịp lễ 30/4-1/5/2026, theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Đà Nẵng, Thành phố đã đón hơn 1,46 triệu lượt khách, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó khách quốc tế ước đạt hơn 621.000 lượt (tăng 24%) và khách lưu trú hơn 724.000 lượt (tăng 31%), tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt hơn 5.727 tỷ đồng (Hoài Thu, 2026), khẳng định vị thế của Đà Nẵng nói chung và Sơn Trà nói riêng như một điểm đến ngày càng được yêu thích, trong bối cảnh lượng khách du lịch đến Đà Nẵng tăng bình quân khoảng 15% mỗi năm (Lan Anh, 2026).

Sức hút này đặt ra yêu cầu quản lý chủ động, dài hạn. Trong giai đoạn cao điểm, lực lượng chức năng đã kiểm tra, tháo dỡ lều trại trái phép và xử lý buôn bán tự phát tại các điểm nóng như suối Rạng, bãi Nam (Đức Hoàng, 2026). Chính quyền Thành phố cũng đã tháo dỡ 58 nhà hàng, quán nhậu xây dựng trái phép trên bán đảo (Hoài Thu, 2026), đồng thời tiếp tục hoàn thiện quy hoạch chi tiết Khu du lịch quốc gia Sơn Trà theo hướng gắn kết với các tiêu chí bảo tồn đa dạng sinh học và an ninh quốc phòng (Hoài Sơn, 2025).

Có thể thấy, Sơn Trà đang đứng trước cơ hội thuận lợi để định hình mô hình du lịch sinh thái kiểu mẫu: nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đang phục hồi rõ rệt, nhu cầu du lịch không ngừng tăng trưởng, cùng sự vào cuộc ngày càng chủ động, bài bản của chính quyền địa phương trong công tác quản lý và bảo vệ cảnh quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích thực trạng khai thác du lịch và công tác bảo tồn tại Sơn Trà trong giai đoạn gần đây, đánh giá các điều kiện và tiềm năng phát triển, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hài hòa cả hai mục tiêu này, hướng đến xây dựng Sơn Trà thành hình mẫu du lịch sinh thái bền vững.

TỔNG QUAN VỀ GIÁ TRỊ DI SẢN THIÊN NHIÊN SƠN TRÀ

Sơn Trà là bán đảo duy nhất tại Việt Nam sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên tiếp giáp trực tiếp với biển ngay trong lòng một đô thị lớn, tạo nên giá trị khác biệt cho khu vực này so với các không gian tự nhiên đô thị khác trên cả nước. Nghiên cứu của Phạm Thị Kim Thoa (2012) về chỉ số đa dạng sinh học của thực vật thân gỗ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà cho thấy, khu vực này duy trì được mức độ đa dạng loài đáng kể so với các khu rừng đặc dụng ven đô khác tại Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học quan trọng, củng cố vững chắc giá trị sinh thái của Sơn Trà, bên cạnh giá trị cảnh quan vốn thường được công chúng nhắc đến nhiều hơn.

Voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng đặc hữu của bán đảo Đông Dương, được xếp vào nhóm nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam từ lâu, đã trở thành biểu tượng gắn liền với hình ảnh Sơn Trà trên các kênh truyền thông và trong các hoạt động quảng bá du lịch. Đáng chú ý, kết quả khảo sát gần đây do Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Đà Nẵng thực hiện đã ghi nhận 1.335 cá thể voọc chà vá chân nâu, tương ứng 237 đàn, đưa Sơn Trà trở thành khu vực có mật độ quần thể voọc cao nhất thế giới (Lưu Hương, 2026). Số liệu này cho thấy, công tác bảo tồn tại đây đang phát huy hiệu quả rõ rệt so với các ước tính khiêm tốn hơn nhiều trong giai đoạn trước. Sự hiện diện ngày càng ổn định của loài này không chỉ mang giá trị bảo tồn sinh học mà còn là một tài sản thương hiệu quý giá, góp phần định vị Sơn Trà như một điểm đến sinh thái đặc trưng, giàu sức hút của Đà Nẵng.

