Ảnh hưởng của vốn xã hội tới tự hiệu quả khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Nhung
Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ xây dựng IBST
Email: [email protected]
TS. Trần Ngọc Tú (Tác giả liên hệ)
Giảng viên Trường Đại học Sài Gòn
Email: [email protected]
Tóm tắt
Thông qua dữ liệu khảo sát được thu thập từ 378 sinh viên tại các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của vốn xã hội đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam. Phân tích bằng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM cho thấy, Vốn xã hội có tác động tích cực đáng kể đến Tự hiệu quả khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu cung cấp những bằng chứng thực nghiệm có giá trị trong việc phát triển chương trình đào tạo khởi nghiệp, đồng thời gợi ý cho các trường đại học về việc xây dựng môi trường học tập và kết nối xã hội nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên.
Từ khóa: Vốn xã hội, ý định khởi nghiệp, tự hiệu quả khởi nghiệp, sinh viên, PLS-SEM
Summary
Based on survey data collected from 378 students at universities in Ho Chi Minh City, the study analyzes the impact of social capital on students’ entrepreneurial intention within the context of Vietnamese higher education. The PLS-SEM analysis shows that social capital has a significant positive effect on entrepreneurial self-efficacy and entrepreneurial intention. The findings provide valuable empirical evidence for the development of entrepreneurship education programs and offer practical implications for universities in designing learning environments and fostering social networks to promote students’ entrepreneurial spirit.
Keywords: Social capital, entrepreneurial intention, entrepreneurial self-efficacy, students, PLS-SEM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo ngày càng được chú trọng, khởi nghiệp đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục đại học. Đối với sinh viên - lực lượng lao động trẻ năng động và sáng tạo, thì việc hình thành ý định khởi nghiệp không chỉ góp phần tạo việc làm mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới xã hội. Tuy nhiên, quá trình hình thành ý định khởi nghiệp không chỉ phụ thuộc vào kiến thức hay năng lực cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố xã hội, đặc biệt là vốn xã hội, tức là mạng lưới quan hệ, sự tin cậy và nguồn lực mà cá nhân có thể huy động từ cộng đồng (Nahapiet và Ghoshal, 1998).
Các nghiên cứu quốc tế như Liñán và Santos (2007), Sequeira và cộng sự (2007) hay Arenius và Minniti (2005) đã chỉ ra rằng, vốn xã hội giúp cá nhân tiếp cận thông tin, nguồn lực và cơ hội kinh doanh, từ đó nâng cao ý định khởi nghiệp. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây (Nguyễn và Trần, 2021; Phạm và Lê, 2023) đã bước đầu khẳng định tầm quan trọng của các mối quan hệ xã hội trong việc nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên, song chưa xem xét vai trò trung gian của tự hiệu quả khởi nghiệp. Từ khoảng trống đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định ảnh hưởng của vốn xã hội đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, thông qua biến trung gian là tự hiệu quả khởi nghiệp.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Vốn xã hội được hiểu là tổng thể các mối quan hệ xã hội, niềm tin và chuẩn mực xã hội mà cá nhân có thể tận dụng để đạt được mục tiêu (Putnam, 2000). Theo Nahapiet và Ghoshal (1998), vốn xã hội gồm 3 khía cạnh: cấu trúc (mạng lưới quan hệ), quan hệ (mức độ tin tưởng, cam kết) và nhận thức (giá trị và mục tiêu chung). Đối với sinh viên, vốn xã hội thể hiện qua mối quan hệ với bạn học, giảng viên, doanh nhân hoặc cộng đồng khởi nghiệp. Những mối quan hệ này tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận thông tin, cơ hội và nguồn lực cần thiết cho hoạt động khởi nghiệp.
Tự hiệu quả khởi nghiệp là niềm tin của cá nhân vào khả năng thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh (Chen và cộng sự, 1998). Sinh viên có mức tự tin cao trong việc nhận diện cơ hội, lập kế hoạch kinh doanh và quản trị rủi ro sẽ có xu hướng hình thành ý định khởi nghiệp mạnh mẽ hơn (Zhao và cộng sự, 2005). Tự hiệu quả khởi nghiệp đóng vai trò trung gian quan trọng giữa các yếu tố môi trường và ý định hành động của cá nhân.
