Nhận thức và đánh giá về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác kế toán: Kết quả khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu - Trao đổi 11:04 | 23/10/2026
Tại Việt Nam, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong kế toán và kiểm toán ngày càng được quan tâm, song doanh nghiệp vẫn đối mặt với những thách thức về nguồn lực, hạ tầng công nghệ và năng lực nhân sự...

La Hồng Phong

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

TS. Dương Công Hiệp (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Email: Hiepdc@tueba.edu.vn

Đỗ Ngọc Yến, Bùi Huyền Trang

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Tóm tắt

Nghiên cứu mô tả nhận thức và đánh giá của người làm công tác kế toán đối với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu khảo sát gồm 410 phản hồi. Phương pháp phân tích là thống kê mô tả tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn trên thang đo Likert 5 mức. Mẫu khảo sát có 57,32% nữ, 66,59% người trong độ tuổi 18-27 và 78,78% có trình độ cao đẳng/đại học. Điểm trung bình của các phát biểu về niềm tin, tính hữu ích, tính dễ sử dụng, lãnh đạo chuyển đổi và ứng dụng AI phần lớn nằm trên mức trung lập 3 điểm nhưng chưa đạt 4 điểm. Kết quả phản ánh xu hướng đánh giá tương đối tích cực trong mẫu. Nghiên cứu đề xuất nên tăng cường đào tạo, hướng dẫn ứng dụng và quản trị dữ liệu khi triển khai AI trong kế toán.

Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo, kế toán, nhận thức, Thái Nguyên

Abstract

This study describes the perceptions and assessments of accounting professionals regarding the application of artificial intelligence (AI) in enterprises in Thai Nguyen Province. The survey data comprise 410 responses. The data were analyzed using descriptive statistics, including frequencies, percentages, means, and standard deviations, based on a five-point Likert scale. The sample consisted of 57.32% women, 66.59% respondents aged 18-27, and 78.78% respondents with college or university qualifications. The mean scores for most statements concerning trust, perceived usefulness, perceived ease of use, transformational leadership, and AI adoption were above the neutral midpoint of 3 but below 4. These findings indicate a generally positive assessment among the surveyed respondents. The study recommends strengthening training, providing guidance on AI applications, and improving data governance when implementing AI in accounting.

Keywords: Artificial intelligence, accounting, perceptions, Thai Nguyen

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội đổi mới công tác kế toán thông qua khả năng tự động hóa xử lý dữ liệu, hỗ trợ lập báo cáo, phân tích thông tin và phát hiện bất thường. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI không chỉ phụ thuộc vào khả năng công nghệ mà còn liên quan đến nhận thức của người sử dụng, chất lượng dữ liệu, nguồn nhân lực và điều kiện tổ chức (Mediaty và cộng sự., 2024). Theo Davis (1989), tính hữu ích và tính dễ sử dụng cảm nhận là hai thành phần quan trọng trong việc tiếp nhận công nghệ. Bên cạnh đó, niềm tin vào AI, khả năng kiểm soát rủi ro và trách nhiệm nghề nghiệp cũng cần được xem xét, đặc biệt trong lĩnh vực kế toán và tài chính (Kang và cộng sự., 2024; Svetlova, 2022). Ở cấp độ doanh nghiệp, chuyển đổi số còn gắn với sự thay đổi về tổ chức, quy trình hoạt động và vai trò hỗ trợ của lãnh đạo (Vial, 2019).

Tại Việt Nam, ứng dụng AI trong kế toán và kiểm toán ngày càng được quan tâm, song doanh nghiệp vẫn đối mặt với những thách thức về nguồn lực, hạ tầng công nghệ và năng lực nhân sự (Dương và cộng sự., 2024; Yến, 2024). Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu nhận thức và đánh giá của người làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có ý nghĩa thiết thực. Trên cơ sở khảo sát 410 người tham gia, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xem xét năm nhóm nội dung: tin tưởng vào AI, cảm nhận tính hữu ích, cảm nhận tính dễ sử dụng, lãnh đạo chuyển đổi và ứng dụng AI trong công tác kế toán. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin tham khảo và đề xuất hàm ý thực tiễn nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tại Thái Nguyên tiếp cận và ứng dụng AI phù hợp với điều kiện thực tế.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG KHẢO SÁT

Davis (1989) đưa ra hai khái niệm nền tảng của mô hình chấp nhận công nghệ (TAM): tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận. Kang và cộng sự. (2024) đề cập niềm tin và thái độ khi sử dụng AI tạo sinh, sự tích hợp AI trong tổ chức (Kulkov và cộng sự., 2024), cũng như vấn đề đạo đức và rủi ro hệ thống trong tài chính (Svetlova, 2022). Trên cơ sở bảng hỏi đã xây dựng, nghiên cứu này mô tả năm nhóm phát biểu: tin tưởng vào AI, sự hữu ích của AI, tính dễ sử dụng, lãnh đạo chuyển đổi và ứng dụng AI trong kế toán.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến qua Google Forms, phân phối qua email và các kênh mạng xã hội, nhóm nghề nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, kết hợp thuận tiện và quả cầu tuyết; có 410 phản hồi được tổng hợp. Người tham gia thuộc nhóm nhân viên kế toán đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Các phát biểu được đo bằng thang Likert 5 mức, từ 1 (rất không đồng ý) đến 5 (rất đồng ý).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm người tham gia khảo sát

Kết quả thống kê mô tả cho thấy, trong tổng số 410 người tham gia khảo sát, nhóm tuổi từ 18-27 chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,59%, tiếp đến là nhóm từ 28-37 tuổi (27,07%). Hai nhóm tuổi này chiếm tổng cộng 93,66% mẫu khảo sát, cho thấy người trả lời chủ yếu thuộc nhóm lao động trẻ. Về giới tính, nữ giới chiếm 57,32%, cao hơn nam giới (42,68%). Xét về trình độ học vấn, phần lớn người tham gia có trình độ cao đẳng, đại học (78,78%); tiếp đến là trình độ thạc sĩ trở lên (16,10%), trong khi nhóm có trình độ trung học phổ thông trở xuống chỉ chiếm 5,12%.

Về thu nhập, nhóm người có thu nhập dưới 10 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (45,12%), tiếp đến là nhóm có thu nhập từ 10 đến 15 triệu đồng/tháng (28,29%). Nhóm có thu nhập từ 15 đến 25 triệu đồng/tháng chiếm 14,15%, trong khi nhóm có thu nhập trên 25 triệu đồng/tháng chiếm 12,44%. Kết quả này cho thấy cơ cấu thu nhập của mẫu khảo sát tập trung chủ yếu ở các nhóm dưới 15 triệu đồng/tháng. Về tình trạng hôn nhân, nhóm độc thân chiếm tỷ lệ chủ yếu với 269 người (65,61%), trong khi nhóm đã kết hôn có 141 người (34,39%). Về kinh nghiệm làm việc, nhóm có từ 2-4 năm kinh nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất (38,29%), tiếp đến là nhóm dưới 2 năm (30,24%) và nhóm từ 5-9 năm (19,27%). Trong khi đó, nhóm có từ 10-15 năm và trên 15 năm kinh nghiệm chiếm tỷ lệ tương đối thấp, lần lượt là 8,54% và 3,66%. Nhìn chung, mẫu nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những người độc thân và có thời gian làm việc dưới 5 năm chiếm 68,53%.

Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát (N = 410)

Đặc điểm

Nhóm phân loại

Tần số (người)

Tỷ lệ (%)

Độ tuổi

Từ 18-27 tuổi

273

66,59

Từ 28-37 tuổi

111

27,07

Từ 38-47 tuổi

23

5,61

Từ 48 tuổi trở lên

3

0,73

Giới tính

Nam

175

42,68

Nữ

235

57,32

Trình độ học vấn

Trung học phổ thông trở xuống

21

5,12

Cao đẳng/Đại học

323

78,78

Thạc sĩ trở lên

66

16,10

Thu nhập bình quân/tháng

Dưới 10 triệu đồng

185

45,12

Từ 10 - dưới 15 triệu đồng

116

28,29

Từ 15 - 25 triệu đồng

58

14,15

Trên 25 triệu đồng

51

12,44

Tình trạng hôn nhân

Độc thân

269

65,61

Đã kết hôn

141

34,39

Kinh nghiệm làm việc

Dưới 2 năm

124

30,24

Từ 2-4 năm

157

38,29

Từ 5-9 năm

79

19,27

Từ 10-15 năm

35

8,54

Trên 15 năm

15

3,66

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

Thống kê mô tả kết quả khảo sát

Bảng 2: Bảng tổng hợp kết quả thống kê mô tả

Nhóm nội dung

Số biến

Khoảng giá trị trung bình

Trung bình nhóm

Khoảng độ lệch chuẩn

Tin tưởng vào AI

11

3,324-3,420

3,374

0,896-0,954

Cảm nhận về tính hữu ích

6

3,256-3,420

3,338

0,905-0,955

Cảm nhận về tính dễ sử dụng

6

3,256-3,371

3,337

0,881-0,968

Lãnh đạo chuyển đổi

9

3,237-3,415

3,333

0,872-0,947

Ứng dụng AI trong kế toán

10

3,283-3,361

3,330

0,895-0,953

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Kết quả thống kê mô tả cho thấy giá trị trung bình của 42 biến quan sát dao động từ 3,237 đến 3,420 trên thang đo Likert 5 mức. Tất cả các biến đều có giá trị trung bình lớn hơn mức trung lập 3, phản ánh xu hướng đánh giá tương đối tích cực của người tham gia khảo sát đối với ứng dụng AI trong công tác kế toán, mặc dù mức độ đồng thuận chưa thực sự cao. Đối với nhóm tin tưởng vào AI, giá trị trung bình của 11 biến dao động từ 3,324 đến 3,420, với trung bình chung đạt 3,374, cao nhất trong năm nhóm. Kết quả cho thấy người trả lời có xu hướng tin tưởng vào AI, nhưng mức độ đánh giá chỉ nhỉnh hơn mức trung lập.

Nhóm cảm nhận tính hữu ích có giá trị trung bình dao động từ 3,256 đến 3,420, với trung bình chung đạt 3,338. Điều này cho thấy người tham gia nhìn chung ghi nhận những lợi ích tiềm năng của AI đối với công tác kế toán, song mức độ đồng tình giữa các nội dung chưa hoàn toàn đồng đều.

Đối với nhóm cảm nhận tính dễ sử dụng, giá trị trung bình của 6 biến dao động từ 3,256 đến 3,371, với trung bình chung đạt 3,337. Kết quả phản ánh nhận thức tương đối tích cực về khả năng tiếp cận và sử dụng AI, mặc dù mức đánh giá chưa cao.

Nhóm lãnh đạo chuyển đổi có giá trị trung bình dao động từ 3,237 đến 3,415, với trung bình chung đạt 3,333. Kết quả gợi mở sự cần thiết phải quan tâm đến vai trò định hướng, khuyến khích và hỗ trợ của lãnh đạo trong quá trình tiếp cận AI.

Đối với nhóm ứng dụng AI trong công tác kế toán, giá trị trung bình dao động từ 3,283 đến 3,361, với trung bình chung đạt 3,330, thấp nhất trong năm nhóm. Các kết quả phản ánh nhận thức và kỳ vọng của người trả lời về AI, chưa đủ cơ sở khẳng định mức độ triển khai công nghệ này tại doanh nghiệp.

THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý THỰC TIỄN

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả khảo sát cho thấy người làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có nhận thức tương đối tích cực về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, mức độ đánh giá chưa cao cho thấy việc tiếp cận công nghệ này vẫn cần được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số hoạt động kế toán.

Dưới góc độ chấp nhận công nghệ, nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng của AI là những nội dung đáng chú ý. Theo Davis (1989), đây là hai thành phần quan trọng trong quá trình tiếp nhận công nghệ. Vì vậy, doanh nghiệp cần giúp nhân viên kế toán nhận diện lợi ích cụ thể của AI thông qua các nghiệp vụ như xử lý chứng từ, tổng hợp số liệu và hỗ trợ lập báo cáo, đồng thời tạo điều kiện để họ tiếp cận và trải nghiệm công nghệ trong thực tế. Bên cạnh đó, niềm tin vào AI cần gắn với yêu cầu kiểm soát rủi ro, bảo mật thông tin và bảo đảm tính chính xác của dữ liệu kế toán. Điều này phù hợp với những thảo luận về vai trò của niềm tin trong tiếp nhận AI (Kang và cộng sự., 2024) và các vấn đề đạo đức, rủi ro công nghệ trong lĩnh vực tài chính (Svetlova, 2022).

Ở cấp độ tổ chức, ứng dụng AI không chỉ là đổi mới công nghệ mà còn đòi hỏi sự thích ứng về nhân lực, quy trình và phương thức quản lý. Theo Vial (2019), chuyển đổi số gắn liền với những thay đổi trong tổ chức và hoạt động. Do đó, doanh nghiệp cần chú trọng vai trò định hướng của lãnh đạo và xây dựng lộ trình ứng dụng phù hợp với nguồn lực thực tế. Tuy nhiên, kết quả khảo sát mới phản ánh nhận thức của người tham gia, chưa đủ cơ sở để khẳng định mức độ triển khai AI hoặc tác động của các yếu tố đến việc ứng dụng AI trong doanh nghiệp.

Hàm ý thực tiễn

Từ những vấn đề trên, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tiếp cận và ứng dụng AI trong công tác kế toán.

Thứ nhất, chú trọng phát triển năng lực số của nhân sự kế toán. Doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo kiến thức và kỹ năng sử dụng AI thông qua các tình huống nghiệp vụ cụ thể. Nội dung đào tạo không chỉ tập trung vào thao tác công nghệ mà còn cần hướng dẫn cách kiểm tra kết quả, nhận diện sai sót và sử dụng AI phù hợp với yêu cầu chuyên môn.

Thứ hai, lựa chọn lộ trình ứng dụng phù hợp với điều kiện doanh nghiệp. Việc triển khai AI nên bắt đầu từ những nghiệp vụ có quy trình rõ ràng, dữ liệu tương đối chuẩn hóa và dễ kiểm soát. Doanh nghiệp cần tổ chức thử nghiệm, đánh giá kết quả trước khi mở rộng phạm vi sử dụng, qua đó hạn chế rủi ro và tránh đầu tư thiếu hiệu quả.

Thứ ba, nâng cao vai trò định hướng và hỗ trợ của lãnh đạo. Người quản lý cần xây dựng kế hoạch chuyển đổi số phù hợp, bố trí nguồn lực cần thiết và khuyến khích nhân viên chủ động tìm hiểu công nghệ. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa bộ phận kế toán và công nghệ thông tin để bảo đảm các công cụ AI đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu và kiểm soát rủi ro. Doanh nghiệp cần xây dựng quy định về bảo mật, phân quyền truy cập và kiểm tra thông tin do AI xử lý. Đặc biệt, đối với các nghiệp vụ liên quan đến báo cáo tài chính và nghĩa vụ thuế, kết quả từ AI phải được nhân sự có chuyên môn rà soát trước khi sử dụng chính thức.

Thứ năm, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Các trường đại học và tổ chức nghề nghiệp tại Thái Nguyên có thể phối hợp tổ chức tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn ứng dụng AI trong kế toán, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ của đội ngũ nhân sự.

KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ

Trên cơ sở 410 phản hồi khảo sát, bài viết cung cấp bức tranh mô tả về đặc điểm người trả lời và mức độ đồng ý với các nhận định liên quan đến AI trong công tác kế toán tại Thái Nguyên. Các điểm trung bình phần lớn nhỉnh hơn mức trung lập, song không đủ để kết luận mức độ sẵn sàng cao, mức độ áp dụng thực tế hay tác động nhân quả của các nhóm nội dung. Nghiên cứu bị giới hạn bởi chọn mẫu phi xác suất, phân bố mẫu thiên về người trẻ, thiếu thông tin phân tầng theo doanh nghiệp. Nghiên cứu tiếp theo có thể bổ sung câu hỏi về tình trạng triển khai AI thực tế, tỷ lệ sử dụng theo nghiệp vụ và dữ liệu gốc để phân tích sâu hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. Davis, F. D. (1989). Perceived Usefulness, Perceived Ease of Use, and User Acceptance of Information Technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.

2. Dương, M. Đ., Nguyễn, T. L. A., & Đinh, T. H. (2024). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam, https://tapchiketoankiemtoan.vn/nghien-cuu-cac-nhan-to-anh-huong-den-viec-ap-dung-tri-tue-nhan-tao-ai-trong-linh-vuc-kiem-toan-tai-viet-nam-d3505.html

3. Kang, S., Choi, Y., & Kim, B. (2024). Impact of Motivation Factors for Using Generative AI Services on Continuous Use Intention: Mediating Trust and Acceptance Attitude. Social Sciences, 13(9), 475.

4. Kulkov, I., Kulkova, J., Rohrbeck, R., Menvielle, L., Kaartemo, V., & Makkonen, H. (2024). Artificial intelligence‐driven sustainable development: Examining organizational, technical, and processing approaches to achieving global goals. Sustainable Development, 32(3), 2253-2267.

5. Mediaty, M., Indrijawati, A., Kohar, Y. P., Sutriani, S., & Salsabila, T. (2024). Review of Artificial Intelligence In Accounting: Trends, Implementation and Implications. Journal of Accounting and Finance Management, 5(5), 1146-1160.

6. Svetlova, E. (2022). AI ethics and systemic risks in finance. AI and Ethics, 2(4), 713-725.

7. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. The Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144.

8. Yến, N. T. H. (2024). Áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác kế toán tại Việt Nam, https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/ap-dung-tri-tue-nhan-tao-ai-trong-cong-tac-ke-toan-tai-viet-nam-80755.html

Ngày nhận bài: 05/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 07/10/2026; Ngày duyệt đăng: 15/10/2026

Các tin khác

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi hướng môi trường nơi làm việc: Tổng quan hệ thống tài liệu và khung nghiên cứu tương lai

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và áp lực chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, quản trị nguồn nhân lực xanh đã trở thành chiến lược trọng yếu giúp các tổ chức kích hoạt hành vi hướng môi trường của người lao động và nâng cao hiệu suất sinh thái bền vững
Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới

Việc tổ chức lại đơn vị hành chính làm thay đổi căn bản đặc điểm địa kinh tế của tỉnh Vĩnh Long. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Long trong không gian phát triển mới là yêu cầu cấp thiết.
Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Vai trò điều tiết của chất lượng thể chế địa phương trong mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng FDI và hiệu quả kinh tế khu vực tư nhân

Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ lâu được xem là kênh chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản trị quan trọng nhất đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, lợi ích thực tế mà doanh nghiệp thu được từ mối liên kết này không đồng đều giữa các địa phương.
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích.
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, song vẫn chịu nhiều rào cản liên quan đến rủi ro đầu tư và khả năng thu hồi vốn
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức trong đổi mới mô hình kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả đổi mới và xác định hướng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Kinh tế số đang làm thay đổi căn bản cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh, phương thức giao dịch và khả năng kiểm soát của Nhà nước đối với dòng hàng hóa, dòng tiền và dữ liệu giao dịch. Trong mô hình truyền thống, hoạt động kinh doanh thường gắn với địa điểm cố định, giấy phép, hóa đơn chứng từ và hệ thống sổ sách tương đối hữu hình. Ngược lại, trong kinh tế nền tảng, một cá nhân hoặc tổ chức có thể bán hàng, cung cấp dịch vụ, nhận hoa hồng tiếp thị, livestream bán sản phẩm hoặc kinh doanh nội dung số trên nhiều nền tảng khác nhau mà không cần hiện diện vật lý rõ ràng. Điều này đã mở rộng cơ hội kinh doanh nhưng đồng thời làm phát sinh rủi ro thất thu thuế nếu phương thức quản lý không được chuyển đổi tương ứng.
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) bổ sung cho lợi nhuận dồn tích về thanh khoản, khả năng tự tài trợ và chất lượng kết quả kinh doanh.
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Dưới tác động của phát triển bền vững, vai trò của giáo dục đại học đã có sự thay đổi căn bản từ chức năng đào tạo chuyên môn sang yêu cầu gắn kết sâu hơn với các vấn đề xã hội và nhu cầu phát triển của địa phương.