Kiểm định thang đo thực tiễn quản trị vốn xã hội tại các doanh nghiệp siêu nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long
NCS. Lê Công Tâm
Đại học Trà Vinh
Email: [email protected]
PGS. TS Nguyễn Đăng Dờn
Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển ASIAN
TS. Nguyễn Thị Hiền
Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (BUH)
Tóm tắt
Trên cơ sở hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về vốn xã hội trong doanh nghiệp, nghiên cứu này đề xuất mô hình thang đo thực tiễn vốn xã hội tại các doanh nghiệp siêu nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm 3 thành phần chính: Vốn xã hội cấu trúc (SSC), Vốn xã hội quan hệ (RSC) và Vốn xã hội nhận thức (CSC). Kết quả phân tích cho thấy cả 3 thành phần đều được thừa nhận trong cấu trúc vốn xã hội và các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ. Qua đó, nghiên cứu này cung cấp nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo trong việc đo lường và đánh giá vai trò của vốn xã hội đối với kết quả hoạt động của các doanh nghiệp siêu nhỏ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ khóa: Vốn xã hội, thang đo vốn xã hội, doanh nghiệp siêu nhỏ, mô hình định lượng, phân tích cấu trúc, Đồng bằng sông Cửu Long
Abstract
Drawing upon the systematization of theoretical foundations and a comprehensive review of prior studies on social capital within enterprises, this study develops a practical measurement model of social capital for micro-enterprises in the Mekong Delta region. The proposed model consists of three core dimensions: Structural Social Capital (SSC), Relational Social Capital (RSC), and Cognitive Social Capital (CSC). The findings confirm that all three dimensions are integral components of the social capital construct, while the proposed scales demonstrate satisfactory reliability and convergent validity. The study therefore provides a robust foundation for subsequent empirical research aimed at measuring and examining the influence of social capital on the performance outcomes of micro-enterprises in the Mekong Delta.
Keywords: Social capital, social capital measurement scale, micro-enterprises, quantitative model, structural analysis, Mekong Delta
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh các doanh nghiệp siêu nhỏ phải đối mặt với nhiều thách thức do hạn chế nguồn lực, vốn xã hội được xem là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin, nguồn lực và cơ hội kinh doanh (Stam và cộng sự, 2014). Bên cạnh đó, Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) cũng thừa nhận vai trò của các nguồn lực vô hình, trong đó có vốn xã hội, như một yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp (Jeong & Chung, 2023).
Mặc khác, vốn xã hội không chỉ tồn tại ở dạng các mối quan hệ mà còn bao gồm các yếu tố như niềm tin, chuẩn mực và mạng lưới liên kết, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng phối hợp và giảm chi phí giao dịch. Nó đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp siêu nhỏ (Stam và cộng sự, 2014). Đồng thời, quan điểm về năng lực động cũng nhấn mạnh khả năng doanh nghiệp khai thác và tái cấu trúc các nguồn lực (trong đó vốn xã hội) nhằm thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để xây dựng và kiểm định thang đo thực tiễn quản trị vốn xã hội phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp siêu nhỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất và kiểm định mô hình nghiên cứu định lượng sơ bộ về thang đo quản trị vốn xã hội trong bối cảnh các doanh nghiệp siêu nhỏ tại khu vực này, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và gợi ý chính sách phù hợp.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Vốn xã hội và lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV)
Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) được phát triển mạnh từ những năm 1990 và đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu chiến lược và quản trị doanh nghiệp (da Silva và cộng sự, 2025). Theo RBV, doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững khi sở hữu các nguồn lực “có giá trị”, “hiếm”, “khó bắt chước” và “không thể thay thế” (Barney, 1991). Những nguồn lực này giúp doanh nghiệp tận dụng các cơ hội từ môi trường bên ngoài đồng thời phát huy điểm mạnh nội tại. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào khả năng sở hữu và quản lý các nguồn lực này.
Trong bối cảnh đó, vốn xã hội được xem là một dạng nguồn lực vô hình quan trọng của doanh nghiệp. Vốn xã hội bao gồm các yếu tố như mạng lưới quan hệ, niềm tin và các chuẩn mực xã hội, giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin, nguồn lực và cơ hội kinh doanh (Nahapiet & Ghoshal, 1998; Adler & Kwon, 2002). Đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, vốn xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Thông qua các mối quan hệ với khách hàng, đối tác, chính quyền và cộng đồng, doanh nghiệp có thể giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh (Boudreaux và cộng sự, 2021).
Bên cạnh đó, quan điểm về năng lực động nhấn mạnh khả năng doanh nghiệp khai thác, tích hợp và tái cấu trúc các nguồn lực nhằm thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh (Teece và cộng sự, 1997). Trong bối cảnh này, vốn xã hội giúp doanh nghiệp siêu nhỏ nhanh chóng điều chỉnh chiến lược, tìm kiếm cơ hội mới và thích nghi với biến động thị trường (Trần Văn Diện và cộng sự, 2024).
Các thành phần của vốn xã hội
Vốn xã hội là một khái niệm đa chiều và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau trong các nghiên cứu trước đây. Theo Nahapiet & Ghoshal (1998), vốn xã hội bao gồm 3 thành phần chính: Vốn xã hội cấu trúc, Vốn xã hội quan hệ và Vốn xã hội nhận thức. Thành phần cấu trúc phản ánh mạng lưới các mối quan hệ và mức độ kết nối giữa các tác nhân; Thành phần quan hệ liên quan đến niềm tin, nghĩa vụ và chuẩn mực; trong khi đó, Thành phần nhận thức phản ánh sự chia sẻ giá trị, mục tiêu và tầm nhìn chung.
Ngoài ra, một số nghiên cứu phân chia vốn xã hội thành vốn xã hội nội bộ và vốn xã hội bên ngoài, trong đó vốn xã hội nội bộ liên quan đến mối quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp, còn vốn xã hội bên ngoài liên quan đến mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, chính quyền và các tổ chức khác (Adler & Kwon, 2002).
Đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, vốn xã hội thường mang tính cá nhân hóa cao, gắn liền với chủ doanh nghiệp và các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng địa phương. Điều này khiến vốn xã hội trở thành một yếu tố then chốt trong việc tiếp cận nguồn lực, đặc biệt trong các khu vực đang phát triển như Đồng bằng sông Cửu Long.
Các nghiên cứu trước đây về vốn xã hội trong doanh nghiệp
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra vai trò quan trọng của vốn xã hội đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Cụ thể, nghiên cứu của Davidsson & Honig (2003) cho thấy vốn xã hội có tác động tích cực đến quá trình khởi sự và duy trì hoạt động kinh doanh. Tương tự, Brüderl & Preisendörfer (1998) cũng khẳng định rằng mạng lưới quan hệ giúp tăng khả năng tồn tại của doanh nghiệp nhỏ.
Nghiên cứu tổng hợp của Stam và cộng sự (2014) chỉ ra rằng vốn xã hội có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt động và tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ. Xét về mặt cạnh tranh, vốn xã hội giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh và hiệu quả tài chính thông qua đổi mới (Jeong & Chung, 2023). Bên cạnh đó, Kraus và cộng sự (2022) cũng cho rằng vốn xã hội hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy sự khác biệt trong cách tiếp cận và đo lường vốn xã hội. Một số nghiên cứu đo lường vốn xã hội như một biến tiềm ẩn phản ánh thông qua các chỉ báo, trong khi các nghiên cứu khác xem vốn xã hội là một cấu trúc được hình thành từ các thành phần. Ngoài ra, các thang đo vốn xã hội cũng chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp siêu nhỏ tại các nền kinh tế đang phát triển.
Theo Jarvis và cộng sự (2003), mô hình phản ánh (Hình 1), biến tiềm ẩn được xem là nguyên nhân tạo ra các chỉ báo quan sát, do đó các biến quan sát là biểu hiện của cùng một khái niệm và thường có tương quan cao với nhau. Ngược lại, trong mô hình hình thành (Hình 2), các biến quan sát đóng vai trò là nguyên nhân cấu thành nên biến tiềm ẩn, nghĩa là chúng kết hợp lại để tạo nên khái niệm nghiên cứu.
Hình 1: Mô hình thang đo đo lường nguyên nhân (Formative model)
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, 2026
Hình 2: Mô hình thang đo đo lường kết quả (Reflective model)
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, 2026
Trong khi các nghiên cứu về vốn xã hội của Nahapiet và Ghoshal (1998), Adler và Kwon (2002), Payne và cộng sự (2011), Stam và cộng sự (2014) và Boudreaux và cộng sự (2021) cho thấy vốn xã hội được tiếp cận như một khái niệm đa chiều, bao gồm các thành phần như mạng lưới quan hệ, niềm tin và chia sẻ thông tin. Các thành phần này phản ánh những khía cạnh khác nhau và cùng nhau cấu thành nên vốn xã hội. Do đó, nghiên cứu này đề xuất sử dụng thang đo nguyên nhân (formative) trong đo lường vốn xã hội.
Hình 3: Thang đo đo lường kết quả vốn xã hội
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, 2026
Ngược lại, một số nghiên cứu như Tsai và Ghoshal (1998), Yli-Renko và cộng sự (2001), Inkpen và Tsang (2005), Subramaniam và Youndt (2005) và Boso và cộng sự (2013) tiếp cận vốn xã hội theo hướng thang đo phản ánh, trong đó các yếu tố như niềm tin, mối quan hệ và chia sẻ thông tin được xem là các biểu hiện của vốn xã hội.
Hình 4: Thang đo đo lường nguyên nhân vốn xã hội
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, 2026
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng. Bảng câu hỏi nháp được xây dựng dựa trên các thang đo lường các thành phần của vốn xã hội, bao gồm: Vốn cấu trúc (SSC) gồm 6 biến quan sát là khách hàng mới biết đến từ người thân giới thiệu (SSC1), khách hàng mới biết đến từ bạn bè giới thiệu (SSC2), bạn bè luôn ủng hộ việc kinh doanh (SSC3), nhận được sự ủng hộ từ gia đình (SSC4), và khách hàng mới từ giới thiệu của khách cũ (SSC5). Vốn quan hệ (RSC) gồm 5 biến quan sát là sự hỗ trợ tài chính từ gia đình (RSC1), sự giúp đỡ về vốn từ bạn bè (RSC2), lời khuyên chiến lược từ người thân (RSC3), mối quan hệ tốt với khách hàng (RSC4) và mối quan hệ tốt với nhà cung cấp (RSC5). Vốn nhận thức (CSC) gồm 4 biến quan sát là đối tác mong muốn hợp tác lâu dài (CSC1), khách hàng đưa ra góp ý cải thiện kinh doanh (CSC2), bạn bè góp ý nâng cao hoạt động kinh doanh (CSC3) và niềm tin của các bên đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp (CSC4).