THỰC TRẠNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà

Quyết định số 2163/QĐ-TTg đã mở ra một bước ngoặt quan trọng cho Sơn Trà khi chính thức xác lập mục tiêu đưa nơi đây trở thành khu du lịch quốc gia, với định hướng phát triển đồng bộ hệ thống lưu trú, dịch vụ và hạ tầng du lịch nhằm phát huy tối đa lợi thế cảnh quan rừng biển hiếm có. Đáng chú ý, ngay trong văn bản này, yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững cũng được đặt ra song song với mục tiêu tăng trưởng, cho thấy tầm nhìn quy hoạch đã sớm hướng tới sự cân bằng giữa khai thác và gìn giữ giá trị tự nhiên (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Đây là một cơ sở chính sách thuận lợi để Sơn Trà từng bước hiện thực hóa mô hình phát triển hài hòa, nơi tăng trưởng du lịch và bảo tồn sinh thái cùng được xem là 2 trụ cột song hành thay vì đối lập nhau.

Nỗ lực rà soát và những chuyển biến tích cực tại địa phương

Trong 2 năm gần đây, Đà Nẵng đã triển khai rà soát quy mô lớn và bài bản đối với các dự án tại Sơn Trà, trên cơ sở thực hiện Kết luận số 77-KL/TW ngày 2/5/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng (Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh, 2025).

Theo báo cáo của UBND Thành phố, 13 dự án trên bán đảo Sơn Trà đã được đưa vào diện rà soát toàn diện; Thành phố đã chủ động loại bỏ phần diện tích ảnh hưởng đến quốc phòng, lâm nghiệp, đa dạng sinh học và hành lang bảo vệ bờ biển ra khỏi ranh giới dự án, đồng thời hướng dẫn nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ pháp lý (Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh, 2025). Song song với đó, Thành phố đã phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chi tiết Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, dự kiến hoàn thành trong quý III/2025 (Bảo Long, 2025) - bước đi cho thấy quyết tâm cụ thể hóa các nguyên tắc bảo tồn ngay trong công cụ quy hoạch, thay vì chỉ dừng ở định hướng chung.

Đặc biệt, năm 2026, quá trình rà soát tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng ngày càng chặt chẽ hơn với các tiêu chí sinh thái. UBND phường Sơn Trà đã tổ chức lấy ý kiến người dân về việc hủy bỏ 2 quyết định quy hoạch chi tiết 1/500 khu biệt thự trên bán đảo (Quyết định số 7214/2011 và Quyết định số 2289/2014), với tổng diện tích quy hoạch liên quan khoảng 256.348 m² (Đoàn Cường, 2026). Đây là một tín hiệu tích cực, cho thấy công tác điều chỉnh quy hoạch tại Sơn Trà đang được thực hiện một cách minh bạch, có sự tham vấn cộng đồng và bám sát tinh thần của Kết luận 77 cùng Nghị quyết 170, thay vì chỉ đơn thuần xử lý các thủ tục đầu tư.

Sự phối hợp giữa định hướng dài hạn của quy hoạch cấp Trung ương và vai trò rà soát sát thực tiễn của địa phương đã tạo nên một cơ chế bổ trợ khá hiệu quả. Đây là kinh nghiệm đáng ghi nhận: khi các cấp quản lý phối hợp chặt chẽ ngay từ khâu hoạch định chính sách, các điều chỉnh trong quá trình triển khai sẽ diễn ra thuận lợi và kịp thời hơn, góp phần đưa Sơn Trà tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển du lịch xanh, bền vững. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế còn tồn tại, như:

Một là, Báo cáo số 223/BC-UBND năm 2017 khẳng định, tất cả dự án đều phù hợp với quy hoạch chung (Cao Thái, 2017), nhưng Kết luận Thanh tra của Thanh tra Chính phủ công bố tháng 10/2019 lại chỉ ra hàng loạt sai phạm nghiêm trọng tại chính 18 dự án này, UBND thành phố đã cắt giảm gần 1.280 ha đất rừng đặc dụng trái quy định của Chính phủ, 16/18 dự án chưa có văn bản lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, và 7 dự án vi phạm quy định về an ninh quốc phòng (Hoài Thu, 2019; Thân Hoàng, 2019). Sự chênh lệch này cho thấy, đợt tự rà soát năm 2017 của địa phương có thể chưa đủ tính độc lập và triệt để so với đánh giá của cơ quan thanh tra cấp trên.

Hai là, nhận định về sự “kịp thời, thuận lợi” của quá trình điều chỉnh cũng cần được xem xét thận trọng hơn: trên thực tế, nhiều dự án tại Sơn Trà đã “đắp chiếu” kéo dài nhiều năm sau kết luận thanh tra 2019, và đến tận năm 2025 vẫn cần cơ chế đặc thù của Quốc hội để tiếp tục tháo gỡ vướng mắc pháp lý (Hoài Sơn, 2025).

Bảng 1 tổng hợp 2 văn bản chính sách chủ chốt trong cách tiếp cận giá trị Sơn Trà giữa cấp trung ương và cấp địa phương

Bảng 1: So sánh trọng tâm giá trị trong 2 văn bản chính sách chủ chốt về Sơn Trà của cấp Trung ương và cấp địa phương

Văn bản

Cấp ban hành

Nội dung chính

Trọng tâm giá trị

Quyết định số

2163/QĐ-TTg

Trung ương

(Thủ tướng

Chính phủ, 2016)

Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Tăng trưởng du lịch: lượt khách, quy mô lưu trú, hạ tầng dịch vụ.

Báo cáo số

223/BC-UBND

Địa phương

(UBND TP.

Đà Nẵng, 2017)

Rà soát 18 dự án đã phê duyệt (1.920 lô biệt thự); đề xuất giảm quy mô một số dự án.

Bảo tồn sinh thái và an ninh - quốc phòng khu vực.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN THIÊN NHIÊN SƠN TRÀ

Trên cơ sở thực trạng nêu trên, có thể tổng hợp các điều kiện phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên tại Sơn Trà theo mô hình điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức như Bảng 2.

Bảng 2: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch Sơn Trà

Điểm mạnh

Điểm yếu

- Vị trí liền kề trung tâm đô thị Đà Nẵng, thuận lợi kết nối với hạ tầng giao thông và dịch vụ.

- Hệ sinh thái rừng - biển độc đáo, hiếm có trong đô thị.

- Biểu tượng voọc chà vá chân nâu có sức hút truyền thông và giá trị thương hiệu du lịch cao.

- Diện tích hạn chế, hệ sinh thái nhạy cảm, dễ bị tổn thương do hoạt động khai thác.

- Một số dự án lưu trú quy mô lớn đã được phê duyệt từ trước, gây áp lực lên quỹ đất và cảnh quan.

- Thiếu bộ tiêu chí thống nhất giữa quy hoạch trung ương và yêu cầu bảo tồn, quốc phòng ở địa phương.

Cơ hội

Thách thức

- Xu hướng du lịch quốc tế và nội địa dịch chuyển sang trải nghiệm sinh thái, thiên nhiên nguyên bản.

- Thương hiệu du lịch Đà Nẵng đã được khẳng định, tạo lợi thế quảng bá cho sản phẩm du lịch sinh thái tại Sơn Trà.

- Có cơ sở để xây dựng mô hình du lịch sinh thái sức tải thấp, gắn với giáo dục môi trường.

- Áp lực đô thị hóa và nhu cầu mở rộng lưu trú của Đà Nẵng.

- Rủi ro suy giảm giá trị sinh thái, vốn là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn du lịch, nếu khai thác quá mức.

- Cạnh tranh điểm đến với các khu du lịch biển đảo khác trong khu vực.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN THIÊN NHIÊN SƠN TRÀ

Giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Một là, điều chỉnh quy hoạch theo hướng ưu tiên mô hình du lịch sinh thái sức tải thấp. Rà soát, giảm quy mô các dự án lưu trú tập trung mật độ cao, ưu tiên các hình thức lưu trú, dịch vụ có quy mô nhỏ, phù hợp với sức chịu tải sinh thái của bán đảo, thay vì phát triển theo hướng nghỉ dưỡng đại trà.

Hai là, xây dựng bộ chỉ số giám sát sức chịu tải sinh thái. Thiết lập các ngưỡng cụ thể về mật độ khách, diện tích xây dựng và tác động môi trường làm căn cứ khoa học để cấp phép, điều chỉnh hoặc dừng triển khai dự án, thay vì chỉ dựa trên chỉ tiêu tăng trưởng lượt khách và doanh thu.

Ba là, phát triển sản phẩm du lịch diễn giải di sản thiên nhiên. Đầu tư các sản phẩm du lịch giáo dục trải nghiệm gắn với hệ sinh thái và voọc chà vá chân nâu (tuyến diễn giải thiên nhiên có kiểm soát, trung tâm giáo dục môi trường), qua đó chuyển hóa giá trị bảo tồn thành sản phẩm du lịch có kiểm soát, thay vì khai thác cảnh quan một cách tự phát.

Bốn là, phân vùng chức năng và tổ chức tuyến tham quan có kiểm soát. Phân định rõ vùng bảo vệ nghiêm ngặt (sinh cảnh của voọc chà vá chân nâu), vùng phục hồi sinh thái và vùng dịch vụ du lịch; chỉ cho phép tham quan theo các tuyến cố định, áp dụng đăng ký trước, giới hạn số lượt và khung giờ đối với phương tiện cá nhân, ưu tiên phương tiện công cộng thân thiện với môi trường. Đây là công cụ để chuyển ngưỡng sức chịu tải từ chỉ tiêu trên giấy thành biện pháp quản lý trên thực địa.

Năm là, phát huy vai trò của cộng đồng địa phương. Thay vì chỉ cưỡng chế, cần chuyển hóa các hoạt động dịch vụ tự phát (cắm trại, buôn bán tại suối Rạng, bãi Nam) thành các điểm dịch vụ được cấp phép, do người dân địa phương vận hành theo quy chuẩn môi trường; đồng thời đào tạo người dân trở thành hướng dẫn viên, tình nguyện viên giám sát cộng đồng, qua đó gắn sinh kế với trách nhiệm bảo tồn.

Sáu là, thể chế hóa giáo dục môi trường. Mô hình Trung tâm giáo dục thiên nhiên của GreenViet, với khoảng 7.500 lượt học sinh, sinh viên và người dân được tham quan miễn phí trong giai đoạn 2024-2026 (Bùi Minh, 2024), cần được duy trì thành chương trình ngoại khóa thường niên của các trường học trên địa bàn sau khi dự án kết thúc, kết hợp với bộ quy tắc ứng xử bắt buộc dành cho du khách tại các điểm tham quan.

Bảy là, thiết lập cơ chế tài chính cho bảo tồn. Nghiên cứu áp dụng phí tham quan hoặc phí môi trường tại một số khu vực nhạy cảm và huy động đóng góp từ doanh nghiệp du lịch, trong đó trích lại một tỷ lệ cố định cho công tác tuần tra, giám sát đa dạng sinh học và phục hồi rừng, nhằm bảo đảm nguồn lực bảo tồn không phụ thuộc hoàn toàn vào các dự án tài trợ ngắn hạn.

Đề xuất hoàn thiện công tác quản lý và quy hoạch du lịch tại Sơn Trà

Thứ nhất, tăng cường giám sát độc lập trong quá trình rà soát quy hoạch. Để khắc phục 2 hạn chế đã đề cập ở các phần trên, công tác rà soát quy hoạch tại Sơn Trà trong các chu kỳ tiếp theo có thể cân nhắc bổ sung cơ chế đối chiếu độc lập giữa báo cáo tự rà soát của địa phương với đánh giá của cơ quan thanh tra hoặc chuyên gia độc lập ngay từ giai đoạn đầu, thay vì chỉ thực hiện sau khi phát sinh vướng mắc.

Thứ hai, quy định thời hạn thực hiện điều chỉnh quy hoạch trên thực địa. Xây dựng mốc thời gian ràng buộc rõ ràng giữa quyết định điều chỉnh và thời điểm hoàn tất thủ tục trên thực địa, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương và triển khai.

Có thể thấy, sự phối hợp giữa định hướng dài hạn ở cấp Trung ương và quá trình rà soát, điều chỉnh linh hoạt, cập nhật liên tục ở cấp địa phương trong giai đoạn 2024-2026 đã tạo nên một cơ chế quản lý ngày càng đồng bộ và thích ứng tốt hơn với thực tiễn. Đây là một kinh nghiệm quý cho công tác quy hoạch di sản thiên nhiên nói chung: việc duy trì các đợt rà soát định kỳ, gắn với sự tham gia của cộng đồng và các tiêu chí sinh thái cụ thể, sẽ giúp quá trình điều chỉnh diễn ra chủ động và kịp thời hơn, qua đó góp phần đưa Sơn Trà tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển du lịch xanh, bền vững.

KẾT LUẬN

Thực tiễn tại Sơn Trà cho thấy, để khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế của di sản thiên nhiên, quy hoạch du lịch cần được xây dựng trên cơ sở phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và các bên liên quan; đồng thời gắn với hệ thống giám sát sức chịu tải, quản lý tài nguyên và phát triển các sản phẩm du lịch có trách nhiệm. Việc kết hợp hoạt động tham quan với giáo dục, diễn giải và nâng cao nhận thức về giá trị di sản cũng có thể tạo ra những giá trị kinh tế lâu dài cho điểm đến.

Những kết quả đạt được trong thời gian gần đây tạo nền tảng quan trọng để Sơn Trà tiếp tục hoàn thiện mô hình phát triển theo hướng hài hòa hơn giữa bảo tồn và tăng trưởng. Đây không chỉ là cơ hội để phát huy hiệu quả các giá trị đặc sắc của bán đảo, mà còn mở ra khả năng xây dựng Sơn Trà trở thành một hình mẫu về phát triển du lịch sinh thái, nơi giá trị thiên nhiên được bảo vệ, đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế và du lịch bền vững của Đà Nẵng.

Tài liệu tham khảo:

1. Bảo Long (2025). Đà Nẵng tháo gỡ 13 dự án bán đảo Sơn Trà theo chỉ đạo Chính phủ. https://taichinh247.vn/da-nang-thao-go-13-du-an-ban-dao-son-tra-chinh-phu/

2. Bùi Minh (2024). Đà Nẵng bảo tồn loài voọc chà vá chân nâu quý hiếm. https://dansinh.dantri.com.vn/dien-dan-dan-sinh/da-nang-bao-ton-loai-vooc-cha-va-chan-nau-quy-hiem-20240619140508032.htm

3. Cao Thái (2017). Kiến nghị Thủ tướng giữ nguyên biệt thự ở Sơn Trà. https://vietnamnet.vn/kien-nghi-thu-tuong-giu-nguyen-biet-thu-o-son-tra-397016.html

4. Đoàn Cường (2026). Sẽ ‘xóa sổ’ quy hoạch khu biệt thự trên bán đảo Sơn Trà, người dân được lấy ý kiến. https://tuoitre.vn/se-xoa-so-quy-hoach-khu-biet-thu-tren-ban-dao-son-tra-nguoi-dan-duoc-lay-y-kien-2026050810221295.htm

5. Đức Hoàng (2026). Sơn Trà ra quân xử lý “du lịch chui”, bảo vệ cảnh quan điểm đến. https://baovanhoa.vn/du-lich/son-tra-ra-quan-xu-ly-du-lich-chui-bao-ve-canh-quan-diem-den-224127.html

6. Hoài Sơn (2025). Đà Nẵng gỡ vướng 13 dự án trên bán đảo Sơn Trà. https://dantri.com.vn/thoi-su/da-nang-go-vuong-13-du-an-tren-ban-dao-son-tra-20250626153049904.htm

7. Hoài Thu (2019). Lãnh đạo Đà Nẵng có hàng loạt sai phạm ở bán đảo Sơn Trà. https://zingnews.vn/lanh-dao-da-nang-co-hang-loat-sai-pham-o-ban-dao-son-tra-post1003124.html

8. Hoài Thu (2026). Bãi biển ven bán đảo Sơn Trà nhếch nhác vì... du lịch “chui”. https://cand.com.vn/Ban-doc-cand/bai-bien-ven-ban-dao-son-tra-nhech-nhac-vi-du-lich-chui-i804287/

9. Lan Anh (2026). 'Du lịch chui' khiến biển Đà Nẵng chịu nhiều áp lực. https://nongnghiepmoitruong.vn/du-lich-chui-khien-bien-da-nang-chiu-nhieu-ap-luc-d810398.html

10. Lưu Hương (2026). Hơn 1.300 cá thể Voọc chà vá chân nâu sinh sống tại Sơn Trà. https://baochinhphu.vn/hon-1300-ca-the-vooc-cha-va-chan-nau-sinh-song-tai-son-tra-102221444.htm

11. Phạm Thị Kim Thoa (2012). Phân tích chỉ số đa dạng sinh học của thực vật thân gỗ trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà - TP. Đà Nẵng. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (3).

12. Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh (2025). 13 dự án trên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng đang được xử lý đến đâu?

13. Thân Hoàng (2019). Thanh tra Chính phủ công bố kết luận rất nhiều sai phạm tại bán đảo Sơn Trà. https://tuoitre.vn/thanh-tra-chinh-phu-cong-bo-ket-luan-rat-nhieu-sai-pham-tai-ban-dao-son-tra-20191018154517199.htm

14. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 2163/QĐ-TTg ngày 9/11/2016 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

15. UBND TP. Đà Nẵng (2017). Báo cáo số 223/BC-UBND ngày 29/8/2017 về việc rà soát các dự án và Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Ngày nhận bài: 8/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 23/9/2026; Ngày duyệt đăng: 19/10/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa.
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

TikTok Shop nổi lên như một mô hình thương mại điện tử tích hợp giải trí, nơi người tiêu dùng vừa tiếp nhận nội dung video ngắn vừa có thể thực hiện thao tác mua hàng ngay trên cùng một nền tảng; khác với các sàn thương mại điện tử truyền thống.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Trong quản trị y tế ngày nay, sự hài lòng của người bệnh không chỉ là phản ứng sau sử dụng dịch vụ mà còn là chỉ báo phản ánh chất lượng vận hành, mức độ lấy người bệnh làm trung tâm và khả năng duy trì niềm tin.
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Bằng chứng về tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả doanh nghiệp chưa thống nhất, một phần do đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có cơ chế tạo giá trị khác nhau. Bài viết phân tích tác động riêng của hai hình thức đổi mới này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng xanh.
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiêu dùng bền vững ngày càng được quan tâm tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xanh nhập khẩu.
Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Đột phá ứng dụng công nghệ khép kín: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản xã Châu Pha kết nối thị trường trọng điểm

Công nghệ khép kín góp phần tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc.