Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Nghiên cứu - Trao đổi 13:59 | 23/10/2026
Việc tổ chức lại đơn vị hành chính làm thay đổi căn bản đặc điểm địa kinh tế của tỉnh Vĩnh Long. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới là yêu cầu cấp thiết.

ThS. KS. Nguyễn Thiên Phúc

CLB Các nhà Khoa học trẻ TP. Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Tỉnh Vĩnh Long được hình thành ngày 01/7/2025 trên cơ sở hợp nhất tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, đạt mức tăng trưởng 5,84% năm 2025 và 6,41% vào 6 tháng đầu năm 2026. Trong khi đó, Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ giao tỉnh Vĩnh Long đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 10%/năm giai đoạn 2026-2030, cao hơn mục tiêu 9 đến 9,5%/năm của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bằng phương pháp định tính, kết hợp rà soát văn bản chính sách với phân tích thống kê mô tả trên dữ liệu thứ cấp chính thống, bài viết đánh giá thực trạng tăng trưởng của Tỉnh trong không gian phát triển mới. Kết quả cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực về quy mô kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và khung quy hoạch, tỉnh Vĩnh Long còn vướng 3 rào cản: quy mô và tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng vị thế trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long cùng sức thu hút đầu tư thấp; hạ tầng công nghiệp và logistics thiếu đồng bộ; liên kết tiểu vùng còn hình thức. Trên cơ sở nhận diện 4 nhóm nguyên nhân, bài viết đề xuất 5 nhóm giải pháp gắn với chủ thể và mốc thời gian cụ thể, nhấn mạnh yêu cầu đột phá đồng thời về tái cấu trúc không gian kinh tế, hạ tầng công nghiệp và chất lượng thể chế.

Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh, không gian phát triển mới, hành lang kinh tế, liên kết tiểu vùng, Vĩnh Long

Abstract

Vinh Long Province was established on July 1, 2025, through the merger of Ben Tre, Tra Vinh, and Vinh Long provinces, recording growth of 5.84% in 2025 and 6.41% in the first six months of 2026. Meanwhile, Government Resolution No. 169/NQ-CP dated June 27, 2026, sets a target for Vinh Long Province to achieve average annual gross regional domestic product (GRDP) growth of 10% during 2026-2030, exceeding the target of 9-9.5% per year for the Mekong Delta as a whole. Using a qualitative approach that combines a review of policy documents with descriptive statistical analysis of official secondary data, this article assesses the province’s growth performance within its new development space. The findings reveal positive changes in economic scale, structural transformation, and the planning framework, but also identify three major barriers: the scale and pace of growth remain inconsistent with the province’s position as a regional hub in the Mekong Delta, alongside limited investment attractiveness; industrial and logistics infrastructure remains poorly integrated; and subregional linkages are largely formalistic. Based on the identification of four groups of underlying causes, the article proposes five groups of solutions linked to specific stakeholders and timelines, emphasizing the need for simultaneous breakthroughs in economic spatial restructuring, industrial infrastructure, and institutional quality.

Keywords: Provincial economic growth, new development space, economic corridors, subregional linkages, Vinh Long

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tỉnh Vĩnh Long giữ vị thế địa kinh tế đặc biệt ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Theo khoản 20 Điều 1 Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 3 tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long được sắp xếp thành tỉnh mới mang tên tỉnh Vĩnh Long (Quốc hội, 2025a). Theo Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Long năm 2025, tỉnh có diện tích 6.875,86 km² và dân số trung bình 3.379.606 người (Thống kê tỉnh Vĩnh Long, 2025). Các đơn vị hành chính cấp xã được sắp xếp lại thành 124 đơn vị, gồm 105 xã và 19 phường (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025), hoạt động từ ngày 01/7/2025 theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (Quốc hội, 2025b).

Việc tổ chức lại đơn vị hành chính làm thay đổi căn bản đặc điểm địa kinh tế của địa phương. Từ một tỉnh thuần nội đồng, Vĩnh Long nay giáp tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ và Biển Đông, hội tụ 3 lợi thế vốn phân tán ở 3 địa phương riêng biệt: vị trí trung chuyển trên trục Quốc lộ 1 và cao tốc Trung Lương, Mỹ Thuận, Cần Thơ; vùng chuyên canh nông nghiệp, thủy sản quy mô lớn; dư địa kinh tế biển gắn với cảng biển, logistics và năng lượng tái tạo. Về chính sách, Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị đặt yêu cầu phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng liên kết, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu (Bộ Chính trị, 2022). Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1759/QĐ-TTg ngày 31/12/2023 (Thủ tướng Chính phủ, 2023), sau hợp nhất đã điều chỉnh tại Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 15/01/2026 (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2026a).

Trong bài viết, “không gian phát triển mới” không chỉ là sự mở rộng ranh giới địa lý mà bao hàm 3 trụ cột. Trụ cột thứ nhất là các hành lang kinh tế động lực: Quy hoạch tỉnh xác lập 03 vùng kinh tế, xã hội và 05 hành lang kinh tế gồm hành lang Bắc Nam dọc Quốc lộ 1 và cao tốc; hành lang Đông Tây dọc Quốc lộ 60 gắn với cầu Rạch Miễu 2, cầu Đại Ngãi; hành lang nội tỉnh Quốc lộ 53, 54 và 57; hành lang ven sông Cổ Chiên, Hàm Luông; hành lang sinh thái, du lịch sông Tiền, sông Hậu và ven biển, cùng 04 trục động lực phát triển (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2026a; Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2026). Trụ cột thứ hai là không gian kinh tế số, kinh tế xanh và nông nghiệp sinh thái, bổ sung kinh tế biển và năng lượng tái tạo sau hợp nhất. Trụ cột thứ ba là không gian liên kết tiểu vùng mở rộng, phản ánh mức độ gắn kết của tỉnh với Cần Thơ, Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ. Cách tiếp cận này kế thừa lý thuyết địa kinh tế mới (Krugman, 1991) và nghiên cứu về hiệu ứng quy mô của sáp nhập hành chính (Alesina & Spolaore, 1997).

Tuy vậy, giữa dư địa phát triển và kết quả tăng trưởng tồn tại khoảng cách rõ nét. Một mặt, tỉnh có vị trí trung tâm vùng thuận lợi cùng hạ tầng kết nối liên vùng đột phá với cầu Mỹ Thuận 2, cao tốc Mỹ Thuận, Cần Thơ, cầu Rạch Miễu 2 và cầu Đại Ngãi. Mặt khác, GRDP năm 2025 chỉ tăng 5,84%, thấp hơn kế hoạch 8,0% (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025b); tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP quý I/2026 mới đạt 10,24% (Chính phủ, 2026); cả năm 2025 tỉnh chỉ cấp mới 09 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 15,98 triệu USD; cùng với đó là nguy cơ tổn thương cao trước biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và sạt lở (World Bank, 2022).

Trong khi đó, mục tiêu Nghị quyết số 169/NQ-CP giao Tỉnh đạt tăng trưởng GRDP 10,0% năm 2026 và bình quân 10%/năm giai đoạn 2026-2030 (Chính phủ, 2026), mức được thống nhất tại Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 03/10/2025 của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I (Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, 2025), Nghị quyết số 267/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 và Quyết định số 368/QĐ-UBND, cao hơn mục tiêu 9 đến 9,5%/năm của toàn vùng (Quốc hội, 2025c). Bài viết hướng tới 3 mục tiêu: đánh giá thực trạng tăng trưởng của Tỉnh trong không gian phát triển mới; nhận diện rào cản và nguyên nhân; đề xuất hệ thống giải pháp cho giai đoạn 2026-2030. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, rà soát hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành của Trung ương và của tỉnh kết hợp phân tích thống kê mô tả trên dữ liệu thứ cấp chính thống, chủ yếu từ Báo cáo số 492/BC-UBND ngày 10/11/2025, Báo cáo số 806/BC-UBND ngày 29/12/2025 và Công văn số 768/CTK-TKQG ngày 01/4/2026 của Cục Thống kê.

THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH VĨNH LONG TRONG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI

Thành tựu và kết quả đạt được

Một là, GRDP duy trì đà tăng trưởng phục hồi, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Giai đoạn 2021-2025, dù chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19 và thiên tai, kinh tế 3 tỉnh trước hợp nhất vẫn tăng bình quân 5,58%/năm; thu ngân sách cả giai đoạn đạt 101.137 tỷ đồng; xuất khẩu đạt 14,411 tỷ USD, tăng 49,94% so với giai đoạn trước; vốn đầu tư toàn xã hội đạt 331.640 tỷ đồng (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Năm 2025, quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt 278.504,589 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt 82,41 triệu đồng, tương đương 3.134 USD (Thống kê tỉnh Vĩnh Long, 2025); vốn đầu tư toàn xã hội đạt 70.928,268 tỷ đồng, tăng 17,2%; số doanh nghiệp thành lập mới đạt 2.950, vượt 80,98% kế hoạch (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025b). Khu vực dịch vụ đã vươn lên dẫn dắt tăng trưởng với mức tăng 8,28% năm 2025, đưa tỷ trọng dịch vụ trong GRDP từ 36,27% lên 37,10%, trong khi tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm từ 33,31% xuống 32,65% (Thống kê tỉnh Vĩnh Long, 2025). Xu hướng này được duy trì khi dịch vụ quý I/2026 tăng 9,73% (Cục Thống kê, 2026) và tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm ước đạt 98.871 tỷ đồng, tăng 17,3% (Tạp chí Công Thương, 2026).

Bảng: Tăng trưởng GRDP tỉnh Vĩnh Long theo khu vực kinh tế (%)

Chỉ tiêu

Thực hiện 2024

Kế hoạch 2025

Ước thực hiện 2025

Kế hoạch 2026

Tốc độ tăng GRDP

7,23

8,00

5,84

10,01

Nông, lâm, thủy sản

2,96

3,27

3,02

3,01

Công nghiệp và xây dựng

14,76

13,19

5,92

17,10

Dịch vụ

6,90

8,78

8,28

11,19

Nguồn: Phụ lục 2 kèm theo Báo cáo số 806/BC-UBND ngày 29/12/2025 của UBND tỉnh Vĩnh Long.

Hai là, bước đầu hình thành các hành lang kinh tế và cực tăng trưởng động lực. Chỉ trong vòng 15 tháng sau hợp nhất, Tỉnh đã ban hành đồng bộ bộ văn bản chiến lược định hình không gian phát triển, từ Nghị quyết số 01-NQ/ĐH, Nghị quyết số 267/NQ-HĐND, Chương trình số 15-CTr/TU đến Quyết định số 368/QĐ-UBND và Chương trình số 33-CTr/TU. Quy hoạch tỉnh xác định đến năm 2030 toàn Tỉnh có 45 đô thị và 22 khu công nghiệp, tổ chức theo mô hình trung tâm và vệ tinh trên nền 05 hành lang kinh tế, đồng thời hình thành 03 trung tâm logistics tại Khu kinh tế Định An, khu vực ven biển và phường Cái Vồn (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2026a). Đô thị Vĩnh Long khẳng định vai trò trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ, còn Bình Minh phát huy lợi thế cửa ngõ giao thương với Cần Thơ. Trên thực địa, Tỉnh đã có 01 khu kinh tế và 05 khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích 720,14 ha (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a).

Ba là, mô hình sản xuất nông nghiệp chuyển đổi gắn với ứng dụng công nghệ và du lịch sinh thái. Các vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao, dừa và thủy sản đã hình thành, với xuất khẩu thủy sản năm 2025 tăng 15,88%, rau quả tăng 11,04% và công nghiệp chế biến tăng 17,01% (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025b). Du lịch sinh thái sông nước kết hợp hệ sinh thái cù lao, làng nghề truyền thống và văn hóa Khmer đang tạo bản sắc riêng; không gian ven biển sau hợp nhất mở thêm dư địa cho nuôi trồng thủy sản, năng lượng tái tạo và du lịch biển (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2026a).

Các rào cản đối với sự bứt phá kinh tế của tỉnh

Thứ nhất, quy mô kinh tế còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng vị thế trung tâm vùng, thu hút đầu tư thấp và thiếu dự án công nghiệp dẫn dắt. Mức tăng 5,84% của năm 2025 thấp hơn kế hoạch 2,16 điểm phần trăm và thấp hơn năm 2024 tới 1,39 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng, vốn được giao mục tiêu tăng 16,83%/năm giai đoạn 2026-2030 (Chính phủ, 2026), đã sụt từ 14,76% năm 2024 xuống 5,92% năm 2025 và chỉ còn 0,93% trong quý I/2026; khi loại trừ ngành sản xuất điện, con số này là 3,91%, cho thấy tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc đáng kể vào một ngành đơn lẻ (Cục Thống kê, 2026). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện giai đoạn 2021-2025 ước đạt 44.464 tỷ đồng, chỉ chiếm 13,41% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Công nghiệp chế biến sâu chưa phát triển khi tỷ trọng chế biến, chế tạo trong GRDP mới đạt 10,24%, trong khi mục tiêu đòi hỏi đưa tỷ trọng công nghiệp và xây dựng từ 25,70% lên 34,66% vào năm 2030.

Thứ hai, hạ tầng công nghiệp, dịch vụ và logistics chưa đồng bộ, thiếu kết nối hạ tầng chuỗi lạnh. Tỉnh nhận định hệ thống kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp và khu kinh tế được đầu tư thiếu đồng bộ, đặc biệt là các tuyến trục kết nối ra biển, cảng biển và hành lang kinh tế đường thủy; sản xuất công nghiệp, xuất khẩu thiếu ổn định; giải ngân vốn xây dựng cơ bản ở một số công trình còn khó khăn (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Tình trạng chậm giải phóng mặt bằng và chậm lấp đầy thể hiện qua con số 06 khu công nghiệp đã thành lập nhưng chưa hoạt động với tổng diện tích 11.472,76 ha (UBND tỉnh Vĩnh Long,2025b). Hệ quả là tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội trên GRDP quý I/2026 mới đạt 19,57%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 30% (Chính phủ, 2026). Thiếu kho lạnh và cơ sở sơ chế, đóng gói khiến giá trị gia tăng của nông sản, thủy sản bị tổn thất ngay sau thu hoạch.

Thứ ba, liên kết tiểu vùng và khai thác dư địa không gian phát triển mới còn mang tính hình thức. Cơ chế, chính sách phát triển kinh tế biển còn thiếu đồng bộ và thiếu tính liên kết vùng; quy hoạch còn chồng chéo; ưu đãi chưa đủ mạnh để thu hút đầu tư; nguồn lực phân tán. Liên kết giữa doanh nghiệp trong vùng với các thành phần kinh tế khác chưa chặt chẽ nên hiệu quả lan tỏa hạn chế; tỉnh chưa thu hút được nhà đầu tư chiến lược (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Sản phẩm du lịch và nông sản vẫn trùng lặp với các địa phương lân cận, dẫn tới cạnh tranh tiêu cực thay vì hợp tác phân công theo chuỗi giá trị.

Nguyên nhân của các rào cản

Một là, tư duy phân bổ nguồn lực và quy hoạch không gian kinh tế còn manh mún, chậm thích ứng với hạ tầng cao tốc mới. Quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm; năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; quy mô kinh tế của từng địa phương cấu thành còn nhỏ, phân tán; tiềm năng đất đai, lao động chưa được khai thác hiệu quả (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Tỉnh chưa chủ động chuẩn bị quỹ đất sạch dọc trục cao tốc và tại các nút giao chính, trong khi hiệu ứng tập trung chỉ phát huy khi chi phí vận chuyển và chi phí tiếp cận mặt bằng cùng giảm (Krugman, 1991).

Hai là, nguồn lực ngân sách địa phương hạn hẹp, cơ chế thu hút vốn tư nhân chưa đủ sức hấp dẫn. Thu ngân sách giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng bình quân 3,17%/năm (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Thiếu vốn mồi cho hạ tầng khu, cụm công nghiệp khiến các dự án kéo dài, làm chậm hình thành cực tăng trưởng công nghiệp. Môi trường đầu tư chưa đồng đều giữa 3 địa bàn cũ: năm 2023, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bến Tre đạt 69,2 điểm, xếp hạng 7 cả nước, trong khi Trà Vinh và Vĩnh Long không nằm trong nhóm 30 tỉnh đứng đầu được công bố xếp hạng (VCCI, 2024).

Ba là, tồn tại khoảng trống thể chế liên kết tiểu vùng và thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các địa phương giáp ranh. Đến nay, chưa hình thành hội đồng hoặc quy chế phối hợp tiểu vùng cụ thể giữa Vĩnh Long với Cần Thơ, Đồng Tháp và các địa phương lân cận; thiếu thiết chế này, các cam kết liên kết dừng ở mức thỏa thuận chung mà không chuyển hóa thành dự án có nguồn vốn và trách nhiệm cụ thể. Lý thuyết thể chế cho thấy chất lượng “luật chơi” và năng lực thực thi quyết định mức độ phát huy hiệu quả của vốn, hạ tầng (North, 1990; Rodríguez-Pose, 2013). Thực tế điều hành cũng ghi nhận công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc thiếu chặt chẽ, vẫn còn biểu hiện né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a).

Bốn là, tác động gia tăng của biến đổi khí hậu cộng hưởng với hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực. Xâm nhập mặn mùa khô và dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp; khả năng ứng phó với sạt lở bờ sông, bờ biển còn hạn chế trong khi tỷ lệ che phủ rừng chỉ đạt 2,3% (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025a). Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2025 đạt 74,21% nhưng tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ mới đạt 38,94% (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2025b), chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và kinh tế số.

GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tăng trưởng của Tỉnh trong không gian phát triển mới, các nhóm giải pháp đề xuất bám sát từng rào cản và nguyên nhân đã nhận diện. Nguyên tắc xuyên suốt là không phân bổ nguồn lực dàn trải mà ưu tiên đồng thời 2 đòn bẩy tác động nhanh nhất tới tốc độ tăng trưởng là tái cấu trúc không gian kinh tế gắn với hạ tầng và cải thiện chất lượng thể chế, lấy liên kết tiểu vùng cùng năng lực thực thi làm cơ chế bảo đảm.

Quy hoạch và tái cấu trúc không gian kinh tế tỉnh gắn với các hành lang động lực và liên kết tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trước hết, cần chuyển định hướng không gian trong Quy hoạch tỉnh thành danh mục dự án đầu tư cụ thể, có địa chỉ, mốc thời gian và nguồn vốn. Thứ tự ưu tiên nên bắt đầu từ hành lang Bắc Nam dọc Quốc lộ 1 và cao tốc vì đã có hạ tầng nền và cho hiệu quả sớm nhất; tiếp đến là hành lang Đông Tây dọc Quốc lộ 60 để mở không gian ra biển; sau cùng là hành lang nội tỉnh Quốc lộ 53, 54 và 57 nhằm cân bằng phát triển giữa đô thị, công nghiệp với vùng nông nghiệp sinh thái. Song song với đó, Tỉnh cần chuẩn bị quỹ đất sạch tại các nút giao cao tốc, đầu mối hành lang và khu vực ven biển để đón đầu làn sóng dịch chuyển đầu tư.

Về liên kết tiểu vùng, Tỉnh cần đề xuất thành lập hội đồng điều phối tiểu vùng với thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp và các địa phương giáp ranh, kèm quy chế phối hợp và cơ chế chia sẻ lợi ích trong phát triển hạ tầng, logistics, xúc tiến đầu tư và phân công sản phẩm du lịch. Yêu cầu này có căn cứ pháp lý vững chắc khi Nghị quyết số 13-NQ/TW xác định liên kết vùng là phương hướng phát triển chủ đạo của vùng (Bộ Chính trị, 2022) và Nghị quyết số 252/2025/QH15 xác lập hành lang Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp là một trục phát triển (Quốc hội, 2025c). Chủ thể chính là UBND tỉnh, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban Quản lý các khu kinh tế; mốc ưu tiên là hoàn thành danh mục quỹ đất sạch theo từng hành lang trong giai đoạn 2026-2027.

Phát triển hạ tầng công nghiệp, hình thành trung tâm logistics và chế biến nông sản chuỗi lạnh cấp vùng

Đây là nhóm giải pháp tác động trực tiếp nhất tới khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực đang giảm tốc mạnh nhất nhưng được giao mục tiêu tăng 16,83%/năm giai đoạn 2026-2030 (Chính phủ, 2026). Cụ thể:

Một là, tập trung xử lý điểm nghẽn giải phóng mặt bằng và tỷ lệ lấp đầy tại 06 khu công nghiệp đã thành lập nhưng chưa hoạt động với tổng diện tích 11.472,76 ha, thay vì bổ sung quy hoạch mới; đồng thời triển khai dứt điểm 20 dự án cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 948,44 ha và tổng vốn đầu tư trên 6.550 tỷ đồng theo Chương trình số 15-CTr/TU (Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025).

Hai là, hình thành 03 trung tâm logistics theo định hướng Quy hoạch tỉnh tại Khu kinh tế Định An, khu vực ven biển và phường Cái Vồn, ưu tiên hạ tầng chuỗi lạnh. Hành lang nội tỉnh Quốc lộ 53, 54 và 57 đã được quy hoạch để hình thành chuỗi công nghiệp chế biến, cụm logistics nông sản, kho lạnh và trung tâm đóng gói phục vụ xuất khẩu (UBND tỉnh Vĩnh Long, 2026a); việc cần làm là chuyển định hướng đó thành dự án khởi công cụ thể.

Ba là, thu hút 1-2 dự án chế biến sâu quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt thay vì phân tán ưu đãi cho nhiều dự án nhỏ, bởi 1 dự án đầu tàu có thể tạo hiệu ứng lan tỏa đáng kể cho công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ đi kèm. Chủ thể chính là Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Xây dựng và Ban Quản lý các khu kinh tế; mốc ưu tiên là hoàn thiện hạ tầng Khu kinh tế Định An cùng các trục kết nối ra biển trước năm 2028.

Đẩy mạnh chuyển dịch mô hình nông nghiệp sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu gắn với kinh tế số và kinh tế tuần hoàn

Khu vực nông, lâm, thủy sản vẫn chiếm 32,65% GRDP năm 2025 nên mục tiêu tăng trưởng 2 con số khó đạt nếu khu vực này trì trệ. Hướng đi phù hợp là nâng giá trị trên mỗi đơn vị diện tích: tổ chức lại sản xuất theo vùng chuyên canh gắn với doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu, trên nền quỹ đất chuyên trồng lúa ổn định 150.000 đến 160.000 ha; nhân rộng mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và du lịch sinh thái dọc hành lang sông Tiền, sông Hậu, ven biển; ưu tiên phát triển ngành dừa theo chuỗi giá trị và chế biến sâu theo Chương trình số 15-CTr/TU (Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025).

Cùng với đó, cần khai thác dư địa mới từ không gian ven biển bằng phát triển điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối hài hòa với bảo tồn rừng ngập mặn, hướng tới trở thành trung tâm sản xuất năng lượng tái tạo của vùng. Kết quả quý I/2026 cho thấy biến động của riêng ngành sản xuất điện đã làm thay đổi đáng kể tốc độ tăng trưởng công nghiệp (Cục Thống kê, 2026) nên phát triển năng lượng phải đi kèm đa dạng hóa nguồn tăng trưởng. Về thích ứng khí hậu, nguồn lực cần tập trung cho đê bao, kè chống sạt lở, cống ngăn mặn và công trình trữ nước ngọt theo thứ tự ưu tiên rõ ràng; với tỷ lệ che phủ rừng chỉ 2,3%, trồng và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển vừa là giải pháp sinh thái vừa là hạ tầng phòng hộ cho sản xuất. Chủ thể chính là Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương cùng chính quyền các xã, phường ven biển; mốc ưu tiên là hoàn thành các công trình phòng chống sạt lở, xâm nhập mặn trọng điểm giai đoạn 2026-2028.

Đổi mới môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và huy động đa dạng các nguồn lực tài chính

Chất lượng thể chế là điều kiện để vốn và hạ tầng phát huy hiệu quả, bởi cùng một đồng vốn và cùng một công trình hạ tầng sẽ tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao hơn ở nơi có chất lượng điều hành tốt hơn (North, 1990; Rodríguez-Pose, 2013), vì vậy, đây là nhóm giải pháp có tính nhân với toàn bộ các nhóm còn lại. Trước hết, cần thống nhất quy trình, thủ tục hành chính trên toàn địa bàn Tỉnh mới theo chuẩn mực cao nhất trong 3 địa bàn cũ, lấy kinh nghiệm điều hành của Bến Tre làm tham chiếu; việc cải thiện các chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS, PAPI và PII cần được giao chỉ tiêu hằng năm cho từng sở, ngành gắn với trách nhiệm người đứng đầu.

Về huy động vốn, mục tiêu 480.000 tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 (Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long, 2025) đòi hỏi nâng tỷ lệ vốn đầu tư trên GRDP từ 19,57% lên 30% vào năm 2030 (Chính phủ, 2026). Ngân sách địa phương không thể gánh phần lớn khoản này nên cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công để tạo vốn mồi, dùng đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân tại các hành lang ưu tiên, áp dụng đối tác công tư cho hạ tầng khu, cụm công nghiệp và logistics, đồng thời triển khai thực chất Nghị quyết số 68-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2025) nhằm nâng số doanh nghiệp đang hoạt động từ 13.120 lên 20.800 vào năm 2030 (Chính phủ, 2026). Chủ thể chính là UBND tỉnh, Sở Tài chính và Sở Nội vụ; mốc ưu tiên là hài hòa hóa bộ thủ tục hành chính toàn Tỉnh trong năm 2026.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng số phục vụ kinh tế số, xã hội số

Mục tiêu giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 38,90% năm 2026 xuống 20,0% vào năm 2030 (Chính phủ, 2026) đồng nghĩa phải chuyển đổi nghề cho một khối lượng lao động rất lớn trong thời gian ngắn. Với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 74,21% nhưng tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ mới đạt 38,94%, chất lượng đào tạo mới là điểm nghẽn chứ không phải độ phủ. Do đó, đào tạo nghề cần gắn trực tiếp với nhu cầu của các khu, cụm công nghiệp và dự án năng lượng tái tạo đang hình thành, theo cơ chế đặt hàng giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; đồng thời, cần chính sách đủ mạnh để thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mới như kinh tế biển, cảng biển, logistics và năng lượng.

Về kinh tế số, cần triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024) nhằm đạt tỷ trọng kinh tế số trong GRDP khoảng 10,08% vào năm 2030 và tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo từ 40% trở lên (Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long, 2025). Hạ tầng số gồm băng thông rộng, trung tâm dữ liệu và nền tảng số dùng chung cần được xem là một cấu phần của hạ tầng phát triển, vì đó là điều kiện để chính quyền số, thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc nông sản vận hành được. Bên cạnh đó, năng lực thực thi cần được thể chế hóa bằng nguyên tắc 6 rõ trong phân công nhiệm vụ (Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2026), gắn với trách nhiệm người đứng đầu và cơ chế công khai tiến độ. Chủ thể chính là Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nội vụ cùng cộng đồng doanh nghiệp; mốc ưu tiên là hoàn thành đề án phát triển nhân lực cho kinh tế biển và năng lượng tái tạo trước năm 2028.

KẾT LUẬN

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới là yêu cầu cấp thiết. Tỉnh Vĩnh Long phải nâng tốc độ tăng trưởng từ 5,84% năm 2025 và 6,41% 6 tháng đầu năm 2026 lên bình quân 10%/năm cho cả giai đoạn 2026-2030, đồng thời vượt lên trên mức 9 đến 9,5%/năm của toàn vùng. Thông điệp chính sách cốt lõi là Vĩnh Long cần tận dụng tối đa lợi thế trung tâm vùng và đột phá hạ tầng giao thông kết nối để chuyển hóa tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực tế, thông qua tái cấu trúc không gian kinh tế theo 05 hành lang động lực, phát triển công nghiệp chế biến sâu và logistics chuỗi lạnh, chuyển mạnh sang nông nghiệp sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu. Chất lượng thể chế và năng lực thực thi là điều kiện bảo đảm để các nhóm giải pháp không dừng lại ở văn bản. Bài viết dựa trên rà soát văn bản chính sách và dữ liệu thứ cấp nên chưa kiểm định bằng mô hình định lượng, hướng nghiên cứu tiếp theo là lượng hóa đóng góp của từng nhân tố tăng trưởng trên số liệu của Tỉnh.

Tài liệu tham khảo:

1. Alesina, A., & Spolaore, E. (1997). On the number and size of nations. The Quarterly Journal of Economics, 112(4), 1027-1056. https://doi.org/10.1162/003355300555411

2. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

5. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026-2030.

6. Cục Thống kê (2026). Công văn số 768/CTK-TKQG ngày 01/4/2026 về thông báo số liệu GRDP ước tính quý I/2026.

7. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (2025). Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 03/10/2025 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

8. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2025). Nghị quyết số 267/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 về nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2026-2030.

9. Krugman, P. (1991). Increasing returns and economic geography. Journal of Political Economy, 99(3), 483-499. https://doi.org/10.1086/261763

10. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.

11. Quốc hội (2025a). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

12. Quốc hội (2025b). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.

13. Quốc hội (2025c). Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10/12/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 81/2023/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

14. Rodríguez-Pose, A. (2013). Do institutions matter for regional development? Regional Studies, 47(7), 1034-1047. https://doi.org/10.1080/00343404.2012.748978

15. Tạp chí Công Thương (2026). Công Thương Vĩnh Long: Công nghiệp, xuất khẩu và năng lượng tạo động lực tăng trưởng. https://tapchicongthuong.vn/cong-thuong-vinh-long--cong-nghiep--xuat-khau-va-nang-luong-tao-dong-luc-tang-truong-540721.htm

16. Thống kê tỉnh Vĩnh Long (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Long năm 2025.

17. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1759/QĐ-TTg ngày 31/12/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

18. Tỉnh ủy Vĩnh Long (2025). Chương trình số 15-CTr/TU ngày 29/12/2025 về thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.

19. Tỉnh ủy Vĩnh Long (2026). Chương trình số 33-CTr/TU ngày 01/7/2026 thực hiện Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

20. UBND tỉnh Vĩnh Long (2025a). Báo cáo số 492/BC-UBND ngày 10/11/2025 về đánh giá tình hình phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2021-2025.

21. UBND tỉnh Vĩnh Long (2025b). Báo cáo số 806/BC-UBND ngày 29/12/2025 về tình hình thực hiện phát triển kinh tế, xã hội năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện năm 2026.

22. UBND tỉnh Vĩnh Long (2026a). Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 15/01/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

23. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1687/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long năm 2025.

24. VCCI (2024). Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2023. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. https://pcivietnam.vn

25. World Bank (2022). Vietnam country climate and development report. World Bank

Ngày nhận bài: 7/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 15/10/2026

Các tin khác

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và áp lực chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, quản trị nguồn nhân lực xanh đã trở thành chiến lược trọng yếu giúp các tổ chức kích hoạt hành vi hướng môi trường của người lao động và nâng cao hiệu suất sinh thái bền vững
Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ lâu được xem là kênh chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản trị quan trọng nhất đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích thực tế mà doanh nghiệp thu được từ mối liên kết này không đồng đều giữa các địa phương.
Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Tại Việt Nam, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong kế toán và kiểm toán ngày càng được quan tâm, song doanh nghiệp vẫn đối mặt với những thách thức về nguồn lực, hạ tầng công nghệ và năng lực nhân sự...
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích.
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, song vẫn chịu nhiều rào cản liên quan đến rủi ro đầu tư và khả năng thu hồi vốn
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức trong đổi mới mô hình kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả đổi mới và xác định hướng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Kinh tế số đang làm thay đổi căn bản cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh, phương thức giao dịch và khả năng kiểm soát của Nhà nước đối với dòng hàng hóa, dòng tiền và dữ liệu giao dịch. Trong mô hình truyền thống, hoạt động kinh doanh thường gắn với địa điểm cố định, giấy phép, hóa đơn chứng từ và hệ thống sổ sách tương đối hữu hình. Ngược lại, trong kinh tế nền tảng, một cá nhân hoặc tổ chức có thể bán hàng, cung cấp dịch vụ, nhận hoa hồng tiếp thị, livestream bán sản phẩm hoặc kinh doanh nội dung số trên nhiều nền tảng khác nhau mà không cần hiện diện vật lý rõ ràng. Điều này đã mở rộng cơ hội kinh doanh nhưng đồng thời làm phát sinh rủi ro thất thu thuế nếu phương thức quản lý không được chuyển đổi tương ứng.
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) bổ sung cho lợi nhuận dồn tích về thanh khoản, khả năng tự tài trợ và chất lượng kết quả kinh doanh.
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Dưới tác động của phát triển bền vững, vai trò của giáo dục đại học đã có sự thay đổi căn bản từ chức năng đào tạo chuyên môn sang yêu cầu gắn kết sâu hơn với các vấn đề xã hội và nhu cầu phát triển của địa phương.