Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam
Trần Mạnh Trường
Nghiên cứu sinh Trường Đại học Đại Nam; Email: [email protected]
Nguyễn Tuấn Anh
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Tóm tắt
Bài báo đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn, tập trung vào các nhân tố rủi ro do khu vực công gánh chịu. Kết quả Delphi hai vòng với 35 chuyên gia về 48 nhân tố rủi ro và số liệu hiện trạng năm 2026. Theo mức phân bổ được nhiều chuyên gia chọn nhất, khu vực công gánh toàn bộ 14 nhân tố và gánh chủ yếu 3 nhân tố, trong đó có 6 trong 10 nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất. Mười hai trong 17 nhân tố vĩ mô gắn với quy định, quyết định của cơ quan nhà nước, nên trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách. Phương án tài chính của dự án là cơ sở phân bổ rủi ro; cần hướng dẫn hợp đồng để chia sẻ rủi ro hài hòa giữa khu vực công và khu vực tư. Giải pháp cho 14 nhân tố được tổ chức thành 5 nhóm: ổn định khung pháp lý PPP; chuẩn hóa phương án tài chính, lợi nhuận, giá nước và thuế; xác lập quyền về tài sản, đất đai và quy hoạch; cam kết tài khóa có mức hỗ trợ tối đa; giám sát chất lượng dịch vụ và quản lý hợp đồng.
Từ khóa: Cấp nước nông thôn, khu vực tư nhân, hoàn thiện chính sách, đối tác công tư, PPP, phân bổ rủi ro, khu vực công, Delphi.
Abstract
This paper proposes solutions for improving the policy framework to attract private sector participation in the investment, management and operation of piped rural water supply schemes in Vietnam, focusing on the risk factors borne by the public sector. The data come from a two-round Delphi survey of 35 experts on 48 risk factors and from 2026 sector statistics. Under the allocation chosen by most experts, the public sector bears 14 factors entirely and 3 factors mainly, including 6 of the 10 most influential factors. Twelve of these 17 factors are macro-level factors tied to the rules and decisions of state agencies, so the focus is on developing and improving institutions and policies. The project's financial plan provides the basis for risk allocation, and contract guidelines are needed for balanced risk sharing between the public and private sectors. Solutions for 14 factors are organized into five groups: stabilizing the PPP legal framework; standardizing financial plans, returns, water tariffs and taxes; securing asset rights, land and planning; capped fiscal commitments; and monitoring service quality and contract management.
Keywords: Rural water supply, Private sector participation, Policy framework, Public-private partnership, PPP, Risk allocation, Public sector, Delphi.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2025, 73,6% hộ nông thôn Việt Nam dùng nước sạch đạt quy chuẩn nhưng chỉ 54,4% từ công trình cấp nước tập trung; 45,4% trong 17.588 công trình tập trung kém bền vững hoặc đã ngừng hoạt động (Bộ Nông nghiệp và Môi trường [Bộ NN&MT], 2026a). Nhu cầu vốn 2026-2030 cho cấp nước sạch nông thôn ước khoảng 85.760 tỷ đồng (Bộ NN&MT, 2026a), gấp 6,4 lần 13.400 tỷ đồng huy động giai đoạn 2020-2024; vốn xã hội hóa và đối tác công tư (PPP) chỉ chiếm 10,7% số vốn đã huy động (Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi [Cục QLXDCTTL], 2025). Doanh nghiệp, tư nhân mới quản lý vận hành 15,2% số công trình, ở Trung du và miền núi phía Bắc chỉ 2,0% (Bộ NN&MT, 2026a).
Khung pháp lý đang dần được hoàn thiện: Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP) đã qua bảy lần sửa đổi, bổ sung (Quốc hội [QH], 2020), Nghị định 243/2025/NĐ-CP thay Nghị định 35/2021/NĐ-CP (Chính phủ [CP], 2025b), Nghị định 312/2025/NĐ-CP quy định quản lý tài chính dự án PPP (CP, 2025c), nhưng vốn tư nhân vào cấp nước nông thôn chưa tăng tương ứng. Các đề xuất chính sách hiện có (Cục QLXDCTTL, 2025) và khung phân bổ, chia sẻ rủi ro đã công bố (Trần Mạnh Trường & Nguyễn Tuấn Anh, 2026b) chưa gắn từng giải pháp với nhân tố rủi ro mà Nhà nước phải gánh chịu, cấp văn bản cần ban hành và vùng cần áp dụng trước.
Nghiên cứu quốc tế về sự tham gia của khu vực tư nhân (KVTN), trong đó có PPP, tập trung vào hai hướng: xếp hạng rủi ro (Ameyaw & Chan, 2015) và phân bổ rủi ro (Ke et al., 2010). Hiệu quả của cơ chế phân bổ phụ thuộc chất lượng môi trường quản trị (Wang et al., 2019); với hạ tầng có chi phí chìm lớn, cam kết điều tiết thiếu tin cậy là nguồn rủi ro gốc (Levy & Spiller, 1994), và phần lớn hợp đồng nhượng quyền cấp thoát nước ở Mỹ Latinh phải tái đàm phán (Guasch, 2004). Vì hiệu quả phân bổ phụ thuộc thể chế từng nước, kết quả quốc tế khó áp dụng nguyên vẹn; khâu chuyển kết quả đánh giá rủi ro thành chính sách gắn với cấp văn bản và địa bàn ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu.
Trần Mạnh Trường và Nguyễn Tuấn Anh đã tổng quan nhân tố rủi ro (2026a) và lượng hóa 48 nhân tố bằng Delphi hai vòng (2026b). Từ kết quả Delphi đó, bài báo xác định các nhân tố rủi ro do khu vực công (KVC) gánh chịu, rồi đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách cho từng nhóm nhân tố, gắn với cấp văn bản cần ban hành và lộ trình áp dụng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu sơ cấp là khảo sát Delphi hai vòng năm 2025; thiết kế, bộ 48 nhân tố (18 nhân tố vĩ mô M1-M18, 30 nhân tố cấp dự án P1-P30) và thang đo theo Trần Mạnh Trường và Nguyễn Tuấn Anh (2026b): thang Likert 1-7 cho mức độ ảnh hưởng, thang năm mức cho bên chịu rủi ro. Mẫu gồm 9 nhà khoa học (KH), 15 nhà quản lý (QL) và 11 đại diện KVTN (TN); thông tin nền của chuyên gia được rà lại năm 2026 (kinh nghiệm trung bình 27,3 năm; 12 tỉnh, thành; 29 người ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long) nên khác số đã công bố trước đó. Phần phân bổ được trả lời theo lập trường nhóm: 33/35 chuyên gia chọn trùng mức của nhóm mình ở cả 48 nhân tố. Vòng 2 đạt đồng thuận mức vừa (Kendall's W = 0,640; p < 0,001); tương quan hạng Spearman giữa RSI hai vòng là 0,978. Dữ liệu thứ cấp là báo cáo hiện trạng tháng 5/2026 của Bộ NN&MT (2026a).
Mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố được đo bằng chỉ số mức độ ảnh hưởng tương đối (Relative Significance Index, RSI), tức điểm trung bình của các chuyên gia chia cho điểm tối đa 7; nhân tố có RSI vòng 2 từ 0,80 trở lên thuộc nhóm trọng yếu (10 nhân tố). Bên chịu rủi ro của mỗi nhân tố lấy theo mức được nhiều chuyên gia chọn nhất ở vòng 2 trên thang năm mức: KVC toàn bộ, KVC chủ yếu, chia sẻ đều, khu vực tư chủ yếu, khu vực tư toàn bộ; đồng thuận là tỷ lệ chuyên gia chọn mức đó. Nhân tố do KVC gánh chịu là nhân tố có mức được chọn nhiều nhất thuộc hai mức đầu.
Giải pháp được đề xuất trên cơ sở rà soát Luật PPP (QH, 2020), các Nghị định 243/2025/NĐ-CP (CP, 2025b), 312/2025/NĐ-CP (CP, 2025c), 117/2007/NĐ-CP (CP, 2007), 43/2022/NĐ-CP (CP, 2022), Thông tư 26/2023/TT-BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [Bộ NN&PTNT], 2023) và Quyết định 10/2024/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ [TTg], 2024), đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế. Mỗi giải pháp được gán cấp văn bản thấp nhất đủ để ban hành: cấp 1 (hợp đồng, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh), cấp 2 (thông tư, hướng dẫn cấp bộ), cấp 3 (nghị định, quyết định của TTg), cấp 4 (luật). Phần kết quả và giải pháp phân tích định tính, dựa trên RSI, mức phân bổ và quy định hiện hành.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Các nhân tố rủi ro do khu vực công gánh chịu
Theo mức phân bổ được chọn nhiều nhất, KVC gánh toàn bộ 14 nhân tố và gánh chủ yếu 3 nhân tố (M15, P24, P25), tổng cộng 17/48 nhân tố (Bảng 1); 20 nhân tố được chia sẻ đều, 11 nhân tố do khu vực tư gánh chủ yếu hoặc toàn bộ. Mười hai trong 17 nhân tố là nhân tố vĩ mô; năm nhân tố cấp dự án còn lại gắn với quy hoạch (P2), quản lý hợp đồng (P18), nguồn nước thay thế (P23), giá nước sinh hoạt (P24) và giám sát (P25). Nhóm này chứa phần lớn rủi ro nặng nhất: 6 trong 10 nhân tố trọng yếu (M2, M9, M5, M1, P25, M6) và cả hai nhân tố cận ngưỡng M4, M18 (RSI = 0,796) do KVC gánh; bốn nhân tố trọng yếu còn lại được chia sẻ (M3, P29, P1) hoặc giao toàn bộ cho khu vực tư (P4).
