Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Nghiên cứu - Trao đổi 13:58 | 23/10/2026
Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ lâu được xem là kênh chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản trị quan trọng nhất đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích thực tế mà doanh nghiệp thu được từ mối liên kết này không đồng đều giữa các địa phương.

Trần Phương Hà

Viện Khoa học Kinh tế hợp tác; Email: [email protected]

ThS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ

Trung tâm Công nghệ và Dữ liệu số, Cục Thống kê tội phạm và chuyển đổi số

ThS. Nguyễn Thị Thanh Hiên

Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung.

ThS. Mạc Thị Hằng (Tác giả liên hệ)

Phó Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính, Trường Đại học Intracom

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu kiểm định vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương đối với lợi ích mà doanh nghiệp tư nhân thu được từ việc tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Dữ liệu là bộ Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh năm 2025 với 34 tỉnh thành sau sáp nhập đơn vị hành chính. Biến phụ thuộc là Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân; biến giải thích chính là tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, tương tác với chỉ số thể chế được xây dựng từ ba chỉ số thành phần về minh bạch, chi phí không chính thức và thiết chế pháp lý. Kết quả cho thấy liên kết với doanh nghiệp FDI có tác động dương rõ rệt, nhưng hệ số tương tác mang dấu âm với mức ý nghĩa 1%. Tác động biên giảm từ 0,252 tại nhóm tỉnh có thể chế yếu nhất xuống mức không còn ý nghĩa thống kê tại nhóm tỉnh có thể chế tốt nhất. Phát hiện này ủng hộ giả thuyết thay thế thể chế thay vì giả thuyết khuếch đại.

Từ khóa: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chuỗi cung ứng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thay thế thể chế, thể chế địa phương.

Abstract

This study examines the moderating role of local institutional quality in the benefits that private firms derive from participating in the supply chains of foreign-invested enterprises. The data are drawn from the 2025 Provincial Competitiveness Index covering 34 provinces following administrative consolidation. The dependent variable is the Business Performance Index; the key explanatory variable is the share of private firms participating in FDI supply chains, interacted with an institutional index constructed from three sub-indices covering transparency, informal charges and legal institutions. Results show that FDI linkage exerts a clearly positive effect, but the interaction term is negative and significant at the one per cent level. The marginal effect declines from 0.252 in provinces with the weakest institutions to statistical insignificance in those with the strongest. These findings support an institutional substitution hypothesis rather than an amplification hypothesis.

Keywords: Foreign direct investment, institutional substitution, local institutions, provincial competitiveness index, supply chains.

GIỚI THIỆU

Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ lâu được xem là kênh chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản trị quan trọng nhất đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích thực tế mà doanh nghiệp thu được từ mối liên kết này không đồng đều giữa các địa phương.

Lý thuyết năng lực hấp thụ của Cohen và Levinthal (1990) dự đoán rằng thể chế tốt sẽ khuếch đại lợi ích từ nguồn lực bên ngoài, bởi thể chế mạnh giúp bảo vệ quyền sở hữu và tạo thuận lợi cho lan tỏa tri thức. Ngược lại, một dòng lý thuyết khác cho rằng liên kết với doanh nghiệp nước ngoài có thể đóng vai trò thay thế cho thể chế yếu: doanh nghiệp FDI mang theo hệ thống hợp đồng riêng, tiêu chuẩn chất lượng và kỷ luật thanh toán, giúp doanh nghiệp nội địa vượt qua những khiếm khuyết của môi trường thể chế địa phương.

Hai giả thuyết này dẫn tới dự đoán trái ngược về dấu của số hạng tương tác và chỉ có thể phân định bằng bằng chứng thực nghiệm. Nghiên cứu trước của nhóm tác giả sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian cấp quốc gia đã không thể kiểm định được do chỉ số thể chế quốc gia biến thiên quá chậm, dẫn tới hiện tượng đa cộng tuyến gần hoàn hảo.

Nghiên cứu này khắc phục hạn chế đó bằng cách chuyển sang dữ liệu chéo cấp tỉnh, nơi chất lượng thể chế khác biệt đáng kể giữa các địa phương tại cùng một thời điểm, trong khi các yếu tố vĩ mô quốc gia được giữ không đổi.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết và mô hình

North (1990) xác lập thể chế là nhân tố quyết định chi phí giao dịch và hệ thống động cơ kinh tế. Cohen và Levinthal (1990) bổ sung cơ chế năng lực hấp thụ, theo đó chủ thể chỉ khai thác được tri thức bên ngoài trong giới hạn năng lực nội tại. Từ hai nền tảng này hình thành giả thuyết khuếch đại: thể chế tốt làm tăng lợi ích của liên kết FDI.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về doanh nghiệp tại nền kinh tế chuyển đổi gợi ý khả năng ngược lại. Khi thể chế địa phương yếu, việc trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI mang lại cho doanh nghiệp nội địa một khuôn khổ giao dịch thay thế: hợp đồng được thực thi theo chuẩn của tập đoàn mẹ, thanh toán đúng hạn, tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng. Những lợi ích này có giá trị lớn ở nơi thể chế chính thức chưa bảo đảm được, nhưng giảm dần ở nơi thể chế đã vận hành tốt. Đây là giả thuyết thay thế thể chế.

Mô hình ước lượng có dạng:

HQKTi = β0 + β1LKFDIi + β2TCi + β3(LKFDI × TC)i + Xiδ + εi (1)

Trong đó, HQKT là Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân của tỉnh i; LKFDI là tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; TC là chỉ số thể chế địa phương; X là biến kiểm soát. Giả thuyết khuếch đại dự đoán β3 dương, giả thuyết thay thế dự đoán β3 âm.

Tác động biên của liên kết FDI được xác định bởi β1 + β3 × TC, cho phép đánh giá lợi ích của liên kết tại từng mức thể chế khác nhau.

Dữ liệu và phương pháp ước lượng

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh năm 2025 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố. Đây là bộ dữ liệu đầu tiên áp dụng sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, gồm 34 tỉnh thành thay vì 63 như trước, và sử dụng cấu trúc chín chỉ số thành phần mới.

Biến phụ thuộc là Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân, phản ánh mức độ phát triển và hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn. Biến giải thích chính là tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI. Chỉ số thể chế được xây dựng bằng trung bình cộng ba chỉ số thành phần: tính minh bạch, chi phí không chính thức và thiết chế pháp lý. Biến kiểm soát là tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu phát triển.

Về xử lý kỹ thuật, hai biến giải thích chính được trung tâm hóa quanh giá trị trung bình trước khi tạo số hạng tương tác. Bước xử lý này là bắt buộc: nếu không trung tâm hóa, hệ số tương quan giữa biến gốc và số hạng tương tác đạt trên 0,95, khiến các hệ số không thể diễn giải. Sau khi trung tâm hóa, hệ số tương quan giảm còn 0,225, nằm trong ngưỡng an toàn.

Mô hình được ước lượng bằng bình phương nhỏ nhất với sai số chuẩn vững HC3, phù hợp với mẫu nhỏ. Với 34 quan sát và tối đa năm tham số, tỷ lệ quan sát trên tham số đạt 6,8:1.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Bảng 1 mô tả mức độ biến thiên của các biến chính, cho thấy ưu thế của dữ liệu chéo cấp tỉnh so với dữ liệu chuỗi thời gian quốc gia.

Bảng 1: Thống kê mô tả các biến chính (34 tỉnh thành, năm 2025)

Biến số

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Hệ số biến thiên (%)

Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân

3,265

5,672

4,321

0,587

13,6

Tỷ lệ DN tham gia chuỗi FDI (%)

0,000

7,690

2,211

2,132

96,4

Chỉ số thể chế địa phương

6,374

7,797

7,171

0,368

5,1

Chỉ số PCI tổng hợp

5,817

7,129

6,496

0,324

5,0

Tỷ lệ DN có bộ phận R&D (%)

0,970

14,430

5,416

3,321

61,3

Nguồn: Tác giả tính toán từ bộ dữ liệu PCI 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Điểm đáng chú ý là tỷ lệ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng FDI có hệ số biến thiên 96,4%, dao động từ 0% ở tỉnh thấp nhất đến 7,69% ở tỉnh cao nhất. Mức phân tán lớn này tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận dạng tác động, khác hẳn với chuỗi thời gian cấp quốc gia nơi chỉ số thể chế chỉ biến thiên 11,6%.

Kết quả ước lượng được trình bày ở Bảng 2.

Bảng 2: Kết quả ước lượng tác động của liên kết FDI đến hiệu quả kinh tế tư nhân

Biến giải thích

Mô hình (1)

Mô hình (2)

Mô hình (3)

Mô hình (4)

Hằng số

4,3206*** (0,0944)

4,3206*** (0,0924)

4,3000*** (0,0892)

3,8852*** (0,1413)

Liên kết FDI

0,1226*** (0,0467)

0,1155*** (0,0440)

0,0953*** (0,0364)

0,1013*** (0,0278)

Chỉ số thể chế

–

−0,4342* (0,2525)

−0,4765** (0,2279)

−0,2987* (0,1771)

Liên kết FDI × Thể chế

–

–

−0,2857*** (0,1008)

−0,2935*** (0,0861)

Tỷ lệ DN có R&D

–

–

–

0,0765*** (0,0197)

Số quan sát

34

34

34

34

Tỷ lệ quan sát/tham số

17,0:1

11,3:1

8,5:1

6,8:1

R²

0,1984

0,2719

0,3655

0,5401

R² hiệu chỉnh

0,1733

0,2250

0,3020

0,4767

Thống kê F

6,90**

6,08***

8,47***

14,93***

Breusch–Pagan (p)

0,473

0,855

0,722

0,721

Ramsey RESET (p)

0,684

0,069

0,864

0,929

Nguồn: Tác giả ước lượng. Sai số chuẩn vững HC3 trong ngoặc đơn. Các biến giải thích chính đã được trung tâm hóa. Ký hiệu ***, **, * tương ứng mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

Hệ số của biến liên kết FDI dương và có ý nghĩa ở mức 1% trong cả bốn mô hình, với độ lớn ổn định trong khoảng 0,095 đến 0,123. Điều này khẳng định việc tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI mang lại lợi ích thực chất cho khu vực tư nhân địa phương.

Hệ số tương tác mang dấu âm với mức ý nghĩa 1% ở cả hai mô hình có chứa nó. Kết quả này bác bỏ giả thuyết khuếch đại và ủng hộ giả thuyết thay thế thể chế. Bảng 3 định lượng cụ thể tác động biên tại từng mức thể chế.

Bảng 3: Tác động biên của liên kết FDI theo mức chất lượng thể chế

Nhóm tỉnh theo thể chế

Chỉ số thể chế

Tác động biên

Sai số chuẩn

Thống kê t

Mức ý nghĩa (p)

Phân vị 10 (yếu nhất)

6,620

0,2524

0,0627

4,02

0,0004

Phân vị 25

6,931

0,1636

0,0413

3,96

0,0004

Trung vị

7,229

0,0786

0,0375

2,09

0,0449

Phân vị 75

7,395

0,0311

0,0450

0,69

0,4948

Phân vị 90 (tốt nhất)

7,611

−0,0307

0,0606

−0,51

0,6163

Nguồn: Tác giả tính toán từ Mô hình (3), sử dụng phương pháp Delta để tính sai số chuẩn của tác động biên.

Kết quả tại Bảng 3 cho thấy một quy luật rõ ràng: lợi ích của liên kết FDI lớn nhất ở nhóm tỉnh có thể chế yếu nhất, đạt 0,2524 với mức ý nghĩa dưới 0,1%, và giảm dần khi chất lượng thể chế tăng. Tại phân vị 75 trở lên, tác động không còn ý nghĩa thống kê. Mức suy giảm từ phân vị 25 lên phân vị 75 là 81%.

Thảo luận kết quả

Phát hiện trung tâm của nghiên cứu trái ngược với giả thuyết ban đầu dựa trên lý thuyết năng lực hấp thụ. Cần giải thích cẩn trọng kết quả này.

Cách diễn giải phù hợp nhất là cơ chế thay thế thể chế. Ở những tỉnh có thể chế yếu, doanh nghiệp tư nhân đối mặt với chi phí giao dịch cao, rủi ro hợp đồng lớn và khó tiếp cận thông tin. Khi trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI, họ được tiếp cận một khuôn khổ giao dịch có kỷ luật cao hơn hẳn môi trường xung quanh. Giá trị của khuôn khổ thay thế này tỷ lệ nghịch với chất lượng thể chế sẵn có. Ở những tỉnh đã có thể chế tốt, doanh nghiệp tư nhân vốn đã tiếp cận được các lợi ích tương đương qua hệ thống chính thức, nên phần giá trị tăng thêm từ liên kết FDI giảm đi.

Kết quả này không mâu thuẫn với lý thuyết của North (1990) mà bổ sung một sắc thái quan trọng: thể chế và liên kết thị trường quốc tế có thể thay thế lẫn nhau ở một mức độ nhất định, thay vì luôn bổ trợ. Nó cũng giải thích vì sao một số địa phương thu hút nhiều FDI nhưng chỉ số thể chế cải thiện chậm: khi doanh nghiệp đã có kênh thay thế, áp lực cải cách từ dưới lên giảm đi.

Biến kiểm soát về nghiên cứu phát triển có hệ số dương và có ý nghĩa 1%, đồng thời làm tăng hệ số xác định từ 0,37 lên 0,54. Điều này cho thấy năng lực đổi mới nội tại của doanh nghiệp là nhân tố độc lập và quan trọng, không thể thay thế bằng liên kết bên ngoài.

Nghiên cứu có 4 hạn chế. Thứ nhất, dữ liệu chéo một năm không cho phép khẳng định quan hệ nhân quả; kết quả phản ánh tương quan có điều kiện. Thứ hai, quy mô mẫu 34 tỉnh sau sáp nhập hạn chế số biến kiểm soát có thể đưa vào. Thứ ba, hệ số của chỉ số thể chế mang dấu âm cần được diễn giải thận trọng vì đây là tác động tại mức liên kết FDI trung bình, không phải tác động tổng thể của thể chế. Thứ tư, bộ chỉ số PCI 2025 áp dụng phương pháp mới nên chưa so sánh được với các năm trước.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng từ 34 tỉnh thành cho thấy liên kết với doanh nghiệp FDI mang lại lợi ích rõ rệt cho khu vực tư nhân, nhưng lợi ích này lớn nhất ở những địa phương có thể chế yếu và giảm dần khi thể chế cải thiện. Từ kết quả trên, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp.

Thứ nhất, phân tầng chính sách theo trình độ thể chế địa phương. Đối với nhóm tỉnh có chỉ số thể chế dưới phân vị 25, thúc đẩy liên kết doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng FDI là giải pháp có hiệu lực cao nhất trong ngắn hạn, với tác động biên 0,164 đơn vị. Chính sách nên tập trung vào xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, tổ chức kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ đạt chuẩn kỹ thuật.

Thứ hai, đối với nhóm tỉnh có thể chế đã tốt, việc tiếp tục mở rộng liên kết FDI mang lại lợi ích biên không đáng kể. Ưu tiên của nhóm này nên chuyển sang nâng cao năng lực đổi mới nội tại của doanh nghiệp, vì biến tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu phát triển có tác động dương ổn định và không phụ thuộc vào mức thể chế.

Thứ ba, không nên coi liên kết FDI là giải pháp thay thế lâu dài cho cải cách thể chế. Kết quả cho thấy hiện tượng thay thế chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp và chỉ có lợi cho nhóm doanh nghiệp đã tham gia được chuỗi cung ứng, vốn chiếm tỷ lệ trung bình chỉ 2,21% tổng số doanh nghiệp. Đại bộ phận doanh nghiệp còn lại vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng thể chế địa phương.