Ý định khởi nghiệp là mức độ sẵn sàng của cá nhân trong việc bắt đầu một hoạt động kinh doanh mới (Ajzen, 1991). Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), ý định bị chi phối bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong môi trường đại học, ý định khởi nghiệp của sinh viên phản ánh nhận thức, động lực và kỳ vọng của họ về con đường tự lập kinh doanh.
Các nghiên cứu trước (Sequeira và cộng sự, 2007; Liñán và Santos, 2007) cho rằng, vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp thông qua việc tăng cường sự tự tin và năng lực hành động. Từ đó, nghiên cứu này đề xuất các giả thuyết sau:
H1: Vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến Tự hiệu quả khởi nghiệp của sinh viên.
H2: Tự hiệu quả khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến Ý định khởi nghiệp.
H3: Vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến Ý định khởi nghiệp.
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT VÀ THANG ĐO
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ các giả thuyết nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Thang đo khái niệm nghiên cứu
Các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước. Cụ thể:
Vốn xã hội: 6 biến quan sát, kế thừa từ Nahapiet và Ghoshal (1998), Liñán và Santos (2007), đo lường mức độ tương tác, chia sẻ thông tin và hỗ trợ từ mạng lưới quan hệ.
Tự hiệu quả khởi nghiệp: 5 biến quan sát từ Chen và cộng sự (1998), phản ánh niềm tin vào khả năng nhận diện cơ hội, xây dựng kế hoạch và quản lý rủi ro.
Ý định khởi nghiệp: 4 biến quan sát từ Liñán và Chen (2009), đo lường mức độ sẵn sàng và quyết tâm của sinh viên trong việc bắt đầu kinh doanh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát bằng bảng hỏi có cấu trúc với thang đo Likert 5 mức độ (1 = Hoàn toàn không đồng ý, 5 = Hoàn toàn đồng ý). Đối tượng khảo sát là sinh viên tại 3 trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh (Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính và Trường Đại học Tài chính - Marketing) có quan tâm đến hoạt động khởi nghiệp. Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 400, phương pháp thu thập thông tin được sử dụng là phỏng vấn trực tiếp. Thời gian thực hiện khảo sát từ ngày 10/9-10/10/2025. Trong tổng số 389 phản hồi, có 378 phản hồi hợp lệ. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SmartPLS 4.0. Các bước thực hiện gồm: kiểm định độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha, Composite Reliability), giá trị hội tụ (AVE), phân biệt (HTMT) và kiểm định mô hình cấu trúc (Bootstrapping 5.000 mẫu).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định mô hình đo lường
Để đảm bảo tính phù hợp và độ tin cậy của mô hình đo lường, nghiên cứu này sử dụng phương pháp Partial Least Squares (PLS) để đánh giá các đặc tính của toàn bộ thang đo. Do các thang đo trong nghiên cứu đều bao gồm các chỉ báo phản chiếu, việc kiểm định tính hợp lệ và độ tin cậy của thang đo là cần thiết (Hair và cộng sự, 2014). Mỗi biến quan sát được xem xét nhằm xác định mức độ phù hợp trong việc phản ánh khái niệm mà nó đo lường. Kết quả trình bày trong Bảng 1 cho thấy các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,7, đáp ứng tiêu chí về độ hội tụ. Bên cạnh đó, độ tin cậy tổng hợp (CR) của các thang đo dao động từ 0,873 đến 0,919, trong khi phương sai trích trung bình (AVE) nằm trong khoảng 0,633 đến 0,654, đều vượt ngưỡng chấp nhận. Các kết quả này khẳng định rằng các thang đo đạt độ tin cậy cao và tính hợp lệ hội tụ tốt, chứng minh việc lựa chọn mô hình đo lường là phù hợp và đáng tin cậy cho nghiên cứu.