Bảng 1: Các nhân tố rủi ro do khu vực công gánh chịu theo kết quả Delphi vòng 2
![]() |
Nguồn: Tính từ dữ liệu Delphi vòng 2.
Kết quả gần với Delphi về phân bổ rủi ro PPP ở Trung Quốc, nơi khu vực công nhận phần lớn trách nhiệm với 12 rủi ro gắn với chính quyền và hành vi của công chức, trong đó có thay đổi luật, thay đổi quy định thuế, thu hồi đất và tham nhũng (Ke et al., 2010). Khác biệt là mức độ, chỉ rủi ro trưng thu, quốc hữu hóa được giao toàn bộ cho khu vực công, còn ở Việt Nam 14 nhân tố được giao toàn bộ, kể cả thay đổi pháp lý (M1), thu hồi đất (M14) và tham nhũng (M13); chỉ tăng thuế (M15) được giao chủ yếu, giống kết quả ở Trung Quốc. Kỳ vọng Nhà nước gánh trọn các rủi ro do chính mình tạo ra, theo nhóm tác giả, chỉ khả thi khi các rủi ro đó được giảm từ gốc bằng quy định rõ và cam kết có chế tài chính, thay vì bồi hoàn sau khi đã xảy ra.
Ở phía ngược lại, 11 nhân tố do khu vực tư gánh chủ yếu hoặc toàn bộ đều là rủi ro cấp dự án thuộc năng lực của doanh nghiệp: khảo sát thiết kế (P3), dự báo nhu cầu (P4), năng lực tài chính và năng lực của nhà đầu tư (P8, P9), công cụ tài chính (P15), nguồn vốn tín dụng (P13), kinh nghiệm quản lý (P17), thay đổi nhà đầu tư (P21) và chi phí xây dựng, bảo trì, vận hành (P26, P27, P28). Ở Trung Quốc, khu vực tư nhận phần lớn trách nhiệm với 10 rủi ro cấp dự án nhưng không rủi ro nào bị giao toàn bộ (Ke et al., 2010), ở Việt Nam 9 nhân tố được giao toàn bộ cho khu vực tư. Ranh giới hai phía vì vậy rõ hơn: Nhà nước gánh rủi ro phát sinh từ quy định, quyết định của mình, doanh nghiệp gánh rủi ro phát sinh từ năng lực của mình, còn 20 nhân tố chia sẻ đều là phần hợp đồng phải phân định cụ thể.
Đồng thuận về bên chịu rủi ro cao: ở 14/17 nhân tố, có từ 34/35 chuyên gia trở lên chọn cùng mức. Ba ngoại lệ là khung giá nước (M18), quản lý hợp đồng (P18) và quy hoạch (P2): nhà khoa học và doanh nghiệp chuyển giao toàn bộ cho KVC, còn cả 15 nhà quản lý chọn chia sẻ đều (đồng thuận 57%). Cơ quan quản lý vì vậy nhiều khả năng xem giá nước, quy hoạch và quản lý hợp đồng là trách nhiệm hai bên cùng chịu, trong khi bên đầu tư coi đó là quyết định của Nhà nước. Hợp đồng dự án cần tách phần rủi ro phát sinh từ quyết định của cơ quan nhà nước, với phần phát sinh từ vận hành của doanh nghiệp. Về mức độ ảnh hưởng, doanh nghiệp đánh giá cao hơn nhà quản lý ở 14/17 nhân tố, chênh lệch lớn nhất ở nguồn nước thay thế (P23: 0,675 so với 0,600) và thay đổi pháp lý (M1: 0,870 so với 0,800). Đây là chênh lệch mô tả, chưa kiểm định thống kê, nhưng gợi ý rằng chính sách do cơ quan quản lý thiết kế có thể đánh giá thấp mức rủi ro mà nhà đầu tư định giá.
Giải pháp dưới đây tập trung vào 14 nhân tố liên quan đến KVC, ba nhân tố còn lại không được tách thành nhóm giải pháp riêng: tham nhũng (M13) thuộc khung phòng, chống tham nhũng chung, vượt phạm vi chính sách ngành cấp nước; nguồn nước thay thế (P23) và giá nước sinh hoạt (P24) là rủi ro phía cầu, có thể được xử lý gián tiếp qua giải pháp về khung giá nước (M18), tín dụng đấu nối hộ và chất lượng dịch vụ (M6).
Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút khu vực tư nhân
Mười bốn nhân tố được xếp thành năm nhóm giải pháp theo bản chất của rủi ro (Bảng 2): nhóm (1) và (2) xử lý các quy định do Nhà nước trực tiếp đặt ra; nhóm (3) quy định về tài sản, đất đai và quy hoạch trong hợp đồng PPP; nhóm (4) xử lý nghĩa vụ tài khóa; nhóm (5) bảo đảm đo lường, giám sát và quản lý hợp đồng. Vì 12/17 nhân tố gắn với quy định, quyết định của cơ quan nhà nước, giải pháp ưu tiên sửa quy định và cam kết vào hợp đồng; hỗ trợ tài chính chỉ dùng khi có trần, gắn với kết quả và tập trung vào vùng khó khăn. Mục (6) nêu lộ trình ban hành theo cấp văn bản và vùng.
Bảng 2: Giải pháp cho 14 nhân tố rủi ro do khu vực công gánh chịu
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất.
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý PPP cấp nước nông thôn (M2, M1, M16)
Quy định Luật PPP và văn bản hướng dẫn (M2) là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất (RSI = 0,959) và được cả 35 chuyên gia giao toàn bộ cho KVC. Ngưỡng vốn tối thiểu của dự án PPP đã được bỏ từ 15/01/2025 nhưng trình tự chuẩn bị dự án vẫn áp dụng chung, bất lợi cho dự án nông thôn nhỏ (QH, 2020). Thông tư hướng dẫn PPP cấp nước sạch nông thôn thay Thông tư 26/2023/TT-BNNPTNT cần có tiêu chí gộp công trình cấp xã, liên xã thành một dự án (hợp đồng theo nhóm/cụm công trình), hợp đồng mẫu rút gọn theo Phụ lục III Nghị định 243/2025/NĐ-CP (CP, 2025b) và yêu cầu công bố hồ sơ hiện trạng tài sản trước khi lựa chọn nhà đầu tư. Chỉ việc miễn thủ tục quyết định chủ trương đầu tư cho dự án nhỏ có vốn nhà nước mới cần sửa khoản 3 Điều 11 Luật PPP. Công trình kém bền vững dùng được ngay hợp đồng vận hành và bảo dưỡng (O&M) theo điểm d khoản 1 Điều 45 Luật PPP, không phải qua quyết định chủ trương đầu tư (điểm d khoản 3 Điều 11), chọn nhà đầu tư theo tiêu chí vốn nhà nước hỗ trợ thấp nhất (Bộ NN&PTNT, 2023).
Với thay đổi pháp lý (M1), khoản 2 Điều 82 Luật PPP đã gắn việc chia sẻ phần giảm doanh thu với thay đổi quy hoạch, chính sách, pháp luật, nhưng chỉ cho hợp đồng BOT, BTO, BOO, ở mức 50% và khi doanh thu dưới ngưỡng 75-90% (QH, 2020). Cần mở rộng nguyên tắc này sang hợp đồng O&M và hợp đồng theo cụm theo hướng phân bổ theo nguyên nhân: thay đổi pháp luật nhằm riêng vào dự án hoặc ngành được bồi hoàn qua giá, thời hạn hoặc hỗ trợ, ưu đãi; thay đổi chung do doanh nghiệp tự chịu, vì Điều 12 Luật Đầu tư năm 2025 chỉ bảo đảm ưu đãi đầu tư (QH, 2025). Cách làm này theo nguyên tắc chỉ bồi thường khi điều kiện thay đổi do hành động chính sách của Nhà nước (OECD, 2012). Thay đổi chính phủ và đồng thuận chính trị (M16) gắn với độ tin cậy của cam kết điều tiết, nguồn rủi ro gốc của hạ tầng có chi phí chìm lớn (Levy & Spiller, 1994). Nghị định chuyên ngành về cấp nước sinh hoạt nông thôn có thể nâng các cam kết đang nằm rải rác trong hợp đồng và văn bản địa phương lên mức ổn định hơn; trong khi chờ, danh mục cam kết tối thiểu kèm chế tài đối xứng (Trần Mạnh Trường & Nguyễn Tuấn Anh, 2026b) cần được ghi vào từng hợp đồng.
Thứ hai, hướng dẫn chi tiết phương án tài chính, lợi nhuận, giá nước và thuế (M5, M4, M18, M15)
Chỉ tiêu đầu vào của phương án tài chính (M5, RSI = 0,882) và khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (M4) quyết định dự án có đủ hấp dẫn hay không, vì doanh thu phụ thuộc đồng thời sản lượng, giá và hiệu suất. Cả 35 chuyên gia giao khung lợi nhuận cho KVC, vì mức lợi nhuận được phép do cơ quan nhà nước quy định chứ không do doanh nghiệp tự đặt. Cần ban hành sổ tay lập phương án tài chính quy định tỷ lệ đấu nối thận trọng, ngưỡng thất thoát, thất thu dưới 15% và chỉ số điện năng trên mỗi m³; ngưỡng 15% là mức tham chiếu để UBND cấp tỉnh căn cứ khi quyết định tỷ lệ hao hụt theo điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tư 145/2025/TT-BTC (Bộ Tài chính [BTC], 2025). Khung lợi nhuận hiện hành (Bộ NN&PTNT, 2023) chưa có phần bù rủi ro theo địa bàn; mức bù cho vùng khó khăn cần được xác định qua mô phỏng phương án tài chính theo kịch bản; bài báo chưa ước tính mức bù này.
Với khung giá nước (M18), giá bán lẻ do UBND cấp tỉnh quyết định thường thấp hơn giá tính đúng, tính đủ vì mục tiêu an sinh và phải nằm trong khung giá do BTC thông báo theo khoản 1 Điều 7 Thông tư 145/2025/TT-BTC (BTC, 2025); cách tính giá theo giá thành cộng lợi nhuận phù hợp khoản 1 Điều 65 Luật PPP (QH, 2020) và Điều 5, Điều 6, khoản 2 Điều 7 thông tư này. Phần chênh lệch thuộc chính sách hỗ trợ giá nước sạch do UBND cấp tỉnh quyết định cho khu vực nông thôn, hộ nghèo, hộ chính sách và địa bàn khó khăn (khoản 3 Điều 7 thông tư này); khoản 8 Điều 51 Nghị định số 117/2007/NĐ-CP yêu cầu UBND cấp tỉnh hằng năm xem xét hỗ trợ từ ngân sách địa phương khi giá được quyết định thấp hơn phương án đã tính đúng, tính đủ (CP, 2007). Hợp đồng dự án vì vậy cần ghi giá theo phương án đã thẩm định, giá bán lẻ được duyệt và hỗ trợ cho phần chênh lệch; mức hỗ trợ được đưa vào kế hoạch tài chính trung hạn của địa phương và cố định trong kỳ điều chỉnh giá. Sản lượng hỗ trợ lấy theo phương án đã thẩm định, nên doanh nghiệp vẫn chịu sai lệch sản lượng, giữ phần tiết kiệm và chịu phần vượt chi. Tăng thuế (M15), nhân tố duy nhất trong nhóm do KVC gánh chủ yếu, được xử lý theo cùng nguyên tắc phân bổ theo nguyên nhân ở nhóm (1): thay đổi mức thuế áp dụng riêng cho nước sạch được tính vào giá hoặc hỗ trợ, thay đổi thuế chung do doanh nghiệp gánh chịu.
Thứ ba, quy định về quản lý, khai thác tài sản công trình, đất đai và quy hoạch (M9, M14, P2)
Quyền sở hữu tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước (M9) đứng thứ ba về mức độ ảnh hưởng (RSI = 0,943). Nghị định số 43/2022/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch (CP, 2022); với công trình hiện hữu đưa vào PPP, cần hướng dẫn xác định giá trị còn lại và yêu cầu công bố hồ sơ hiện trạng tài sản trước khi lựa chọn nhà đầu tư, để doanh nghiệp không gánh rủi ro tài sản xuống cấp chưa được ghi nhận do tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch nông thôn hoàn chỉnh đầy đủ để cung cấp dịch vụ. Thu hồi đất (M14) được cả 35 chuyên gia giao toàn bộ cho KVC. Mặt bằng của công trình cấp nước nông thôn gồm điểm khai thác, trạm xử lý và hành lang tuyến ống qua nhiều thôn, xã; chậm bàn giao làm lùi thời điểm đấu nối và phát sinh doanh thu. Hợp đồng vì vậy cần ghi thời hạn bàn giao mặt bằng cho từng hạng mục, kèm bồi hoàn bằng gia hạn thời hạn hợp đồng hoặc điều chỉnh tiến độ khi chậm do phía Nhà nước.
Quy hoạch (P2) có mức độ ảnh hưởng thấp nhất trong nhóm (RSI = 0,608) nhưng là nhân tố nhà quản lý muốn chia sẻ. Mở rộng nghĩa vụ công bố thông tin theo khoản 1 Điều 9 Luật PPP thành danh mục dự án gắn quy hoạch, công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, giúp nhà đầu tư biết trước phạm vi phục vụ. Sụt giảm nhu cầu do Nhà nước đầu tư công trình cạnh tranh trong vùng phục vụ được bồi hoàn, vì mỗi vùng phục vụ chỉ do một đơn vị cấp nước thực hiện theo khoản 1 Điều 32 Nghị định 117/2007/NĐ-CP (CP, 2007); vùng phục vụ được cụ thể hóa bằng bản đồ kèm hợp đồng.
Thứ tư, cam kết tài khóa (M10)
Rủi ro tài khóa (M10) được 34/35 chuyên gia giao toàn bộ cho KVC. Phần hỗ trợ, chia sẻ doanh thu và vốn hỗ trợ xây dựng đều là chi ngân sách, nên rủi ro tài khóa có thể hiểu là rủi ro Nhà nước không chi đúng hạn hoặc cam kết vượt khả năng ngân sách; chi phí của bảo lãnh lại khó ước lượng nên dễ bị cấp quá mức (Irwin, 2007). Bài báo đề xuất HĐND cấp tỉnh quyết định mức tối đa tổng nghĩa vụ hỗ trợ và chia sẻ phần giảm doanh thu hằng năm của các dự án trên địa bàn, chi trả theo thứ tự nguồn ở khoản 3 Điều 82 Luật PPP; cơ quan ký kết lập sổ theo dõi nghĩa vụ dự phòng suốt vòng đời dự án. Ở vùng khó khăn, hỗ trợ có tối đa theo kết quả (Mumssen et al., 2010), giải ngân theo đấu nối đã kiểm định, giúp Nhà nước biết trước mức chi tối đa, khác với bảo đảm doanh thu tối thiểu vốn khó đặt mức hỗ trợ tối đa.
Khoản 2a Điều 69 Luật PPP cho vốn nhà nước đến 70% tổng mức đầu tư ở địa bàn khó khăn; khoản 3 Điều 19 Nghị định 312/2025/NĐ-CP cho thanh toán vốn hỗ trợ xây dựng theo khối lượng hoàn thành được xác nhận, nên có thể định nghĩa khối lượng là số đấu nối đã kiểm định (CP, 2025c). Ở Việt Nam, quỹ hỗ trợ dựa trên kết quả GPOBA (Suardi, 2011) và chương trình P152693 (World Bank, 2015) đã giải ngân theo đấu nối. Tín dụng của Quyết định 10/2024/QĐ-TTg (TTg, 2024), hiện chỉ cho vay công trình cấp nước quy mô hộ gia đình (Điều 1, khoản 2 Điều 3), có thể mở cho chi phí đấu nối hộ vào công trình tập trung, giảm cạnh tranh từ nguồn nước thay thế.
Thứ năm, chất lượng dịch vụ, giám sát và quản lý hợp đồng (M6, P25, P18)
Thiếu tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ (M6) và cơ chế giám sát không chặt chẽ (P25) đều thuộc nhóm trọng yếu (RSI = 0,804). Khoản 1 Điều 7 Thông tư 26/2023/TT-BNNPTNT đã quy định chỉ số đánh giá chất lượng công trình, dịch vụ do doanh nghiệp dự án cung cấp (Bộ NN&PTNT, 2023), nhưng mức đáp ứng chất lượng sản phẩm, dịch vụ vẫn để hợp đồng dự án xác định (điểm c). Cần ban hành bộ chỉ số đầu ra có ngưỡng gồm bốn nhóm: mức độ cung cấp dịch vụ, tình trạng tài sản, bảo trì, môi trường (Bộ NN&MT, 2026b), kế thừa Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá nước sạch nông thôn (Bộ NN&MT, 2025); không đo được kết quả thì không thể thanh toán theo kết quả hay phân bổ theo nguyên nhân.