Thứ tư, cần theo dõi tỷ lệ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng FDI như một chỉ tiêu điều hành. Mức chênh lệch từ 0% đến 7,69% giữa các tỉnh cho thấy dư địa cải thiện rất lớn ở nhóm địa phương thấp. Việc nâng tỷ lệ này lên mức trung vị của cả nước sẽ mang lại cải thiện đáng kể cho hiệu quả khu vực tư nhân tại các tỉnh đang ở nhóm dưới.

Hướng nghiên cứu tiếp theo là xây dựng dữ liệu bảng nhiều năm khi bộ chỉ số PCI theo phương pháp mới tích lũy đủ số kỳ quan sát, cho phép kiểm soát hiệu ứng cố định địa phương và tiến gần hơn tới suy luận nhân quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Cohen, W. M. và Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation, Administrative Science Quarterly, Tập 35, Số 1, tr. 128–152.

2. Đỗ Hữu Hải (2019). Giáo trình Nghiên cứu thị trường. Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.

3. Đỗ Thị Ngọc Lan (2019). ODA với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

4. Javorcik, B. S. (2004). Does foreign direct investment increase the productivity of domestic firms? American Economic Review, Tập 94, Số 3, tr. 605–627.

5. North, D. C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Nxb Cambridge University Press, Cambridge.

6. Porter, M. E. (1990). The Competitive Advantage of Nations, Nxb Free Press, New York.

7. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2026). Bộ dữ liệu Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh PCI 2025, truy cập từ https://pcivietnam.vn/

Ngày nhận bài: 05/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 07/10/2026; Ngày duyệt đăng: 22/10/2026

Các tin khác

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và áp lực chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, quản trị nguồn nhân lực xanh đã trở thành chiến lược trọng yếu giúp các tổ chức kích hoạt hành vi hướng môi trường của người lao động và nâng cao hiệu suất sinh thái bền vững
Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Việc tổ chức lại đơn vị hành chính làm thay đổi căn bản đặc điểm địa kinh tế của tỉnh Vĩnh Long. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới là yêu cầu cấp thiết.
Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Tại Việt Nam, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong kế toán và kiểm toán ngày càng được quan tâm, song doanh nghiệp vẫn đối mặt với những thách thức về nguồn lực, hạ tầng công nghệ và năng lực nhân sự...
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích.
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, song vẫn chịu nhiều rào cản liên quan đến rủi ro đầu tư và khả năng thu hồi vốn
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức trong đổi mới mô hình kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả đổi mới và xác định hướng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Kinh tế số đang làm thay đổi căn bản cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh, phương thức giao dịch và khả năng kiểm soát của Nhà nước đối với dòng hàng hóa, dòng tiền và dữ liệu giao dịch. Trong mô hình truyền thống, hoạt động kinh doanh thường gắn với địa điểm cố định, giấy phép, hóa đơn chứng từ và hệ thống sổ sách tương đối hữu hình. Ngược lại, trong kinh tế nền tảng, một cá nhân hoặc tổ chức có thể bán hàng, cung cấp dịch vụ, nhận hoa hồng tiếp thị, livestream bán sản phẩm hoặc kinh doanh nội dung số trên nhiều nền tảng khác nhau mà không cần hiện diện vật lý rõ ràng. Điều này đã mở rộng cơ hội kinh doanh nhưng đồng thời làm phát sinh rủi ro thất thu thuế nếu phương thức quản lý không được chuyển đổi tương ứng.
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) bổ sung cho lợi nhuận dồn tích về thanh khoản, khả năng tự tài trợ và chất lượng kết quả kinh doanh.
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Dưới tác động của phát triển bền vững, vai trò của giáo dục đại học đã có sự thay đổi căn bản từ chức năng đào tạo chuyên môn sang yêu cầu gắn kết sâu hơn với các vấn đề xã hội và nhu cầu phát triển của địa phương.