Tiếp theo, nhóm tác giả tiến hành phỏng vấn chuyên gia nhằm hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh các doanh nghiệp siêu nhỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó, nghiên cứu được triển khai khảo sát chính thức với đối tượng là chủ doanh nghiệp và nhà quản lý tại các doanh nghiệp siêu nhỏ trong khu vực. Dữ liệu thu thập được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS và Amos 24 để kiểm định độ tin cậy, giá trị thang đo và mô hình nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Kết quả nghiên cứu độ tin cậy tổng hợp, Cronbach’s Alpha
| Cấu trúc | Biến quan sát | Hệ số tải | Cronbach’s Alpha | Độ tin cậy tổng hợp (CR) | AVE |
| Kết quả kiểm định thang đo nguyên nhân (formative) | |||||
| Vốn cấu trúc | SSC1 | 0.812 | 0.885 | 0.886 | 0.608 |
| SSC2 | 0.850 | ||||
| SSC3 | 0.848 | ||||
| SSC4 | 0.766 | ||||
| SSC6 | 0.854 | ||||
| Vốn quan hệ | RSC1 | 0.784 | 0.852 | 0.825 | 0.536 |
| RSC2 | 0.786 | ||||
| RSC3 | 0.799 | ||||
| RSC4 | 0.790 | ||||
| RSC5 | 0.800 | ||||
| Vốn nhận thức | CSC1 | 0.788 | 0.817 | 0.818 | 0.529 |
| CSC2 | 0.792 | ||||
| CSC3 | 0.808 | ||||
| CSC4 | 0.824 | ||||
| Kết quả kiểm định thang đo đo lường kết quả (reflective) | |||||
| Vốn cấu trúc | SSC1 | 0.764 | 0.877 | 0.878 | 0.592 |
| SSC2 | 0.786 | ||||
| SSC3 | 0.886 | ||||
| SSC4 | 0.773 | ||||
| SSC5 | 0.867 | ||||
| Vốn quan hệ | RSC1 | 0.762 |
0.849 | 0.850 | 0.532 |
| RSC2 | 0.752 | ||||
| RSC3 | 0.772 | ||||
| RSC4 | 0.839 | ||||
| RSC5 | 0.819 | ||||
| Vốn nhận thức | CSC1 | 0.873 | 0.852 | 0.855 | 0.597 |
| CSC2 | 0.817 | ||||
| CSC3 | 0.775 | ||||
| CSC4 | 0.868 | ||||
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu
Thang đo vốn xã hội trong nghiên cứu được cấu thành bởi 3 thành phần chính gồm: Vốn cấu trúc (SSC), Vốn quan hệ (RSC) và Vốn nhận thức (CSC). Kết quả kiểm định theo 2 cách tiếp cận gồm mô hình nguyên nhân và mô hình phản ánh đều cho thấy các thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ.
Đối với mô hình thang đo nguyên nhân, hệ số tải của các biến quan sát của vốn cấu trúc dao động từ 0.766 đến 0.854, vốn quan hệ từ 0.784 đến 0.800 và vốn nhận thức từ 0.788 đến 0.824, cho thấy các chỉ báo đều có đóng góp đáng kể vào biến tiềm ẩn. Bên cạnh đó, hệ số Cronbach’s Alpha lần lượt là 0.885; 0.852 và 0.817, trong khi độ tin cậy tổng hợp (CR) đạt 0.886; 0.825 và 0.818. Giá trị AVE của các thang đo tương ứng là 0.608; 0.536 và 0.529 cho thấy thang đo đạt giá trị hội tụ.
Đối với mô hình thang đo đo lường kết quả, các hệ số tải của biến quan sát cũng đều đạt yêu cầu với vốn cấu trúc dao động từ 0.764 đến 0.886, vốn quan hệ từ 0.752 đến 0.839 và vốn nhận thức từ 0.775 đến 0.873. Hệ số Cronbach’s Alpha của 3 thành phần lần lượt là 0.877; 0.849 và 0.852, trong khi độ tin cậy tổng hợp (CR) đạt 0.878; 0.850 và 0.855. Đồng thời, giá trị AVE nằm trong khoảng từ 0.532 đến 0.597, cho thấy các thang đo đạt giá trị hội tụ tốt và có độ tin cậy cao.
Thảo luận tác động các yếu tố của mô hình
Bảng 2: Kết quả kiểm định sau bootstrap 2000
| Quan hệ của các thành phần vào vốn xã hội | Estimate | S.E. | C.R. | P | Kết quả | ||
| Mô hình nguyên nhân (formative) | |||||||
| SC | <--- | SSC | 0.358 | 0.101 | 3.559 | *** | Chấp nhận |
| SC | <--- | RSC | 0.283 | 0.120 | 2.369 | .018 | Chấp nhận |
| SC | <--- | CSC | 0.239 | 0.083 | 2.887 | .004 | Chấp nhận |
| Mô hình phản ánh (reflective) | |||||||
| SSC | <--- | SC | .310 | .085 | 3.636 | *** | Chấp nhận |
| RSC | <--- | SC | .210 | .073 | 2.855 | .004 | Chấp nhận |
| CSC | <--- | SC | .380 | .106 | 3.574 | *** | Chấp nhận |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu, 2026
Kết quả cho thấy các mối quan hệ trong cả 2 mô hình thang đo nguyên nhân và thang đo đo lường kết quả đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa p < 0.05. Điều này khẳng định các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận và mô hình có độ tin cậy cao.
Đối với mô hình nguyên nhân, cả 3 thành phần của vốn xã hội đều có tác động đến vốn xã hội tổng thể. Kết quả này cho thấy trong bối cảnh nghiên cứu, các yếu tố liên quan đến mạng lưới quan hệ, sự kết nối và sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè đóng vai trò nền tảng quan trọng nhất trong việc hình thành vốn xã hội. trong khi đó, các yếu tố về quan hệ và nhận thức cũng góp phần đáng kể, nhưng ở mức độ thấp hơn. Ngược lại, mô hình phản ảnh cho vốn nhận thức chịu ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là vốn cấu trúc và vốn quan hệ.
So sánh 2 mô hình cho thấy sự khác biệt: trong khi mô hình nguyên nhân nhấn mạnh vai trò nền tảng của vốn cấu trúc trong việc hình thành vốn xã hội, thì mô hình phản ánh lại cho thấy vốn nhận thức là thành phần phản ánh mạnh nhất của vốn xã hội tổng thể. Điều này hàm ý rằng các mối quan hệ và mạng lưới giúp hình thành vốn xã hội, nhưng chính sự đồng thuận, niềm tin và chia sẻ nhận thức mới là yếu tố thể hiện rõ nhất giá trị của vốn xã hội khi nó đã hình thành.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Kết luận
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở kế thừa và tổng hợp các công trình trước đây về vốn xã hội trong doanh nghiệp, đồng thời vận dụng Lý thuyết dựa trên nguồn lực và quan điểm năng lực động để xây dựng mô hình thang đo thực tiễn quản trị vốn xã hội tại các doanh nghiệp siêu nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất thang đo vốn xã hội gồm 3 thành phần chủ yếu là Vốn xã hội cấu trúc, Vốn xã hội quan hệ và Vốn xã hội nhận thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai cách tiếp cận đo lường đều đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ. Đồng thời, kết quả phân tích bootstrap cho thấy các mối quan hệ trong cả hai mô hình đều có ý nghĩa thống kê. Điều này khẳng định rằng thang đo thực tiễn quản trị vốn xã hội phù hợp trong bối cảnh doanh nghiệp siêu nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long, và có thể được sử dụng như một khung phân tích định lượng sơ bộ cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc đề xuất và kiểm định sơ bộ cấu trúc đo lường của vốn xã hội, chưa mở rộng sang kiểm định tác động của thực tiễn vốn xã hội đến các biến kết quả đầu ra như kết quả hoạt động kinh doanh, năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới hay khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu hiện mới tập trung vào ba thành phần cơ bản của vốn xã hội, trong khi trên thực tế có thể còn tồn tại những khía cạnh khác của thực tiễn quản trị vốn xã hội chưa được phản ánh đầy đủ trong mô hình. Ngoài ra, các nghiên cứu tương lai cũng có thể tiếp tục so sánh sâu hơn giữa cách tiếp cận nguyên nhân và phản ảnh, hoặc phát triển mô hình bậc cao để đo lường vốn xã hội một cách toàn diện hơn.
Với những kết quả đạt được, nghiên cứu này có thể được xem là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà quản trị doanh nghiệp siêu nhỏ và các cơ quan hoạch định chính sách trong quá trình xây dựng các giải pháp phát triển nguồn lực xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Hàm ý quản trị
Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số hàm ý quản trị quan trọng đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Thứ nhất, chủ doanh nghiệp cần nhận thức rằng vốn xã hội không chỉ là tập hợp các mối quan hệ xã hội mang tính tự phát, mà còn là một dạng nguồn lực vô hình có thể được quản trị, duy trì và phát triển một cách có chủ đích. Trong bối cảnh doanh nghiệp siêu nhỏ bị hạn chế về vốn tài chính, nhân lực và năng lực tổ chức, việc khai thác hiệu quả vốn xã hội có thể giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, nguồn lực và cơ hội kinh doanh.
Thứ hai, doanh nghiệp cần chú trọng phát triển vốn xã hội cấu trúc thông qua việc mở rộng và củng cố mạng lưới quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, đối tác, cộng đồng địa phương và các tổ chức hỗ trợ. Việc gia tăng mức độ kết nối trong mạng lưới quan hệ không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường hiệu quả hơn mà còn góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao khả năng huy động sự hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh trong dài hạn.
Thứ ba, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của vốn xã hội quan hệ, đặc biệt là các yếu tố liên quan đến niềm tin, sự tín nhiệm và chất lượng quan hệ giữa doanh nghiệp với các bên liên quan. Do đó, các doanh nghiệp siêu nhỏ cần quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng và duy trì uy tín, bảo đảm tính minh bạch trong giao dịch, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cũng như củng cố sự gắn kết với khách hàng, nhà cung cấp và cộng đồng xung quanh.
Thứ tư, doanh nghiệp cần tăng cường vốn xã hội nhận thức thông qua việc hình thành sự chia sẻ về mục tiêu, giá trị và định hướng phát triển giữa các thành viên trong doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với các đối tác bên ngoài. Sự đồng thuận về nhận thức sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp, củng cố niềm tin và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hợp tác lâu dài. Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, đây là yếu tố đặc biệt quan trọng bởi hoạt động kinh doanh thường gắn chặt với uy tín cá nhân của chủ doanh nghiệp và mức độ tin cậy trong các mối quan hệ xã hội.
Hàm ý chính sách
Về phương diện chính sách, kết quả nghiên cứu cho thấy việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp siêu nhỏ cần được tiếp cận không chỉ từ góc độ tài chính mà còn từ góc độ tăng cường vốn xã hội.
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp siêu nhỏ tham gia vào các mạng lưới liên kết, hiệp hội ngành nghề, tổ hợp tác, chương trình xúc tiến thương mại và các hoạt động kết nối cung cầu. Đây là cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ, tăng cường học hỏi kinh nghiệm và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường.
Thứ hai, cần xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, tư vấn và hỗ trợ kỹ năng dành cho chủ doanh nghiệp siêu nhỏ, trong đó chú trọng các nội dung liên quan đến quản trị quan hệ, phát triển mạng lưới kinh doanh, kỹ năng hợp tác, giao tiếp và xây dựng niềm tin với các bên liên quan.
Thứ ba, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ cần được thiết kế theo hướng thúc đẩy môi trường thể chế thuận lợi cho sự hình thành và phát triển vốn xã hội. Một môi trường kinh doanh minh bạch, thủ tục hành chính đơn giản, cơ chế tiếp cận thông tin rõ ràng và công bằng trong thực thi chính sách sẽ góp phần gia tăng niềm tin của doanh nghiệp vào các thiết chế công, từ đó khuyến khích doanh nghiệp mở rộng liên kết và hợp tác trong hoạt động kinh doanh.
Tài liệu tham khảo:
1. Adler, P. S., & Kwon, S.-W. (2002). Social capital: Prospects for a new concept. Academy of Management Review, 27(1), 17-40. DOI:10.5465/AMR.2002.5922314.
2. Barney, J. B. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99 - 120. https://josephmahoney.web.illinois.edu/BA545_Fall%202022/Barney%20(1991).pdf.