Bảng 1: Kết quả độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo
| Thang đo (Constructs) | Biến quan sát (Items) | Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) | Độ tin cậy tổng hợp (CR) | Phương sai trích trung bình (AVE) |
|---|---|---|---|---|
| Vốn xã hội (VXH) | 6 | 0,762-0,845 | 0,919 | 0,654 |
| Tự hiệu quả khởi nghiệp (THQKN) | 5 | 0,767-0,836 | 0,898 | 0,637 |
| Ý định khởi nghiệp (YDKN) | 4 | 0,732-0,843 | 0,873 | 0,633 |
Nguồn: Kết quả từ phân tích SmartPLS
Bên cạnh đó, để đánh giá tính phân biệt của các thang đo, nghiên cứu đã tiến hành so sánh phương sai trích trung bình (AVE) với mối tương quan giữa các nhân tố. Kết quả phân tích cho thấy căn bậc hai của AVE đối với mỗi nhân tố đều lớn hơn hệ số tương quan giữa nhân tố đó với các nhân tố khác. Nói cách khác, hệ số tải nhân tố của từng biến quan sát đều cao nhất trong ma trận tương quan chéo và có ý nghĩa thống kê (p-value = 0,000), qua đó khẳng định tính phân biệt của các thang đo được đảm bảo. Đồng thời, theo kết quả kiểm định đa cộng tuyến, các giá trị VIF < 5, với giá trị cao nhất là 1,766, cho thấy mô hình không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến và đảm bảo tính ổn định trong phân tích
Kiểm định mô hình cấu trúc
Quan sát Hình 2 và Bảng 2 cho thấy, mô hình cấu trúc được kiểm định bằng phương pháp Bootstrapping với 1.000 lần lặp lại nhằm đánh giá mức độ ý nghĩa thống kê của các mối quan hệ trong mô hình. Kết quả phân tích cho thấy, Vốn xã hội có ảnh hưởng tiêu cực đến Tự hiệu quả khởi nghiệp (β > 0, P-value < 0,05). Đồng thời, Vốn xã hội cũng tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp (β > 0, P-value < 0,05). Do đó, các giả thuyết H1 và H3 đều được chấp nhận. Ngược lại, Tự hiệu quả khởi nghiệp không có tác động có ý nghĩa thống kê đến Ý định khởi nghiệp (β > 0, P-value > 0,05), nên giả thuyết H2 bị bác bỏ. Ngoài ra, kết quả cũng chưa chỉ ra tác động gián tiếp của Vốn xã hội lên Ý định khởi nghiệp thông qua vai trò trung gian của Tự hiệu quả khởi nghiệp (β > 0, P-value > 0,05).
Hình 2: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM
![]() |
Nguồn: Kết quả từ phân tích SmartPLS
Bảng 2: Phân tích mô hình cấu trúc
| Thang đo phụ thuộc | Thang đo độc lập | Mức độ tác động | Kiểm định t | Mức ý nghĩa thống kê | Giả thuyết | Kiểm định giả thuyết |
| Tác động trực tiếp | ||||||
| Tự hiệu quả khởi nghiệp (THQKN) R2 = 0, 434 | ß VXH | 0,659 | 17,250 | 0,000 | H1 | Chấp nhận |
| Ý định khởi nghiệp (HV) R2 = 0,358 | ß THQKN | 0,039 | 0,551 | 0,582 | H2 | Bác bỏ |
| ß VXH | 0,572 | 8,519 | 0,000 | H3 | Chấp nhận | |
Nguồn: Kết quả từ phân tích SmartPLS
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến Tự hiệu quả khởi nghiệp của sinh viên và Ý định khởi nghiệp.
Hàm ý quản trị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị được đề xuất như sau:
Tăng cường vốn xã hội để gia tăng tự hiệu quả khởi nghiệp
Để tăng cường vốn xã hội nhằm nâng cao tự hiệu quả khởi nghiệp của sinh viên, các trường đại học và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp cần tạo điều kiện cho sinh viên mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội và học hỏi lẫn nhau.
Thứ nhất, cần xây dựng các câu lạc bộ, diễn đàn và sự kiện kết nối giữa sinh viên với doanh nhân, nhà đầu tư và cựu sinh viên khởi nghiệp thành công. Thông qua những hoạt động này, sinh viên có cơ hội tiếp cận nguồn tri thức, kinh nghiệm và cơ hội hợp tác, từ đó củng cố niềm tin vào khả năng khởi nghiệp của bản thân.
Thứ hai, việc triển khai chương trình cố vấn khởi nghiệp (mentorship) sẽ giúp sinh viên nhận được sự hỗ trợ trực tiếp về kỹ năng, tư duy và chiến lược kinh doanh từ những người có kinh nghiệm thực tế.
Thứ ba, cần xây dựng văn hóa hợp tác và chia sẻ trong môi trường học tập, khuyến khích sinh viên làm việc nhóm, trao đổi ý tưởng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển dự án. Khi sinh viên được kết nối trong một mạng lưới xã hội tích cực, họ sẽ cảm nhận được sự tin tưởng, được hỗ trợ và từ đó nâng cao tự hiệu quả khởi nghiệp, làm nền tảng vững chắc cho hành trình khởi nghiệp bền vững.
Tăng cường vốn xã hội để thúc đẩy ý định khởi nghiệp
Để tăng cường vốn xã hội nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên, các trường đại học và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng và củng cố các mối quan hệ xã hội chất lượng trong môi trường học tập và thực tiễn.
Một là, cần tạo cơ hội giao lưu, kết nối và hợp tác giữa sinh viên với doanh nhân, nhà đầu tư, chuyên gia khởi nghiệp và cựu sinh viên thành công thông qua các hội thảo, tọa đàm, hoặc chương trình thực tập tại doanh nghiệp khởi nghiệp. Những kết nối này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận nguồn thông tin, ý tưởng và nguồn lực hỗ trợ, mà còn truyền cảm hứng, củng cố niềm tin và khơi dậy ý định khởi nghiệp.
Hai là, phát triển các câu lạc bộ khởi nghiệp và cộng đồng đổi mới sáng tạo trong trường đại học sẽ giúp sinh viên mở rộng mạng lưới xã hội, học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức và cùng nhau phát triển dự án.
Ba là, việc tăng cường các chương trình cố vấn (mentorship) với sự tham gia của doanh nhân, nhà đầu tư và giảng viên giàu kinh nghiệm sẽ giúp sinh viên nhận được định hướng thực tế và hỗ trợ tâm lý cần thiết. Khi vốn xã hội được củng cố, sinh viên sẽ có nhiều động lực, niềm tin và nguồn lực hơn để biến ý tưởng khởi nghiệp thành hành động cụ thể.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
2. Chen, C. C., Greene, P. G., Crick, A. (1998). Does entrepreneurial self-efficacy distinguish entrepreneurs from managers?, Journal of Business Venturing, 13(4), 295-316.
3. Fornell, C., Larcker, D. F. (1981). Structural equation models with unobservable variables and measurement error: Algebra and statistics.
4. Henseler, J., Dijkstra, T. K., Sarstedt, M., Ringle, C. M., Diamantopoulos, A., Straub, D. W., Ketchen, D. J., Hair, J. F., Hult, G. T. M., & Calantone, R. J. (2014). Common Beliefs and Reality about Partial Least Squares: Comments on Rönkkö & Evermann. Organizational Research Methods, 17(2), 182-209.
5. Hu, L.T. and Bentler, P.M. (1999) .Cutoff Criteria for Fit Indexes in Covariance Structure Analysis: Conventional Criteria Versus New Alternatives. Structural Equation Modeling, 6(1), 1-55
6. Hulland, J. (1999). Use of partial least squares (PLS) in strategic management research: A review of four recent studies. Strategic management journal, 20(2), 195-204.
7. Liñán, F., Chen, Y. W. (2009). Development and cross-cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(3), 593-617.
8. Liñán, F., Santos, F. J. (2007). Does social capital affect entrepreneurial intentions?, International Advances in Economic Research, 13(4), 443-453.
9. Nahapiet, J., Ghoshal, S. (1998). Social capital, intellectual capital, and the organizational advantage. Academy of Management Review, 23(2), 242-266.
10. Zhao, H., Seibert, S. E., Hills, G. E. (2005). The mediating role of self-efficacy in the development of entrepreneurial intentions. Journal of Applied Psychology, 90(6), 1265-1272.
| Ngày nhận bài: 5/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/12/2025; Ngày duyệt đăng: 26/12/2025 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

