Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 14:35 | 21/09/2026
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, những hạn chế về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực đã bộc lộ rõ.

TS. Nguyễn Thị Hồng Lâm

Khoa Kinh tế chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích thực trạng hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ quan trọng trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển các loại thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy kinh tế tư nhân và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời, mô hình tăng trưởng từng bước chuyển dịch theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, một số điểm nghẽn vẫn còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển đồng bộ các loại thị trường, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nhanh, bền vững.

Từ khóa: Hoàn thiện thể chế, kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình tăng trưởng, Việt Nam

Abstract

This article analyzes the current state of institutional development for a high-level, socialist-oriented market economy in Viet Nam in relation to the renewal of the growth model. The results show that Viet Nam has made significant progress in strengthening the legal system, developing various market types, improving the investment and business environment, promoting the private sector, and deepening international economic integration. At the same time, the growth model has gradually shifted toward greater reliance on productivity, science and technology, innovation, and digital transformation. However, several bottlenecks remain. On this basis, the article proposes several solutions to improve institutions further, develop markets more coherently, enhance the efficiency of resource allocation, and promote the renewal of the growth model toward rapid and sustainable development.

Keywords: Institutional development, market economy, socialist orientation, growth model renewal, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, những hạn chế về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo (ĐMST) và hiệu quả phân bổ nguồn lực đã bộc lộ rõ. Do đó, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở trình độ cao cần gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào KHCN, ĐMST, CĐS và tăng trưởng xanh, qua đó nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững. Bài viết phân tích thực trạng, chỉ ra những hạn chế và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam trong thời gian tới.

KHÁI NIỆM HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở TRÌNH ĐỘ CAO GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Thể chế kinh tế thị trường là hệ thống các quy tắc, cơ chế và thiết chế điều chỉnh hành vi, quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Theo Bùi Quang Thuấn (2022), thể chế kinh tế thị trường hiện đại sẽ bao gồm các luật chơi để có thể tạo ra được tập hợp người chơi và những cách chơi hợp lý; thiết kế các luật chơi công bằng, khách quan, không thiên vị; bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế; khuyến khích tinh thần cạnh tranh, đổi mới, sáng tạo và ứng dụng công nghệ để hàng hóa cạnh tranh hiệu quả trên thị trường; bảo vệ quyền tài sản và hợp đồng của các tác nhân tham gia thị trường. Theo cách tiếp cận này, chất lượng thể chế có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành hệ thống khuyến khích, định hướng hành vi của các chủ thể và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN vừa kiến tạo khuôn khổ thể chế, vừa điều tiết, khắc phục những hạn chế của thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng phát triển và tiến bộ, công bằng xã hội.

Đổi mới mô hình tăng trưởng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là quá trình chuyển dịch động lực tăng trưởng theo hướng dựa ngày càng nhiều hơn vào khoa học - công nghệ (KHCN), ĐMST, CĐS và nâng cao năng suất. Theo Bùi Quang Tuấn và Hà Huy Ngọc (2021), quá trình này đòi hỏi thúc đẩy ĐMST dựa trên nền tảng công nghệ trong các ngành, lĩnh vực; xây dựng chính sách hỗ trợ các loại hình và giai đoạn đổi mới; tạo lập môi trường cạnh tranh thuận lợi cho sáng tạo; phát triển các đầu vào nền tảng cho KHCN và ĐMST; đồng thời thực hiện chiến lược đổi mới và nâng cao năng suất lao động quốc gia.

Từ đó, có thể hiểu hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các thiết chế thị trường nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu dựa vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên sang dựa nhiều hơn vào năng suất, KHCN, ĐMST và CĐS. Quá trình này hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

THỰC TRẠNG VỀ THỂ CHẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở TRÌNH ĐỘ CAO GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG TẠI VIỆT NAM

Những kết quả đạt được

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD. Năng suất lao động theo giá so sánh tăng 6,83%, cho thấy chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện (Bùi Quang Tuấn, 2026).

Hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách kinh tế tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch và phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại. Nhiều quy định về đầu tư, doanh nghiệp, cạnh tranh, đất đai, chứng khoán, KHCN và CĐS được sửa đổi, bổ sung, qua đó từng bước bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản và môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể. Các loại thị trường vốn, lao động, bất động sản, KHCN tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.

Đổi mới mô hình tăng trưởng có chuyển biến theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào mở rộng vốn và lao động, tăng vai trò của năng suất, KHCN, ĐMST và CĐS. Năm 2025, năng suất lao động đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động; kinh tế số tiếp tục tăng trưởng nhanh, với tổng giá trị hàng hóa của nền kinh tế số ước đạt 39 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2024 (Bùi Quang Tuấn, 2026). Những kết quả này phản ánh sự hình thành ngày càng rõ hơn các động lực tăng trưởng mới dựa trên công nghệ, dữ liệu và ĐMST.

Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, khu vực này có hơn 940.000 doanh nghiệp và trên 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động. Việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy và thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Đặc biệt, hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP vừa mở rộng thị trường xuất khẩu, vừa tạo sức ép tích cực đối với cải cách thể chế, nâng cao tiêu chuẩn quản trị và năng lực cạnh tranh. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước (Bùi Quang Tuấn, 2026).

Cùng với tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội tiếp tục được chú trọng. Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực được triển khai tương đối đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo năm 2025 còn khoảng 1,3%. Kết quả này cho thấy quá trình hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam từng bước gắn tăng trưởng kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.

Một số hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng vẫn còn một số hạn chế.

Thứ nhất, chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển mới. Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn thiếu đồng bộ, chồng chéo; mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có mặt chưa được xử lý hiệu quả (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Việc tổ chức thực thi ở một số ngành, địa phương còn hạn chế; một số thủ tục hành chính vẫn làm gia tăng thời gian và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.

Thứ hai, các loại thị trường và cơ chế phân bổ nguồn lực phát triển chưa đồng bộ. Thị trường đất đai, lao động chất lượng cao, KHCN còn những điểm nghẽn, ảnh hưởng đến khả năng dịch chuyển và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài còn hạn chế, do đó hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và năng suất chưa tương xứng với tiềm năng.

Thứ ba, đổi mới mô hình tăng trưởng chưa tạo được sự chuyển biến đủ mạnh. Tăng trưởng vẫn còn phụ thuộc vào vốn, tài nguyên và lợi thế lao động chi phí thấp, trong khi năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, nghiên cứu và phát triển, ĐMST của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế. Đặc biệt, nguồn nhân lực số chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi khi nhu cầu nhân lực kỹ năng cao trong các lĩnh vực như lập trình, dữ liệu, an ninh mạng khoảng 700.000 người, trong khi nguồn cung mới đáp ứng khoảng 530.000 người, tương đương 75% nhu cầu (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024).

Thứ tư, yêu cầu phát triển bền vững đặt ra ngày càng rõ nét. Mặc dù chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và năng lượng tái tạo đã được chú trọng, hiệu quả sử dụng tài nguyên còn hạn chế, ô nhiễm môi trường và tác động của biến đổi khí hậu tiếp tục tạo sức ép đối với chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.

Những hạn chế trên cho thấy điểm nghẽn của đổi mới mô hình tăng trưởng không chỉ nằm ở nguồn lực hay công nghệ mà còn ở chất lượng thể chế và khả năng tạo lập cơ chế khuyến khích các nguồn lực dịch chuyển sang những khu vực có năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

Từ những kết quả và hạn chế nêu trên, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng cần được thực hiện đồng bộ, vừa tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và phân bổ nguồn lực, vừa tạo động lực cho KHCN, ĐMST và phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch và ổn định; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng của các chủ thể kinh tế theo quy luật của thị trường. Cụ thể, trong thời gian tới, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài sản và quyền sở hữu (trong đó hoàn thiện các quy định về quản lý tài sản mã hóa, quyền sở hữu trí tuệ đối với những phát minh do trí tuệ nhân tạo tạo ra, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử); về bảo vệ dữ liệu cá nhân; kinh tế chia sẻ; khởi nghiệp sáng tạo; công nghệ tài chính (fintech); thương mại điện tử…

Hai là, đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; xây dựng nền hành chính công hiện đại, chuyên nghiệp hơn nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn; giảm chi phí tuân thủ pháp luật và chi phí giao dịch.

Ba là, phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường như thị trường vốn; thị trường lao động; thị trường KHCN theo hướng coi trọng tri thức, dữ liệu lớn; phát triển thị trường bất động sản và thị trường quyền sử dụng đất theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN.

Bốn là, tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị, tập trung vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu; đồng thời, kiến tạo tốt hơn thể chế khơi thông hơn nữa cho kinh tế tư nhân phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị.

Năm là, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS; nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực KHCN, quản trị doanh nghiệp và kinh tế số; gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng.

Sáu là, hoàn thiện cơ chế phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Tăng cường vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Bảy là, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế chia sẻ và các ngành công nghệ cao; bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Tám là, cần tăng cường hội nhập sâu rộng hơn nữa với các nước trên thế giới, trong đó, ưu tiên nâng cao hơn chất lượng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất, kinh doanh toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Bài toán nguồn nhân lực số phù hợp cho nền kinh tế phát triển. https://mst.gov.vn/bai-toan-nguon-nhan-luc-so-phu-hop-cho-nen-kinh-te-phat-trien-197241231150224168.htm?

2. Bùi Quang Tuấn, Hà Huy Ngọc (2021). Mô hình tăng trưởng dựa vào KHCN và ĐMST trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Bùi Quang Tuấn (2026). Hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi cho xác lập mô hình tăng trưởng mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam. https://tapchikinhtetaichinh.vn

4. Bùi Quang Thuấn (2022). Thể chế kinh tế thị trường: Việt Nam, Liên bang Nga, một số nước Đông Âu và Trung Quốc. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Vũ Thanh Sơn (2025). Phát triển lực lượng sản xuất mới để đột phá trong kỷ nguyên số. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Ngày nhận bài: 25/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/9/2026; Ngày duyệt đăng: 17/9/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu hành vi theo thời gian thực, các nền tảng số đang ngày càng có khả năng cung cấp những trải nghiệm được cá nhân hóa cụ thể như việc gợi ý sản phẩm phù hợp, đưa nội dung thích ứng và khả năng tương tác với khách hàng cũng được điều chỉnh theo từng cá nhân.
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Kể từ khi Thỏa thuận Xanh châu Âu được thông qua, EU đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các chuẩn mực tự nguyện về ESG sang nghĩa vụ pháp lý có gắn chế tài và có tác động xuyên biên giới.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Bước vào những năm 2010, khái niệm AI đã vượt khỏi phạm trù khoa học máy tính thuần túy và bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nghề yêu cầu kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu.
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Sự thay đổi nhanh của thị trường lao động, công nghệ và nhu cầu tuyển dụng xuyên biên giới đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và phát triển nguồn nhân lực.
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững, việc áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001 được xem là một chiến lược phổ biến giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình vận hành và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Smart Technology (Công nghệ thông minh) - Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo) - Robotics (Người máy) - Algorithms (Thuật toán) (STARA) đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống hàng ngày (Brougham và Haar, 2018). Với những lợi ích của việc tăng hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra khác biệt hóa, nâng cao trải nghiệm khách hàng và cuối cùng là cải thiện hiệu suất tổng thể, nhiều công ty đã áp dụng công nghệ STARA vào hoạt động của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành dịch vụ đang có mức độ ứng dụng công nghệ rất cao nhằm tối ưu hóa hoạt động kinh doanh (Bandoim, 2019).
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân.
Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Mua trước trả sau cho phép người tiêu dùng nhận hàng trước rồi thanh toán sau hoặc chia thành nhiều kỳ. Sự thuận tiện này cải thiện thanh khoản ngắn hạn nhưng cũng có thể làm mờ cảm nhận về tổng nghĩa vụ.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh/thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh, đặt ra yêu cầu mới về tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng quy mô và tốc độ phát triển.