Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro
Vũ Tiến Huy
Bộ Tài chính
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết phân tích yêu cầu chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam trong bối cảnh thương mại điện tử, kinh tế nền tảng, livestream bán hàng, tiếp thị liên kết, kinh doanh qua mạng xã hội và dịch vụ số xuyên biên giới phát triển nhanh. Thông qua tổng hợp tài liệu, chính sách và số liệu chính thức, bài viết làm rõ ba nội dung chính: Trên cơ sở tổng hợp tài liệu, phân tích chính sách và sử dụng số liệu thứ cấp công bố bởi cơ quan quản lý nhà nước, bài viết làm rõ 3 vấn đề: Sự bùng nổ của thương mại điện tử; bước chuyển sang mô hình quản lý thuế dựa trên dữ liệu, nền tảng và dòng tiền; và những khoảng trống tuân thủ do dữ liệu phân mảnh, định danh chưa đồng bộ và giao dịch đa kênh. Bài viết đề xuất nhóm giải pháp theo hướng hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu nền tảng, kết nối dữ liệu thuế, dân cư, ngân hàng, vận chuyển, hóa đơn điện tử, quản lý dòng tiền, ứng dụng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ tuân thủ tự nguyện, thanh tra dựa trên rủi ro và tăng trách nhiệm của nền tảng số.
Từ khóa: Chống thất thu thuế, kinh tế nền tảng, thương mại điện tử, quản lý thuế, quản trị dữ liệu, quản lý rủi ro
Mã JEL: H21, H26, H83, O33
Abstract
This article examines the requirements for preventing tax revenue losses from digital platform-based business activities in Viet Nam amid the rapid growth of e-commerce, the platform economy, livestream selling, affiliate marketing, social media commerce, and cross-border digital services. Based on a review of literature and policies, together with secondary data published by state management agencies, the article addresses three key issues: the rapid expansion of e-commerce; the shift toward tax administration based on data, platforms, and financial flows; and compliance gaps arising from fragmented data, inconsistent identification systems, and multichannel transactions. The article proposes a set of solutions focusing on institutional improvement; standardization of platform data; integration of tax, population, banking, transportation, and electronic invoice data; financial flow monitoring; the application of big data analytics and artificial intelligence; support for voluntary compliance; risk-based tax audits; and greater accountability of digital platforms.
Keywords: Tax revenue loss prevention, platform economy, e-commerce, tax administration, data governance, risk management
JEL classification: H21, H26, H83, O33.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, thương mại điện tử đã trở thành một cấu phần quan trọng của thị trường tiêu dùng. Năm 2024, quy mô thị trường đạt trên 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023 và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Năm 2025, quy mô thương mại điện tử tiếp tục đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5% và chiếm khoảng 10-11% tổng mức bán lẻ tùy nguồn công bố (Bộ Công Thương, 2026). Mức tăng trưởng này cho thấy dư địa nguồn thu ngân sách từ khu vực kinh doanh số là đáng kể nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản lý thuế dựa trên dữ liệu, định danh và đối soát dòng tiền.
Rủi ro thất thu thuế trong kinh doanh trên nền tảng số biểu hiện ở nhiều dạng: không đăng ký thuế, đăng ký không đúng hoặc không thống nhất thông tin, không kê khai hoặc kê khai thiếu doanh thu, chia nhỏ giao dịch qua nhiều tài khoản; chuyển giao dịch ra ngoài nền tảng, che giấu doanh thu từ livestream, quảng cáo, tiếp thị liên kết và sáng tạo nội dung, hoặc phát sinh doanh thu xuyên biên giới nhưng không có hiện diện thương mại truyền thống tại Việt Nam. Do đó, chống thất thu thuế trong kinh tế nền tảng không thể chỉ dựa vào kiểm tra sau giao dịch, mà cần chuyển sang quản trị dữ liệu, quản lý rủi ro và trách nhiệm chia sẻ dữ liệu của nền tảng.
Trong những năm gần đây, chính sách quản lý thuế đối với thương mại điện tử đã có chuyển động rõ rệt. Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 30/5/2023 nhấn mạnh yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ phát triển thương mại điện tử, chống thất thu thuế và bảo đảm an ninh tiền tệ. Đặc biệt, Nghị định số 117/2025/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân, trong đó nhấn mạnh vai trò của tổ chức quản lý nền tảng trong khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay đối với một số trường hợp. Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình theo dõi từng người bán phân tán sang mô hình quản lý tại các điểm tập trung dữ liệu và dòng tiền.
CƠ SỞ PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết tiếp cận vấn đề chống thất thu thuế trên các nền tảng lý luận: (i) Lý thuyết tuân thủ thuế, theo đó thất thu không chỉ phát sinh từ hành vi trốn thuế có chủ ý mà còn từ thiếu thông tin, chi phí tuân thủ cao, năng lực quản lý hạn chế và cơ chế giám sát chưa phù hợp; (ii) Tiếp cận quản lý rủi ro thuế, trong đó nguồn lực thanh tra, kiểm tra cần được phân bổ dựa trên dấu hiệu rủi ro thay vì kiểm tra đại trà; (iii) Tiếp cận quản trị dữ liệu công, coi dữ liệu giao dịch, dữ liệu thanh toán, định danh số và hóa đơn điện tử là hạ tầng thiết yếu của quản lý nhà nước trong kinh tế số.
Bài viết sử dụng nghiên cứu định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp. Nguồn dữ liệu gồm: văn bản chính sách của Việt Nam, số liệu công bố của Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Cục Thuế và Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, tài liệu quốc tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về quản lý thuế đối với kinh tế nền tảng và các nghiên cứu liên quan đến thuế trong kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử và quản lý thuế số.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Về quy mô thương mại điện tử và kết quả quản lý thuế
Số liệu công bố chính thức cho thấy thương mại điện tử Việt Nam tăng nhanh, trong khi cơ quan thuế cũng mở rộng đáng kể phạm vi quản lý. Đến năm 2025, ngành Thuế đã đưa vào quản lý khoảng 95.000 doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử, rà soát hơn 1,2 triệu hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số, quản lý 202 nhà cung cấp nước ngoài thực hiện kê khai, nộp thuế qua cổng thông tin điện tử; thu thập hơn 40 tỷ giao dịch với tổng giá trị trên 336 nghìn tỷ đồng từ 439 sàn thương mại điện tử; đồng thời triển khai khai thay, nộp thay đối với hơn 500.000 gian hàng trên nền tảng có chức năng thanh toán (Bộ Tài chính, 2026).
Bảng 1: Quy mô thị trường và kết quả quản lý thuế thương mại điện tử giai đoạn 2020 - 2025
|
Năm |
Quy mô/diễn biến TMĐT B2C |
Chỉ tiêu quản lý thuế/chống thất thu được công bố |
Chỉ số tính toán |
|
2020 |
Doanh thu TMĐT B2C khoảng 11,8 tỷ USD |
Chưa có chuỗi công khai thống nhất về số thu thuế TMĐT toàn thị trường; thuế nhà thầu từ một số công ty cung cấp dịch vụ số xuyên biên giới đạt 1.144 tỷ đồng |
Giai đoạn đầu hình thành khoảng trống quản lý đối với dịch vụ số và giao dịch phi vật lý |
|
2021 |
Doanh thu TMĐT B2C khoảng 13,7 tỷ USD |
Thuế nhà thầu từ một số công ty cung cấp dịch vụ số xuyên biên giới đạt 1.591 tỷ đồng |
Nhu cầu quản lý nhà cung cấp nước ngoài và giao dịch xuyên biên giới trở nên rõ hơn |
|
2022 |
Quy mô TMĐT bán lẻ ước đạt 16,4 tỷ USD, tăng khoảng 20% |
Doanh thu thuộc diện quản lý thuế khoảng 3,1 triệu tỷ đồng; số thuế đã nộp 83 nghìn tỷ đồng |
Tỷ lệ số thuế đã nộp/doanh thu quản lý thuế khoảng 2,68% |
|
2023 |
Quy mô TMĐT đạt 20,5 tỷ USD, tăng khoảng 25%, chiếm xấp xỉ 8% tổng mức bán lẻ |
Doanh thu thuộc diện quản lý thuế khoảng 3,5 triệu tỷ đồng; số thuế đã nộp 97 nghìn tỷ đồng |
Tỷ lệ số thuế đã nộp/doanh thu quản lý thuế khoảng 2,77% |
|
2024 |
Quy mô thị trường đạt trên 25 tỷ USD, tăng khoảng 20%, chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ |
Số thu thuế từ TMĐT được công bố khoảng 116 nghìn tỷ đồng; tăng cường kết nối dữ liệu website, tài khoản thanh toán, ngân hàng và sàn TMĐT |
Giai đoạn chuyển từ kê khai phân tán sang quản lý dựa trên dữ liệu và đối soát |
|
2025 |
Quy mô TMĐT khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, chiếm khoảng 10-11% tổng mức bán lẻ |
Số thu từ hoạt động TMĐT khoảng 208,8 nghìn tỷ đồng, truy thu, xử phạt gần 1,2 nghìn tỷ đồng, quản lý 95.000 doanh nghiệp, rà soát hơn 1,2 triệu hộ/cá nhân, quản lý 202 nhà cung cấp nước ngoài |
Bước ngoặt về bao phủ dữ liệu và trách nhiệm nền tảng; yêu cầu quản trị rủi ro theo dữ liệu trở nên cấp thiết |
Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Công Thương (2025, 2026), Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024, 2024), Bộ Tài chính (2026, 2026), Cục Thuế (2024) và tính toán của tác giả.
Các số liệu trên cho thấy, quy mô thị trường thương mại điện tử tăng nhanh, làm cho cơ sở thuế tiềm năng mở rộng nhưng đồng thời tạo áp lực lớn đối với năng lực quản lý truyền thống. Từ năm 2022, số thu thuế từ thương mại điện tử tăng mạnh cùng với việc mở rộng cổng thông tin, hóa đơn điện tử, cơ sở dữ liệu nền tảng và phối hợp với ngân hàng. Mức truy thu, xử phạt gần 1,2 nghìn tỷ đồng năm 2025 cho thấy khu vực này vẫn tồn tại rủi ro không tuân thủ đáng kể, cần được xử lý bằng phân tích dữ liệu và thanh tra dựa trên rủi ro thay vì kiểm tra đại trà.
Bảng 2: Chỉ số định lượng về bao phủ dữ liệu và năng lực chống thất thu thuế nền tảng số
|
STT |
Nhóm chỉ số |
Số liệu/công bố định lượng |
Giá trị phân tích đối với chống thất thu |
|
1 |
Doanh thu thuộc diện quản lý thuế |
Năm 2022: khoảng 3,1 triệu tỷ đồng; năm 2023: khoảng 3,5 triệu tỷ đồng |
Cho phép tính tỷ lệ số thuế đã nộp/doanh thu quản lý thuế, lần lượt khoảng 2,68% và 2,77%, đây là chỉ báo gián tiếp về hiệu quả thu trên doanh thu đã nhận diện |
|
2 |
Kết nối dữ liệu tài khoản thanh toán |
Dữ liệu tài khoản thanh toán từ 96 ngân hàng thương mại; quy mô công bố trên 144 triệu tài khoản tổ chức/cá nhân |
Tạo nền tảng đối soát dòng tiền với doanh thu kê khai, nhất là giao dịch ngoài sàn và tài khoản cá nhân |
|
3 |
Dữ liệu giao dịch từ sàn TMĐT |
Hơn 40 tỷ giao dịch, tổng giá trị trên 336 nghìn tỷ đồng từ 439 sàn TMĐT |
Nguồn dữ liệu lớn phục vụ chấm điểm rủi ro, phát hiện doanh thu bất thường, trùng định danh, chia nhỏ doanh thu và né kê khai |
|
4 |
Bao phủ chủ thể kinh doanh số |
Khoảng 95.000 doanh nghiệp TMĐT và hơn 1,2 triệu hộ/cá nhân kinh doanh nền tảng số được rà soát/quản lý |
Mở rộng cơ sở thuế, giảm khoảng trống đối tượng chưa định danh hoặc chưa đăng ký nghĩa vụ thuế |
|
5 |
Nhà cung cấp nước ngoài |
202 nhà cung cấp nước ngoài qua cổng điện tử, số thu 13,9 nghìn tỷ đồng, tăng 59,9% so với cùng kỳ năm trước |
Tăng hiệu quả quản lý dịch vụ số xuyên biên giới, quảng cáo, phần mềm, ứng dụng và nội dung số |
|
6 |
Hóa đơn điện tử và máy tính tiền |
Hệ thống tiếp nhận, xử lý hàng chục tỷ hóa đơn điện tử; dữ liệu hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền tiếp tục mở rộng |
Tạo dữ liệu giao dịch chuẩn hóa, hỗ trợ đối soát doanh thu thực tế với kê khai thuế |
|
7 |
Truy thu, xử phạt |
Năm 2025, kiểm tra, xử lý vi phạm trong TMĐT truy thu, xử phạt gần 1,2 nghìn tỷ đồng |
Cho thấy rủi ro không tuân thủ vẫn hiện hữu; củng cố nhu cầu thanh tra, kiểm tra dựa trên rủi ro |
Nguồn: Tổng hợp từ Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024), Bộ Tài chính (2026), Cục Thống kê (2026) và tính toán của tác giả.
Như vậy, quy mô hoạt động kinh doanh số tăng nhanh, mức độ bao phủ dữ liệu và đối tượng quản lý tăng mạnh từ năm 2022 đến 2025 và khoảng trống tuân thủ vẫn tồn tại, thể hiện qua nhu cầu truy thu, xử phạt và yêu cầu thiết lập cơ chế khấu trừ, nộp thay qua nền tảng.
Các dạng rủi ro thất thu thuế chủ yếu
Thất thu thuế trong kinh tế nền tảng có đặc điểm khác với thất thu thuế truyền thống. Trong kinh tế truyền thống, rủi ro thường gắn với hóa đơn, kê khai doanh thu, chi phí, hàng tồn kho hoặc giao dịch tiền mặt. Trong kinh tế nền tảng, rủi ro có thể phát sinh ngay từ khâu định danh người kinh doanh, xác định nguồn doanh thu, phân loại hoạt động chịu thuế, đối soát dữ liệu giao dịch và truy vết dòng tiền. Người bán có thể sử dụng nhiều tài khoản, nhiều gian hàng, nhiều nền tảng và nhiều phương thức thanh toán để phân tán doanh thu.
Bảng 3: Các dạng rủi ro thất thu thuế trong hoạt động kinh doanh trên nền tảng số
|
STT |
Dạng rủi ro |
Biểu hiện chủ yếu |
|
1 |
Không đăng ký/không định danh |
Cá nhân bán hàng online, livestream, tiếp thị liên kết chưa đăng ký thuế hoặc sử dụng thông tin không thống nhất |
|
2 |
Kê khai thiếu doanh thu |
Chỉ kê khai một phần doanh thu qua sàn; doanh thu ngoài nền tảng không được phản ánh |
|
3 |
Chia nhỏ doanh thu |
Dùng nhiều tài khoản, nhiều gian hàng, người thân đứng tên để giảm ngưỡng quản lý |
|
4 |
Dòng tiền phức hợp |
Thanh toán qua COD, ví điện tử, tài khoản cá nhân, trung gian thanh toán |
|
5 |
Nhà cung cấp nước ngoài |
Cung cấp dịch vụ số xuyên biên giới nhưng không có hiện diện vật lý truyền thống |
|
6 |
Thu nhập mới từ nền tảng |
KOL/KOC, quảng cáo, sáng tạo nội dung, affiliate marketing, livestream |
Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở OECD (2019), Aslam và Shah (2017), Bộ Tài chính (2026).
Chuyển đổi khung chính sách
Trước đây, quản lý thuế thương mại điện tử chủ yếu dựa vào tuyên truyền, rà soát người bán, yêu cầu tự kê khai và kiểm tra sau giao dịch. Cách tiếp cận này vẫn cần thiết nhưng không đủ trong điều kiện số lượng người bán lớn, giao dịch phân tán và dòng tiền có thể đi qua nhiều kênh. Các văn bản chính sách mới đã chuyển dần sang quản lý theo điểm kiểm soát dữ liệu, trong đó nền tảng số, ngân hàng, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển và hệ thống định danh được xem là các mắt xích quan trọng của quản lý nhà nước. Theo OECD (2019), nền tảng số có thể nâng cao hiệu quả thu VAT/GST nhờ vai trò tạo lập, hỗ trợ hoặc thực hiện giao dịch trực tuyến, đồng thời nắm giữ nhiều thông tin quan trọng về người bán và giao dịch. Khuyến nghị này tương thích với hướng chính sách của Việt Nam khi trao vai trò nhất định cho nền tảng trong khấu trừ, nộp thay, cung cấp dữ liệu và hỗ trợ tuân thủ. Về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ mô hình “theo đuổi từng người bán nhỏ lẻ” sang mô hình “quản lý tại điểm tập trung dữ liệu”.
Các điểm nghẽn trong thực thi quản lý thuế nền tảng số:
Mặc dù đã có nhiều kết quả tích cực, công tác chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số vẫn còn một số điểm nghẽn.
Điểm nghẽn dữ liệu phân mảnh: Một giao dịch số thường để lại dấu vết ở nhiều chủ thể khác nhau: nền tảng nắm dữ liệu đơn hàng, ngân hàng và trung gian thanh toán nắm dữ liệu dòng tiền, đơn vị vận chuyển nắm dữ liệu giao hàng và thu hộ, cơ quan công thương nắm thông tin nền tảng, cơ quan thuế nắm mã số thuế và lịch sử tuân thủ; cơ sở dữ liệu dân cư nắm định danh cá nhân. Nếu không có cơ chế kết nối và chuẩn hóa, dữ liệu chưa tạo thành năng lực quản lý thống nhất.
Điểm nghẽn giao dịch ngoài nền tảng: Nhiều người bán sử dụng nền tảng để tiếp cận khách hàng nhưng lại chốt đơn qua tin nhắn, mạng xã hội hoặc chuyển khoản cá nhân. Một số trường hợp tách giao dịch lớn thành nhiều đơn nhỏ, sử dụng nhiều tài khoản nhận tiền hoặc mượn tài khoản người thân. Khi dòng tiền đi ra ngoài hệ thống của nền tảng, cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thay chỉ kiểm soát được một phần doanh thu
Điểm nghẽn năng lực phân tích dữ liệu lớn: Dữ liệu 40 tỷ giao dịch từ 439 sàn thương mại điện tử là nguồn dữ liệu rất lớn, nhưng để chuyển thành kết quả quản lý cần có thuật toán chấm điểm rủi ro, quy trình cảnh báo bất thường và bộ chỉ số tuân thủ. Nếu năng lực công nghệ chưa theo kịp, cơ quan thuế có thể khó phân loại đúng đối tượng rủi ro cao, dẫn đến hoặc kiểm tra quá rộng gây tốn kém, hoặc bỏ sót nhóm có nguy cơ thất thu lớn.
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
Từ việc nhận diện các dạng rủi ro và điểm nghẽn thực thi, để nâng cao hiệu quả chống thất thu thuế trong kinh tế số, bài viết đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ hướng tới chuyển đổi sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và quản lý rủi ro hiện đại. Cụ thể:
Hoàn thiện thể chế theo hướng bao quát mô hình kinh doanh nền tảng số: Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý thuế đối với kinh doanh trên nền tảng số theo hướng bao quát, linh hoạt và dựa trên dữ liệu. Nghị định số 117/2025/NĐ-CP đã tạo bước tiến quan trọng khi xác lập trách nhiệm của tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng thanh toán trong khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay đối với hộ, cá nhân kinh doanh. Tuy nhiên, kinh tế nền tảng biến đổi nhanh, nên các văn bản hướng dẫn cần làm rõ hơn các tình huống như livestream bán hàng qua tài khoản cá nhân, thu nhập tiếp thị liên kết, thu nhập từ nội dung số, giao dịch xuyên biên giới, doanh thu COD, hoàn hủy đơn, voucher, chiết khấu và phí nền tảng. Nguyên tắc quản lý cần hướng tới là đúng dữ liệu, đúng người, đúng giao dịch, đúng nghĩa vụ. Đúng dữ liệu nghĩa là thông tin do nền tảng cung cấp phải đủ để định danh người bán, xác định doanh thu và đối soát với dữ liệu thanh toán. Đúng người nghĩa là doanh thu phải được gắn với mã số thuế hoặc số định danh cá nhân tương ứng. Đúng giao dịch nghĩa là phải phân biệt giao dịch thành công, giao dịch hủy, hoàn tiền, chiết khấu và phí dịch vụ. Đúng nghĩa vụ nghĩa là áp dụng đúng thuế suất, căn cứ tính thuế và trách nhiệm kê khai theo từng loại hình kinh doanh.
Xây dựng cơ chế quản lý theo điểm kiểm soát dữ liệu: Trong kinh doanh nền tảng số, điểm kiểm soát hiệu quả nhất không phải luôn là người bán riêng lẻ, mà là các nơi tập trung dữ liệu: nền tảng thương mại điện tử, nền tảng thanh toán, ngân hàng, đơn vị vận chuyển, nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo, mạng xã hội và cổng thanh toán. Cơ quan thuế cần chuyển từ tư duy đi tìm từng người bán sang tư duy quản lý các điểm phát sinh và lưu giữ dữ liệu giao dịch. Dữ liệu do nền tảng cung cấp cần bao gồm thông tin người bán, mã định danh, số tài khoản nhận tiền, doanh thu, số đơn hàng, loại hàng hóa/dịch vụ, doanh thu bị hoàn hủy, phí nền tảng, phương thức thanh toán và thông tin giao hàng. Cơ chế này giúp cơ quan thuế giảm phụ thuộc vào kê khai chủ quan của từng cá nhân và tăng khả năng đối chiếu chéo giữa các nguồn dữ liệu.
Kết nối dữ liệu thuế, dân cư, ngân hàng, thanh toán, vận chuyển và hóa đơn điện tử: Chống thất thu thuế trong nền kinh tế số trước hết là chống thất thu thông tin. Khi cơ quan thuế không biết ai đang kinh doanh, doanh thu ở đâu và dòng tiền đi qua kênh nào thì khó có thể thu đúng, thu đủ. Vì vậy, kết nối dữ liệu liên ngành là giải pháp nền tảng. Cần xây dựng cơ chế liên thông giữa cơ sở dữ liệu thuế với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, dữ liệu ngân hàng, dữ liệu trung gian thanh toán, dữ liệu sàn thương mại điện tử, dữ liệu vận chuyển và dữ liệu hóa đơn điện tử. Trong đó, mã định danh cá nhân và mã số thuế cần được sử dụng thống nhất để định danh chủ thể kinh doanh.
Quản lý dòng tiền thanh toán và giao hàng thu tiền hộ: Dữ liệu nền tảng sẽ không đầy đủ nếu dòng tiền bị chuyển ra ngoài hệ thống. Vì vậy, quản lý dòng tiền là giải pháp trọng yếu để hạn chế thất thu. Trước mắt, cần khuyến khích các chủ thể kinh doanh trên nền tảng sử dụng tài khoản thanh toán gắn với mã số thuế hoặc số định danh cá nhân. Đối với người bán có doanh thu vượt ngưỡng nhất định, có thể nghiên cứu yêu cầu đăng ký tài khoản kinh doanh chuyên biệt để phục vụ đối soát thuế. Cơ quan thuế cần phối hợp với ngân hàng và trung gian thanh toán để xây dựng các chỉ báo rủi ro về dòng tiền: tài khoản cá nhân nhận nhiều khoản thanh toán có nội dung mua hàng; tài khoản nhận tiền từ nhiều ví điện tử hoặc đơn vị vận chuyển; dòng tiền thường xuyên nhưng không có đăng ký kinh doanh hoặc kê khai thuế; nhiều tài khoản liên quan đến cùng số điện thoại, địa chỉ giao hàng hoặc thiết bị. Các chỉ báo này nên được sử dụng làm căn cứ rà soát, nhắc nhở, yêu cầu giải trình hoặc thanh tra rủi ro, không nên là căn cứ xử lý tự động khi chưa có bước xác minh phù hợp.
Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và quản trị rủi ro: Quy mô dữ liệu giao dịch của thương mại điện tử hiện vượt xa khả năng xử lý thủ công. Với hàng chục tỷ giao dịch được thu thập từ các sàn thương mại điện tử, cơ quan thuế cần đầu tư mạnh vào hệ thống phân tích dữ liệu lớn, chấm điểm rủi ro và phát hiện bất thường. Đây là hướng phù hợp với Tax Administration 3.0 của OECD (2020), trong đó quản lý thuế trở nên liền mạch, dữ liệu hóa và tích hợp với hoạt động tự nhiên của người nộp thuế. Hệ thống quản trị rủi ro nên xây dựng bộ chỉ số riêng cho từng nhóm đối tượng: doanh nghiệp thương mại điện tử, hộ/cá nhân kinh doanh, người bán livestream, KOL/KOC, nhà cung cấp nước ngoài và nền tảng số. Các tiêu chí rủi ro có thể gồm doanh thu tăng bất thường nhưng kê khai thấp, doanh thu nền tảng không khớp dữ liệu ngân hàng; nhiều gian hàng có chung thông tin liên hệ, tỷ lệ hoàn hủy bất thường, doanh thu từ quảng cáo hoặc tiếp thị liên kết không tương ứng với kê khai thuế; hoặc dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản ngân hàng không khai báo.
Đơn giản hóa nghĩa vụ thuế và tăng hỗ trợ tuân thủ tự nguyện: Một hệ thống thuế hiện đại không chỉ phát hiện vi phạm tốt hơn, mà còn làm cho việc tuân thủ trở nên dễ dàng hơn. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, nhiều trường hợp không cố ý trốn thuế mà thiếu thông tin, thiếu kỹ năng kê khai hoặc e ngại thủ tục phức tạp. Vì vậy, cơ quan thuế cần tiếp tục mở rộng công cụ hỗ trợ tuân thủ tự nguyện, trong đó có cổng thông tin và ứng dụng di động theo hướng tự động gợi ý nghĩa vụ thuế dựa trên dữ liệu doanh thu đã được nền tảng cung cấp Hoạt động truyền thông cần được thiết kế theo phân khúc. Thông điệp dành cho doanh nghiệp thương mại điện tử khác với thông điệp dành cho người bán nhỏ, KOL/KOC, người livestream, chủ gian hàng OCOP hay nhà cung cấp xuyên biên giới. Tài liệu hướng dẫn nên ngắn gọn, có ví dụ cụ thể, video hướng dẫn và câu hỏi thường gặp, đồng thời cần được tích hợp trực tiếp vào giao diện của nền tảng và cổng thuế điện tử.
Thanh tra, kiểm tra dựa trên rủi ro và nâng cao trách nhiệm của nền tảng: Hỗ trợ tuân thủ tự nguyện cần đi đôi với chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý trốn thuế. Tuy nhiên, thanh tra, kiểm tra không nên triển khai đại trà mà cần dựa trên phân tích rủi ro. Cơ quan thuế nên ưu tiên nhóm có quy mô giao dịch lớn, tăng trưởng bất thường, chênh lệch lớn giữa dữ liệu nền tảng và dữ liệu kê khai, có nhiều tài khoản liên quan hoặc có dấu hiệu chuyển doanh thu ra ngoài hệ thống. Các trường hợp có rủi ro thấp nên được quản lý bằng nhắc nhở, hỗ trợ và tự động hóa kê khai. Nền tảng số cần được xem là một mắt xích quản lý thuế quan trọng. Ở cấp độ cung cấp dữ liệu, nền tảng phải bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, đúng chuẩn và đúng thời hạn. Ở cấp độ hỗ trợ tuân thủ, nền tảng cần tích hợp thông báo nghĩa vụ thuế, hiển thị báo cáo doanh thu, hỗ trợ người bán đăng ký mã số thuế và cung cấp lịch sử giao dịch. Ở cấp độ khấu trừ - nộp thay, nền tảng có chức năng thanh toán cần thực hiện khấu trừ đúng thời điểm, đúng tỷ lệ, đúng đối tượng và cung cấp chứng từ để người bán theo dõi nghĩa vụ thuế của mình.
KẾT LUẬN
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thương mại điện tử và kinh tế nền tảng phát triển nhanh tại Việt Nam. Các số liệu về quy mô thị trường và kết quả quản lý thuế giai đoạn 2020 - 2025 cho thấy cơ sở thuế tiềm năng ngày càng mở rộng, đồng thời khẳng định hiệu quả bước đầu của cách tiếp cận dựa trên dữ liệu, nền tảng và cơ chế khấu trừ - nộp thay. Tuy nhiên, các rủi ro thất thu vẫn tiếp tục phát sinh do giao dịch đa kênh, dòng tiền phức hợp, kinh doanh ngoài nền tảng, chia nhỏ doanh thu, nhà cung cấp xuyên biên giới và nhận thức tuân thủ chưa đồng đều. Bài viết cho rằng trọng tâm chính sách trong giai đoạn tới không nên chỉ là tăng cường truy thu sau vi phạm, mà phải xây dựng mô hình quản lý thuế số hiện đại. Mô hình đó cần dựa trên các trụ cột: thể chế bao quát mô hình nền tảng, trách nhiệm của nền tảng số, kết nối dữ liệu liên ngành, quản lý dòng tiền thanh toán; phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ tuân thủ tự nguyện, thanh tra, kiểm tra dựa trên rủi ro và chế tài đủ mạnh. Khi các trụ cột này được triển khai đồng bộ, Nhà nước có thể vừa chống thất thu ngân sách, vừa nuôi dưỡng nguồn thu, bảo đảm công bằng thuế và tạo môi trường kinh doanh minh bạch giữa kinh doanh truyền thống và kinh doanh số.
Tài liệu tham khảo:
1. Aslam, A., & Shah, A. (2017). Taxation and the peer-to-peer economy (IMF Working Paper No. 2017/187). International Monetary Fund. https://doi.org/10.5089/9781484313763.001
2. Bộ Công Thương (2025). Thương mại điện tử Việt Nam năm 2024: Những bước tiến và thách thức. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương. https://moit.gov.vn/khoa-hoc-va-cong-nghe/thuong-mai-dien-tu-viet-nam-nam-2024-nhung-buoc-tien-va-thach-thuc.html
3. Bộ Công Thương (2025). Tỷ trọng về thương mại điện tử chiếm 2/3 giá trị của nền kinh tế số Việt Nam. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương. Truy cập ngày 12/10/2026, từ https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/hoat-dong-cua-cac-don-vi/cuc-thuong-mai-dien-tu-va-kinh-te-so-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-nam-2024-va-trien-khai-nhiem-vu-nam-2025.html
4. Bộ Công Thương (2026). Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương. https://moit.gov.vn/tin-tuc/cuc-thuong-mai-dien-tu-va-kinh-te-so-tong-ket-cong-tac-nam-2025-va-trien-khai-nhiem-vu-nam-2026.html
5. Bộ Tài chính (2026). Cải cách quản lý thuế trong kỷ nguyên số: Từ nâng cấp hệ thống đến kiến tạo nền tảng quản trị dựa trên dữ liệu. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính. Truy cập ngày 12/10/2026, từ https://www.mof.gov.vn/tin-hoc-thong-ke/tin-noi-bat-6/cai-cach-quan-ly-thue-trong-ky-nguyen-so-tu-nang-cap-he-thong-den-kien-tao-nen-tang-quan-tri-dua-tren-du-lieu
6. Bộ Tài chính (2026). Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tạo bước đột phá trong quản lý thuế. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính. https://mof.gov.vn/chuyen-doi-so/tin-tuc-su-kien/day-manh-chuyen-doi-so-toan-dien-tao-buoc-dot-pha-trong-quan-ly-thue
7. Bộ Tài chính (2026). Tăng cường quản lý thuế thương mại điện tử. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính. https://mof.gov.vn/cong-nghe-thong-tin-va-chuyen-doi-so/hoat-dong-quan-ly/tang-cuong-quan-ly-thue-thuong-mai-dien-tu
8. Chính phủ (2025). Nghị định số 117/2025/NĐ-CP quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=213883&orggroupid=2&pageid=27160
9. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024). Kết nối dữ liệu phục vụ phát triển thương mại điện tử, chống thất thu thuế. https://baochinhphu.vn/ket-noi-du-lieu-phuc-vu-phat-trien-thuong-mai-dien-tu-chong-that-thu-thue-102240426181047633.htm
10. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024). Thu 180 nghìn tỷ đồng thuế từ hoạt động thương mại điện tử. https://baochinhphu.vn/thu-180-nghin-ty-dong-thue-tu-hoat-dong-thuong-mai-dien-tu-10224042519135163.htm
11. Cục Thống kê (2026). Ngành Thuế năm 2025: Dấu ấn quan trọng trong cải cách thể chế và chuyển đổi số. https://www.nso.gov.vn/default/2026/01/nganh-thue-nam-2025-dau-an-quan-trong-trong-cai-cach-the-che-va-chuyen-doi-so
12. Cục Thuế (2024). Báo cáo kết quả 1 năm triển khai Chỉ thị 18/CT-TTg và công tác quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam. https://gdt.gov.vn/wps/portal
13. OECD (2019). The role of digital platforms in the collection of VAT/GST on online sales. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/e0e2dd2d-en
14. Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 30/5/2023 về đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ phát triển thương mại điện tử, chống thất thu thuế, bảo đảm an ninh tiền tệ. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=207973&pageid=27160
|
Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/10/2026; Ngày duyệt đăng: 18/10/2026 |
Các tin khác
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách du lịch nội địa: Nghiên cứu tại Khu du lịch sinh thái Làng Yến, tỉnh Đồng Tháp