3. Boso, N., Story, V. M., & Cadogan, J. W. (2013). Entrepreneurial orientation, market orientation, network ties, and performance: Study of entrepreneurial firms in a developing economy. Journal of Business Venturing, 28(6), 708-727. https://doi.org/10.1016/j.jbusvent.2013.04.001.
4. Boudreaux, C., Clarke, G., & Jha, A. (2021). Social capital and small business productivity: The mediating roles of financing and customer relationships. arXiv, DOI:10.48550/arXiv.2104.12004.
5. Brüderl, J., & Preisendörfer, P. (1998). Network support and the success of newly founded businesses. Small Business Economics, 10(3), 213-225.
6. Da Silva, J. M., Favero, K., & Dalla Corte, V. F. (2025). Resource-based view analysis of innovation and performance in Brazilian certified soybean seed companies. Journal of Technology Management and Innovation, 20(2), 3-11 https://doi.org/10.4067/s0718-27242025000200003.
7. Davidsson, P., & Honig, B. (2003). The role of social and human capital among nascent entrepreneurs. Journal of Business Venturing, 18(3), 301-331. https://doi.org/10.1016/S0883-9026(02)00097-6.
8. Inkpen, A. C., & Tsang, E. W. K. (2005). Social capital, networks, and knowledge transfer. Academy of Management Review, 30(1), 146-165. DOI:10.5465/AMR.2005.15281445.
9. Jarvis, C. B., MacKenzie, S. B., & Podsakoff, P. M. (2003). A critical review of construct indicators and measurement model misspecification in marketing and consumer research. Journal of Consumer Research, 30(2), 199-218.
10. Jeong, S. W., & Chung, J. E. (2023). Enhancing competitive advantage and financial performance of consumer-goods SMEs in export markets: How do social capital and marketing innovation matter? Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 35(1), 74-89. https://doi.org/10.1108/APJML-05-2021-0301.
11. Kraus, S., Clauss, T., Breier, M., Gast, J., Zardini, A., & Tiberius, V. (2022). The economics of COVID-19: Initial empirical evidence on how family firms in five European countries cope with the corona crisis. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 28(5), 1060-1085.
12. Nahapiet, J., & Ghoshal, S. (1998). Social capital, intellectual capital, and the organizational advantage. Academy of Management Review, 23(2), 242-266. DOI:10.2307/259373.
13. Payne, G. T., Moore, C. B., Griffis, S. E., & Autry, C. W. (2011). Multilevel challenges and opportunities in social capital research. Journal of Management, 37(2), 491-520.
14. Stam, W., Arzlanian, S., & Elfring, T. (2014). Social capital of entrepreneurs and small firm performance: A meta-analysis of contextual and methodological moderators. Journal of Business Venturing, 29(1), 152-173. https://doi.org/10.1016/j.jbusvent.2013.01.002.
15. Subramaniam, M., & Youndt, M. A. (2005). The influence of intellectual capital on the types of innovative capabilities. Academy of Management Journal, 48(3), 450-463. https://www.jstor.org/stable/20159670.
16. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533. https://doi.org/10.1002/(SICI)1097-0266(199708)18:7<509::aid-smj882>3.0.CO;2-Z.
17. Trần Văn Diện., Nguyễn Văn Phươngng, Đinh Trần Thảo Nhi, Huỳnh Nam Thắng, & Ma Văn Khanh (2024). Exploring the impact of social capital on business performance: The role of dynamic capabilities, open innovation and government support. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity, 10(4), Article 100416. https://doi.org/10.1016/j.joitmc.2024.100416.
18. Yli-Renko, H., Autio, E., & Sapienza, H. J. (2001). Social capital, knowledge acquisition, and knowledge exploitation in young technology-based firms. Strategic Management Journal, 22(6-7), 587-613 DOI:10.1002/smj.183.
| Ngày nhận bài: 17/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/4/2026; Ngày duyệt đăng: 13/5/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách



