Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Nghiên cứu - Trao đổi 20:14 | 22/10/2026
Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích.

Nguyễn Nguyên Phong

Email: [email protected]

Trần Ngọc Trinh

Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu tập trung phân tích chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long dưới góc nhìn vốn xã hội và khả năng phục hồi của cộng đồng. Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu định tính, tổng hợp các văn bản chính sách, công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về sự tham gia, liên kết, vốn xã hội và phục hồi, kết quả nghiên cứu cho thấy, định hướng phát triển bền vững, liên kết vùng và thích ứng khí hậu đã khá rõ, nhưng cơ chế thực thi tại cộng đồng còn thiếu cụ thể ở quyền tham gia, phối hợp đa bên, chia sẻ lợi ích, quản trị rủi ro và giám sát kết quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm công cụ: cơ chế điều phối trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; quy trình bảo đảm quyền tham gia; phát triển năng lực, mạng lưới và thị trường; tích hợp phục hồi vào quy hoạch điểm đến; giám sát kết quả gắn với phân phối lợi ích. Khung đề xuất liên kết mục tiêu quản lý với chủ thể chịu trách nhiệm và chỉ số theo dõi ở cấp địa phương.

Từ khóa: Du lịch cộng đồng, vốn xã hội, khả năng phục hồi, chính sách du lịch, quản lý nhà nước

Abstract

The study examines community-based tourism policies in the Mekong Delta through the lens of social capital and community resilience. Employing a qualitative document analysis approach, it synthesizes policy documents and domestic and international research on participation, collaboration, social capital, and resilience. The findings indicate that although policy orientations toward sustainable development, regional connectivity, and climate adaptation are relatively well established, implementation mechanisms at the community level remain insufficiently specified in terms of participation rights, multi-stakeholder coordination, benefit-sharing, risk governance, and outcome monitoring. Accordingly, the study proposes five groups of policy instruments: coordination mechanisms under the two-tier local government model; procedures to safeguard participation rights; capacity building, network development, and market development; integration of resilience into destination planning; and outcome monitoring linked to benefit distribution. The proposed framework connects management objectives with responsible stakeholders and monitoring indicators at the local level.

Keywords: Community-based tourism, social capital, resilience, tourism policy, public administration

GIỚI THIỆU

Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích. Cẩm nang du lịch cộng đồng tại Việt Nam nhấn mạnh sự tham gia, lợi ích tại chỗ và trách nhiệm bảo tồn như những thuộc tính cốt lõi của mô hình (ESRT và WWF-Viet Nam, 2013). Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi hệ sinh thái đất ngập nước, hoạt động sản xuất nông nghiệp, làng nghề, lễ hội và đời sống sông nước tạo nền tảng khác biệt cho sản phẩm du lịch.

Ở cấp chính sách, Việt Nam đã xác lập định hướng phát triển du lịch bền vững, liên kết vùng, bảo tồn tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua Nghị quyết số 120/NQ-CP, Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030, Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Quy hoạch hệ thống du lịch quốc gia (Chính phủ, 2017; Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2022, 2024). Tuy nhiên, khoảng cách giữa định hướng và thực thi vẫn thể hiện ở cách cộng đồng được tham gia, chủ thể điều phối, phương thức chia sẻ lợi ích, năng lực liên kết thị trường và khả năng chuẩn bị trước các cú sốc.

Tổng quan về du lịch cộng đồng tại Việt Nam cũng chỉ ra sự thiên lệch về tăng trưởng kinh tế và khoảng trống trong phân tích chính sách cũng như mức độ tham gia thực chất (Nguyen, Ubukata và Nguyen, 2023). Các nghiên cứu trong vùng cho thấy, sự tham gia của cộng đồng gắn với nguồn lực, vốn xã hội và cơ chế chính sách; đồng thời chất lượng tổ chức, nhân lực và liên kết có ý nghĩa đối với phát triển điểm đến (Mai và cộng sự, 2023; Nguyễn Trọng Nhân và Trương Trí Thông, 2021; Trương Trí Thông và Nguyễn Trọng Nhân, 2024). Ở bình diện lý thuyết, vốn xã hội giải thích cách niềm tin, mạng lưới và chuẩn mực tương hỗ hỗ trợ hành động tập thể; còn khả năng phục hồi mở rộng trọng tâm từ tăng trưởng sang năng lực chuẩn bị, duy trì chức năng thiết yếu, thích ứng và điều chỉnh sau biến động (Putnam, 1995; Partelow, 2021; Zhao và cộng sự, 2025).

Từ đó, nghiên cứu trả lời 2 câu hỏi: (1) vốn xã hội và khả năng phục hồi bổ sung điều gì cho thiết kế chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long; và (2) cơ quan quản lý địa phương có thể chuyển 2 khái niệm này thành các công cụ thực thi như thế nào? Mục tiêu là xây dựng khung phân tích, nhận diện khoảng trống giữa định hướng và điều kiện thực hiện, sau đó đề xuất nhóm công cụ có thể thí điểm. Nghiên cứu không sử dụng dữ liệu khảo sát để khẳng định quan hệ nhân quả; đóng góp chủ yếu là kết nối mục tiêu chính sách, cơ chế tác động, chủ thể chịu trách nhiệm và chỉ số theo dõi trong cùng một cấu trúc.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Du lịch cộng đồng, vốn xã hội và khả năng phục hồi

Du lịch cộng đồng không chỉ là một tập hợp dịch vụ do hộ dân cung ứng, mà là một đối tượng của chính sách công, vì tài nguyên cảnh quan, nguồn nước, không gian văn hóa và hình ảnh điểm đến mang tính dùng chung. Do đó, cơ chế thị trường khó tự giải quyết đầy đủ quyền tiếp cận, giới hạn khai thác, bảo tồn và phân phối lợi ích. Nhà nước cần thiết lập quy tắc sử dụng tài nguyên, bảo đảm tiếng nói của cư dân và phân định trách nhiệm giữa cơ quan công quyền, tổ chức cộng đồng và doanh nghiệp. Các nghiên cứu về nhận thức cư dân cho thấy, du lịch đồng thời tạo lợi ích và chi phí xã hội, vì vậy số lượng cơ sở hay sản phẩm mới không đủ phản ánh chất lượng chính sách (Stronza và Gordillo, 2008).

Vốn xã hội được hiểu là mạng lưới quan hệ, niềm tin và chuẩn mực tương hỗ hỗ trợ các thành viên phối hợp hành động (Putnam, 1995). Trong du lịch cộng đồng, quan hệ nội bộ giúp chia sẻ kinh nghiệm và huy động nguồn lực; quan hệ với doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và tổ chức chuyên môn mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, tri thức và hỗ trợ. Jones (2005) cho thấy, vốn xã hội có thể hỗ trợ hình thành dự án nhưng cũng có thể bị suy giảm bởi cách quản lý; Pramanik và cộng sự (2019) nhấn mạnh rằng, niềm tin không tự động chuyển thành mọi hình thức hành động tập thể. Vì vậy, chính sách phải đi kèm quy tắc rõ, thông tin có thể kiểm tra, đại diện có trách nhiệm và cơ chế xử lý bất đồng.

Khả năng phục hồi của cộng đồng du lịch trong nghiên cứu được hiểu là năng lực chuẩn bị, duy trì các chức năng thiết yếu, thích ứng và điều chỉnh cách tổ chức sau cú sốc. Nghiên cứu tại Gili Trawangan cho thấy, mạng lưới xã hội hỗ trợ huy động thông tin và nguồn lực sau động đất (Partelow, 2021); trong khi Manner-Baldeon và cộng sự (2024) xem phục hồi như một cấu trúc đa chiều gắn với kinh tế, xã hội và môi trường. Tổng quan của Zhao và cộng sự (2025) cho thấy, học hỏi, truyền thông, hành động tập thể và chuẩn bị là các cơ chế quan trọng, nhưng lợi ích có thể phân bố không đều. Do đó, phục hồi cần được gắn với công bằng thông tin, trách nhiệm công và nguồn lực thực thi.

Khung phân tích

Khung phân tích giả định rằng quy tắc, nguồn lực và cơ chế giải trình của chính sách có thể tác động đến năng lực phối hợp của cộng đồng; năng lực phối hợp lại ảnh hưởng đến chia sẻ thông tin, huy động hỗ trợ, phân tán rủi ro và khả năng điều chỉnh hoạt động. Dữ liệu kết quả được sử dụng để phản hồi và hiệu chỉnh chính sách. Bốn nhóm thành phần cốt lõi được tóm tắt tại Bảng 1.

Bảng 1: Khung phân tích chính sách, vốn xã hội và khả năng phục hồi

Thành phần chính sách

Cơ chế vốn xã hội

Kết quả phục hồi hướng tới

Rủi ro cần kiểm soát

Quyền tham gia và đại diện

Tạo kênh trao đổi, niềm tin và phản hồi

Thông tin sớm, phản ứng phối hợp

Đại diện hình thức; nhóm có vị thế chi phối

Phối hợp đa bên

Kết nối cộng đồng với thị trường, Nhà nước và chuyên gia

Tiếp cận tri thức và hỗ trợ

Lệ thuộc đối tác; trách nhiệm không rõ

Chia sẻ lợi ích

Duy trì động cơ hợp tác

Phân tán rủi ro sinh kế

Thiếu minh bạch; hộ ít tiếng nói chịu chi phí

Quản trị rủi ro

Tạo thói quen chia sẻ dữ liệu và học hỏi

Chuẩn bị, thích ứng và điều chỉnh

Kế hoạch hình thức; chuyển trách nhiệm xuống cộng đồng

Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở Jones (2005), Putnam (1995), Partelow (2021), Pramanik và cộng sự (2019), Manner-Baldeon và cộng sự (2024), Zhao và cộng sự (2025). Khung chưa được kiểm định như mô hình nhân quả

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phân tích tài liệu định tính. Tư liệu gốc gồm 31 nguồn được lựa chọn theo mục đích nghiên cứu: văn bản chính sách, các nghiên cứu tiếng Việt về du lịch cộng đồng và Đồng bằng sông Cửu Long, cùng các công trình quốc tế về sự tham gia, vốn xã hội và khả năng phục hồi. Tài liệu bao quát 3 lớp bằng chứng: định hướng quản lý nhà nước; điều kiện triển khai tại Việt Nam và trong vùng; và cơ chế giải thích sự hợp tác, thích ứng của cộng đồng.

Quy trình phân tích gồm 4 bước. Thứ nhất, các văn bản chính sách được đọc theo mục tiêu, phạm vi, yêu cầu về bền vững, liên kết, bảo tồn, thích ứng khí hậu và thẩm quyền thực hiện. Thứ hai, các nghiên cứu được mã hóa theo 5 nhóm: tham gia; phối hợp; năng lực và thị trường; phân phối lợi ích; ứng phó với cú sốc. Thứ ba, kết quả giữa 2 nhóm tài liệu được đối chiếu để nhận diện nội dung đã có định hướng nhưng thiếu công cụ thực thi. Thứ tư, các khoảng trống được chuyển thành khung quan hệ và ma trận công cụ - chủ thể - chỉ số. Cách làm này phù hợp với mục tiêu xây dựng khung chính sách, nhưng không thay thế kiểm định thực nghiệm tại từng địa phương.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Định hướng chính sách và khoảng trống thực thi

Các văn bản cấp quốc gia và cấp vùng đã tạo nền tảng tương đối đầy đủ cho định hướng phát triển bền vững, liên kết vùng, sử dụng tài nguyên hợp lý và thích ứng với biến đổi khí hậu (Chính phủ, 2017; Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2022, 2024). Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và quy định phân định thẩm quyền trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch tạo cơ sở để phân công lại trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã (Quốc hội, 2025; Chính phủ, 2025).

Tuy nhiên, định hướng chung chưa tự động tạo ra cơ chế triển khai ở cộng đồng. Phân tích cho thấy 5 khoảng trống nổi bật: nguyên tắc đại diện; quy trình điều phối; liên kết giữa đào tạo, tài chính và thị trường; quy trình quản trị rủi ro; và chỉ số về chất lượng tham gia, công bằng và phục hồi. Khoảng trống này không hàm ý mọi địa phương thiếu hụt như nhau, mà cho thấy những thành phần cần được cụ thể hóa nếu muốn chuyển mục tiêu chính sách thành kết quả có thể kiểm tra.

Vốn xã hội và cơ chế tham gia, phối hợp

Có người dân cung ứng dịch vụ chưa đồng nghĩa với tham gia quản trị. Nghiên cứu tại Hà Tiên cho thấy kỹ năng, cơ hội và chính sách thu hút liên quan đến mức độ tham gia (Nguyễn Trọng Nhân và Trương Trí Thông, 2021); nghiên cứu trên các điểm đến ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng ghi nhận mối liên hệ giữa sự tham gia, nguồn lực cộng đồng, vốn xã hội và cơ chế chính sách (Mai và cộng sự, 2023). Do đó, chính sách cần phân biệt quyền được biết, quyền góp ý và quyền cùng quyết định hoặc giám sát.

Liên kết là điều kiện thứ hai. Các mô hình du lịch cộng đồng thường quy mô nhỏ, phân tán, trong khi yêu cầu về chất lượng dịch vụ, nhân lực, an toàn, tiếp thị và chuyển khách vượt khả năng của từng hộ riêng lẻ. Hỗ trợ vì vậy cần chuyển từ cấp hộ sang cấp mạng lưới điểm đến: tiêu chuẩn chung, quy tắc sử dụng tài nguyên, cơ chế hợp đồng và kênh kết nối với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý. Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm vốn xã hội liên kết (bridging/linking social capital), nhưng phải đi kèm minh bạch để tránh lệ thuộc vào 1 đầu mối thị trường.

Khả năng phục hồi và quản trị rủi ro

Chính sách vùng đã đặt yêu cầu thích ứng khí hậu, nhưng ở cấp điểm đến khái niệm phục hồi cần được chuyển thành quy trình vận hành. Một hồ sơ rủi ro tối thiểu phải chỉ rõ nguy cơ, nhóm dễ bị ảnh hưởng, dịch vụ và tài sản ưu tiên, kênh cảnh báo, người phụ trách và thứ tự khôi phục. Nghiên cứu sau động đất ở Gili Trawangan cho thấy, mạng lưới hỗ trợ giúp huy động thông tin và nguồn lực trong khủng hoảng, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cấu trúc quan hệ và cách điều phối (Partelow, 2021).

Phục hồi vì vậy không chỉ được đo bằng tốc độ đưa khách trở lại. Một điểm đến có thể khôi phục doanh thu nhưng trở nên lệ thuộc hơn, làm tăng chi phí môi trường hoặc đẩy rủi ro sang nhóm yếu thế. Chính sách cần theo dõi khả năng duy trì dịch vụ thiết yếu, tiếp cận thông tin, phạm vi hỗ trợ và mức độ phục hồi sinh kế, đồng thời gắn kế hoạch rủi ro với quy hoạch sử dụng tài nguyên và giới hạn sức chứa.

Khung công cụ thực thi và chỉ số theo dõi

Từ các khoảng trống trên, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm công cụ. Thứ nhất, cấp tỉnh xác định cơ quan chủ trì, nguồn lực, đầu ra và chu kỳ đánh giá; cấp xã tổ chức tham gia, lập hồ sơ điểm đến và kết nối phản hồi tại chỗ. Thứ hai, tham vấn phải diễn ra trước khi chốt phương án; ý kiến không đồng thuận được ghi nhận và có phản hồi. Thứ ba, đào tạo gắn với nhu cầu thực tế, tư vấn tại chỗ và cơ hội tiếp cận thị trường. Thứ tư, mỗi điểm đến có hồ sơ rủi ro và kế hoạch duy trì hoạt động. Thứ năm, giám sát chuyển từ đếm hoạt động sang đo kết quả về quyền tham gia, năng lực phối hợp, phân phối lợi ích và tình trạng tài nguyên (Bảng 2).

Bảng 2: Ma trận công cụ thực thi và chỉ số theo dõi đề xuất

Vấn đề

Công cụ chính sách

Chủ thể chính

Chỉ số gợi ý

Đại diện và tham gia

Tham vấn; thỏa thuận; kênh khiếu nại

Cấp xã; tổ chức cộng đồng

Nhóm được thông tin; ý kiến được phản hồi; thời hạn xử lý

Phối hợp và thị trường

Tổ liên ngành; hợp đồng; mạng lưới điểm đến

Cơ quan du lịch cấp tỉnh

Hồ sơ xử lý; đối tác hoạt động; mức lệ thuộc thị trường

Năng lực và tài chính

Đánh giá nhu cầu; thực hành; đầu mối hỗ trợ

Cấp tỉnh, cấp xã, đơn vị đào tạo

Quy trình được áp dụng; tiếp cận hỗ trợ; duy trì sau hỗ trợ

Rủi ro và phục hồi

Hồ sơ rủi ro; kế hoạch; đánh giá sau sự cố

Cấp xã; tổ chức cộng đồng

Thời gian truyền tin; dịch vụ duy trì; hộ được hỗ trợ

Công bằng và bảo tồn

Quy tắc lợi ích; báo cáo; quỹ chung; giới hạn khai thác

Tổ chức cộng đồng; cấp xã giám sát

Hộ hưởng lợi; đóng góp chung; phản ánh; tình trạng tài nguyên

Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở phân tích tài liệu

Khung đề xuất thay đổi đơn vị phân tích của chính sách: thay vì xem từng hộ hoặc từng sản phẩm là đối tượng hỗ trợ riêng lẻ, điểm đến được xem như một mạng lưới có tài nguyên chung, quan hệ quyền lực và rủi ro chung. Cách nhìn này giải thích vì sao đầu tư cơ sở vật chất có thể cần thiết nhưng chưa đủ; hạ tầng tốt hơn không tự tạo ra quy tắc chia sẻ khách, niềm tin giữa các hộ hay kế hoạch duy trì hoạt động khi thị trường gián đoạn. Đồng thời, vốn xã hội không nên được lý tưởng hóa: mạng lưới chặt có thể củng cố sự khép kín hoặc thiên vị nếu thiếu minh bạch, đại diện và kênh khiếu nại (Jones, 2005; Putnam, 1995).

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Kết luận

Phân tích cho thấy, chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã có nền tảng định hướng về phát triển bền vững, liên kết vùng và thích ứng khí hậu. Phần cần hoàn thiện chủ yếu nằm ở cách tổ chức thực hiện tại cộng đồng như quyền tham gia, đầu mối phối hợp, phát triển năng lực, chia sẻ lợi ích, quản trị rủi ro và dữ liệu đánh giá. Vốn xã hội giúp giải thích khả năng hợp tác, trong khi khái niệm khả năng phục hồi mở rộng trọng tâm sang năng lực chuẩn bị và điều chỉnh của điểm đến trước biến động. Hai khái niệm chỉ có giá trị quản lý khi được chuyển thành quy tắc, nguồn lực, chủ thể chịu trách nhiệm và chỉ số có thể kiểm tra.

Khuyến nghị giải pháp

Một là, thiết kế cơ chế điều phối phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp tỉnh tập trung vào vấn đề liên xã, liên tỉnh, phân bổ nguồn lực, xúc tiến và dữ liệu; cấp xã tổ chức đối thoại, theo dõi cam kết và phản hồi tại chỗ. Mỗi nhiệm vụ cần có đầu mối, tiến độ và kết quả công khai.

Hai là, chuyển sự tham gia thành quyền và quy trình có thể kiểm tra. Kế hoạch điểm đến cần nhận diện đầy đủ hộ kinh doanh, người cung cấp lao động hoặc nguyên liệu, chủ thể quản lý tài nguyên và nhóm có nguy cơ chịu chi phí môi trường. Tham vấn phải được thực hiện trước quyết định quan trọng; ý kiến khác biệt phải được ghi nhận, phản hồi và có kênh khiếu nại với thời hạn xử lý.

Ba là, đầu tư đồng thời vào năng lực, mạng lưới và quan hệ thị trường. Đào tạo nên dựa trên nhu cầu tại điểm đến, bao gồm quản trị, tính giá, hợp đồng, an toàn, bảo tồn, công cụ số và chuẩn bị rủi ro; kết quả được đánh giá bằng quy trình đã áp dụng thay vì số người tham dự. Các mạng lưới học tập giữa điểm đến, cơ sở đào tạo, hiệp hội và doanh nghiệp cần được tổ chức với tiêu chí đối tác và lợi ích minh bạch.

Bốn là, đưa khả năng phục hồi vào quy hoạch và vận hành điểm đến. Mỗi điểm đến cần hồ sơ rủi ro, danh sách liên lạc, phương án bảo vệ khách và nhóm dễ tổn thương, thứ tự khôi phục dịch vụ và cơ chế đánh giá sau sự cố. Đa dạng hóa sản phẩm và thị trường có thể giảm lệ thuộc nhưng phải tuân thủ sức chứa, giới hạn tài nguyên và tính phù hợp văn hóa.

Năm là, giám sát kết quả và phân phối lợi ích. Số lớp học, cuộc họp hay kinh phí giải ngân chỉ phản ánh hoạt động. Cần bổ sung các chỉ số về mức độ tiếp cận thông tin, tỷ lệ ý kiến được phản hồi, hộ và nhà cung ứng địa phương hưởng lợi, đóng góp cho bảo tồn, mức độ lệ thuộc thị trường, khả năng duy trì dịch vụ khi có cú sốc và tình trạng tài nguyên chung. Việc công khai nên sử dụng số liệu tổng hợp để bảo vệ thông tin cá nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Hạn chế của nghiên cứu nằm ở nguồn dữ liệu thứ cấp và sự khác biệt về địa bàn, đối tượng, phương pháp giữa các nghiên cứu được tổng hợp. Bằng chứng quốc tế không thể chuyển nguyên trạng vào Đồng bằng sông Cửu Long, và nghiên cứu chưa đo lường chất lượng vốn xã hội hoặc khả năng phục hồi tại một điểm đến cụ thể. Vì vậy, 2 bảng đề xuất nên được xem là khung để thiết kế và đánh giá thí điểm. Nghiên cứu tiếp theo cần xây dựng thang đo phù hợp, thu thập dữ liệu theo thời gian, so sánh giữa các mô hình tổ chức và kiểm định quan hệ nhân quả trước khi khuyến nghị mở rộng trên toàn vùng.

(*) Nghiên cứu này được Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh tài trợ trong đề tài mã số T2024.07.2.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

2. Chính phủ (2025). Nghị định số 137/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.

3. Environmentally and Socially Responsible Tourism Capacity Development Programme (ESRT) and World Wide Fund for Nature in Vietnam (WWF-Viet Nam) (2013). Vietnam Community Based Tourism Handbook: A Market-Based Approach.

4. Jones, S. (2005). Community-based ecotourism: The significance of social capital. Annals of Tourism Research, 32(2), 303-324. https://doi.org/10.1016/j.annals.2004.06.007

5. Mai, V. N., Nguyen, Q. N., và Le, T. D. H. (2023). Citizen participation in community-based tourism development in the Mekong Delta, Vietnam. Journal of Law and Sustainable Development, 11(5), e0749. https://doi.org/10.55908/sdgs.v11i5.749

6. Manner-Baldeon, F., Carvache-Franco, M., và Carvache-Franco, W. (2024). Community resilience and its influence on sustainable tourism development. Tourism and Hospitality Management, 30(2), 165-178. https://doi.org/10.20867/thm.30.2.2

7. Nguyễn Trọng Nhân và Trương Trí Thông (2021). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong du lịch: trường hợp thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 57(5C), 223-230. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2021.160

8. Nguyen, Q. T., Ubukata, F., và Nguyen, C. D. (2023). A systematic review of community-based tourism in Vietnam: A critical perspective. Asia-Pacific Journal of Innovation in Hospitality and Tourism, 12(1), 187-221

9. Partelow, S. (2021). Social capital and community disaster resilience: Post-earthquake tourism recovery on Gili Trawangan, Indonesia. Sustainability Science, 16(1), 203-220. https://doi.org/10.1007/s11625-020-00854-2

10. Pramanik, P. D., Ingkadijaya, R., và Achmadi, M. (2019). The role of social capital in community based tourism. Journal of Indonesian Tourism and Development Studies, 7(2), 62-73. https://doi.org/10.21776/ub.jitode.2019.07.02.02

11. Putnam, R. D. (1995). Tuning in, tuning out: The strange disappearance of social capital in America. PS: Political Science và Politics, 28(4), 664-683. https://doi.org/10.2307/420517

12. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.

13. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.

14. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

15. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

16. Trương Trí Thông và Nguyễn Trọng Nhân (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nông nghiệp ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 60(2C), 200-213. https://doi.org/10.22144/ctujos.2024.262

17. Stronza, A., và Gordillo, J. (2008). Community views of ecotourism. Annals of Tourism Research, 35(2), 448-468. https://doi.org/10.1016/j.annals.2008.01.002

18. Zhao, G., Hui, X., Zhao, F., Feng, L., Lu, Y., và Zhang, Y. (2025). How does social capital facilitate community disaster resilience? A systematic review. Frontiers in Environmental Science, 12, 1496813. https://doi.org/10.3389/fenvs.2024.1496813

Ngày nhận bài: 15/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 13/10/2026; Ngày duyệt đăng: 22/10/2026

Các tin khác

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, song vẫn chịu nhiều rào cản liên quan đến rủi ro đầu tư và khả năng thu hồi vốn
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức trong đổi mới mô hình kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả đổi mới và xác định hướng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Kinh tế số đang làm thay đổi căn bản cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh, phương thức giao dịch và khả năng kiểm soát của Nhà nước đối với dòng hàng hóa, dòng tiền và dữ liệu giao dịch. Trong mô hình truyền thống, hoạt động kinh doanh thường gắn với địa điểm cố định, giấy phép, hóa đơn chứng từ và hệ thống sổ sách tương đối hữu hình. Ngược lại, trong kinh tế nền tảng, một cá nhân hoặc tổ chức có thể bán hàng, cung cấp dịch vụ, nhận hoa hồng tiếp thị, livestream bán sản phẩm hoặc kinh doanh nội dung số trên nhiều nền tảng khác nhau mà không cần hiện diện vật lý rõ ràng. Điều này đã mở rộng cơ hội kinh doanh nhưng đồng thời làm phát sinh rủi ro thất thu thuế nếu phương thức quản lý không được chuyển đổi tương ứng.
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) bổ sung cho lợi nhuận dồn tích về thanh khoản, khả năng tự tài trợ và chất lượng kết quả kinh doanh.
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Dưới tác động của phát triển bền vững, vai trò của giáo dục đại học đã có sự thay đổi căn bản từ chức năng đào tạo chuyên môn sang yêu cầu gắn kết sâu hơn với các vấn đề xã hội và nhu cầu phát triển của địa phương.
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam

Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam

Chính sách nhân sự gắn với mục tiêu môi trường được xem là đòn bẩy để tổ chức hiện thực hóa chiến lược xanh qua chính đội ngũ của mình. Tuy nhiên chính sách nhân sự xanh trên giấy không tự nhiên trở thành hành động xanh ngoài khuôn khổ nhiệm vụ.
​​​​​​​Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

​​​​​​​Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Đội ngũ giao dịch viên - những người tiếp xúc và giao dịch trực tiếp với khách hàng - được xem như “bộ mặt” của ngân hàng; là nhóm lao động có kết quả công việc gắn liền với năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu của mỗi ngân hàng thương mại cổ phần.
Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam

Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam

Bảo đảm nguồn cung năng lượng không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu trong điều kiện bình thường mà còn nhằm hạn chế khả năng một cú sốc bên ngoài chuyển thành sự gián đoạn nghiêm trọng trong hệ thống năng lượng quốc gia của Hoa Kỳ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách du lịch nội địa: Nghiên cứu tại Khu du lịch sinh thái Làng Yến, tỉnh Đồng Tháp

Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách du lịch nội địa: Nghiên cứu tại Khu du lịch sinh thái Làng Yến, tỉnh Đồng Tháp

Khu du lịch sinh thái Làng Yến (Tân Phú Đông, Đồng Tháp) là một điểm đến mới nổi, thu hút du khách nhờ sự kết hợp giữa cảnh quan tự nhiên và các hoạt động trải nghiệm mang tính tương tác.