Giám sát là nhân tố duy nhất trong nhóm trọng yếu được cả 35 chuyên gia giao chủ yếu, không giao toàn bộ, cho KVC, tức doanh nghiệp cũng phải tham gia. Khi chưa có cơ quan điều tiết ngành độc lập, cách giám sát cần phù hợp với năng lực điều tiết và năng lực cam kết còn hạn chế (Estache & Wren-Lewis, 2009): doanh nghiệp tự báo cáo, cơ quan ký kết tổ chức giám sát theo khoản 2 Điều 66 Luật PPP (QH, 2020), hệ thống trực tuyến cảnh báo khi chỉ số vượt ngưỡng và cộng đồng giám sát chất lượng, giá. Với quản lý hợp đồng (P18), hợp đồng cần cụ thể hóa việc duy trì dịch vụ đến khi bàn giao, quyền của bên cho vay (CP, 2025b) và cơ chế giải quyết tranh chấp nhiều cấp căn cứ chỉ số thực hiện, kèm cảnh báo sớm và tiếp quản tạm thời để dịch vụ không gián đoạn khi doanh nghiệp vi phạm. Vì nhà quản lý muốn chia sẻ rủi ro này, hợp đồng nên quy định nghĩa vụ của cả hai bên trong quản lý hợp đồng: cơ quan ký kết chịu hậu quả của chậm phê duyệt, chậm thanh toán; doanh nghiệp chịu hậu quả của chậm báo cáo và vi phạm chỉ số.
KẾT LUẬN
Bài báo chuyển kết quả Delphi thành giải pháp chính sách cho các nhân tố rủi ro do KVC gánh chịu. Một là, KVC gánh toàn bộ hoặc chủ yếu 17/48 nhân tố, trong đó có 6/10 nhân tố trọng yếu và hai nhân tố cận ngưỡng; phần lớn là quy định, quyết định do Nhà nước đặt ra, nên trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách, kèm hỗ trợ tài chính mức tối đa theo vùng chứ không thay quy định bằng hỗ trợ tài chính. Hai là, chuyên gia Việt Nam giao toàn bộ cho KVC nhiều rủi ro hơn so với Delphi ở Trung Quốc, nên các rủi ro này cần được giảm từ gốc bằng quy định rõ và cam kết có chế tài; riêng khung giá nước, quy hoạch và quản lý hợp đồng, nhà quản lý chọn chia sẻ, nên hợp đồng cần tách phần rủi ro phát sinh từ quyết định của cơ quan nhà nước. Ba là, giải pháp cho 14 nhân tố được tổ chức thành năm nhóm; phần lớn ban hành được bằng hợp đồng, văn bản cấp tỉnh và cấp bộ, triển khai được trong khi chờ sửa nghị định, luật. Bốn là, các khu vực khó khăn, cần hợp đồng O&M phục hồi công trình, hỗ trợ tối đa theo kết quả và hợp đồng theo cụm, thí điểm trước khi nhân rộng.
Tài liệu tham khảo:
1. Ameyaw, E. E., & Chan, A. P. C. (2015). Evaluating key risk factors for PPP water projects in Ghana: A Delphi study. Journal of Facilities Management, 13(2), 133–155. https://doi.org/10.1108/jfm-10-2013-0051
2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Quyết định số 5634/QĐ-BNNMT ngày 24/12/2025 ban hành Bộ chỉ số Theo dõi - Đánh giá nước sạch nông thôn. https://mae.gov.vn/thuy-loi-nuoc-sach-nong-thon/danh-gia-chat-luong-nuoc-tai-toan-bo-cong-trinh-cap-nuoc-21151.htm
3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026a). Báo cáo về hiện trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn (kèm Công văn số 5026/BNNMT ngày 19/5/2026).
4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026b). Đề cương chi tiết Thông tư hướng dẫn bộ chỉ số đánh giá (KPI) và yêu cầu kết quả đầu ra cho dự án PPP cấp nước nông thôn (dự thảo).
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2023). Thông tư số 26/2023/TT-BNNPTNT ngày 22/12/2023 hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư lĩnh vực thủy lợi, cung cấp nước sạch nông thôn. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=209291&pageid=27160
6. Bộ Tài chính. (2025). Thông tư số 145/2025/TT-BTC ngày 31/12/2025 hướng dẫn nội dung đặc thù trong định giá nước sạch. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=216468&pageid=27160
7. Chính phủ. (2007). Nghị định số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch (Văn bản hợp nhất số 51/VBHN-BXD ngày 19/6/2026). https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/6/51-vbhn-bxd.pdf
8. Chính phủ. (2022). Nghị định số 43/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=206055
9. Chính phủ. (2025a). Nghị định số 140/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=213913
10. Chính phủ. (2025b). Nghị định số 243/2025/NĐ-CP ngày 11/9/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=215319
11. Chính phủ. (2025c). Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 06/12/2025 quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=216137&pageid=27160
12. Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi. (2025). Báo cáo tổng quan về công tác nước sạch nông thôn trong phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng nông thôn văn minh. Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
13. Estache, A., & Wren-Lewis, L. (2009). Toward a theory of regulation for developing countries: Following Jean-Jacques Laffont's lead. Journal of Economic Literature, 47(3), 729–770. https://doi.org/10.1257/jel.47.3.729
14. Guasch, J. L. (2004). Granting and renegotiating infrastructure concessions: Doing it right. World Bank. https://doi.org/10.1596/0-8213-5792-1
15. Irwin, T. C. (2007). Government guarantees: Allocating and valuing risk in privately financed infrastructure projects. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-0-8213-6858-9
16. Ke, Y., Wang, S., Chan, A. P. C., & Lam, P. T. I. (2010). Preferred risk allocation in China's public-private partnership (PPP) projects. International Journal of Project Management, 28(5), 482–492. https://doi.org/10.1016/j.ijproman.2009.08.007
17. Levy, B., & Spiller, P. T. (1994). The institutional foundations of regulatory commitment: A comparative analysis of telecommunications regulation. Journal of Law, Economics, and Organization, 10(2), 201–246. https://doi.org/10.1093/oxfordjournals.jleo.a036849
18. Mumssen, Y., Johannes, L., & Kumar, G. (2010). Output-based aid: Lessons learned and best practices. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-0-8213-8188-5
19. OECD. (2012). Recommendation of the Council on Principles for Public Governance of Public-Private Partnerships. https://legalinstruments.oecd.org/en/instruments/OECD-LEGAL-0392
20. Quốc hội. (2020). Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật số 64/2020/QH14 (Văn bản hợp nhất số 81/VBHN-VPQH ngày 26/3/2026). https://vanban.chinhphu.vn/?docid=217353&pageid=27160
21. Quốc hội. (2025). Luật Đầu tư, Luật số 143/2025/QH15 ngày 11/12/2025. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=216524
22. Suardi, M. (2011). Output-based aid in Vietnam: Access to piped water services for rural households. World Bank. https://doi.org/10.1596/10874
23. Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 10/2024/QĐ-TTg ngày 15/7/2024 về tín dụng thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=210672
24. Trần Mạnh Trường & Nguyễn Tuấn Anh. (2026a). Các nhân tố rủi ro trong dự án cấp nước nông thôn có sự tham gia của khu vực tư nhân: Nghiên cứu tổng quan và hàm ý cho Việt Nam. Tạp chí Kinh tế - Tài chính. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/cac-nhan-to-rui-ro-trong-du-an-cap-nuoc-nong-thon-co-su-tham-gia-cua-khu-vuc-tu-nhan-nghien-cuu-tong-quan-va-ham-y-cho-viet-nam-166915.html
25. Trần Mạnh Trường & Nguyễn Tuấn Anh. (2026b). Phân bổ và chia sẻ rủi ro trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công - tư trong cấp nước tập trung nông thôn: thiết kế hợp đồng. Tạp chí điện tử Quản lý nhà nước.
26. Wang, H., Liu, Y., Xiong, W., & Song, J. (2019). The moderating role of governance environment on the relationship between risk allocation and private investment in PPP markets: Evidence from developing countries. International Journal of Project Management, 37(1), 117–130. https://doi.org/10.1016/j.ijproman.2018.10.008
27. World Bank. (2015). Results-Based Scaling Up Rural Sanitation and Water Supply Program (P152693). https://projects.worldbank.org/en/projects-operations/project-detail/P152693
| Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/10/2026; Ngày duyệt đăng: 22/10/2026 |
Các tin khác
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách du lịch nội địa: Nghiên cứu tại Khu du lịch sinh thái Làng Yến, tỉnh Đồng Tháp

