Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Nghiên cứu - Trao đổi 14:38 | 21/09/2026
Sự thay đổi nhanh của thị trường lao động, công nghệ và nhu cầu tuyển dụng xuyên biên giới đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và phát triển nguồn nhân lực.

TS. Vũ Đình Dũng

Trường Đại học Điện lực; Email: [email protected]

Bùi Xuân Hải

Công ty Cổ phần Đầu tư thương mại Phát triển dịch vụ quốc tế MEDIA; Email: [email protected]

Nguyễn Khắc Quý

Công ty Cổ phần Công nghệ Phúc Bình; Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA trên 6 phương diện: tuyển dụng và thu hút nhân lực, đào tạo và phát triển năng lực, đánh giá kết quả thực hiện công việc, phát triển nghề nghiệp, ứng dụng công nghệ và hợp tác quốc tế. Kết quả cho thấy, Công ty đã hình thành nền tảng quản trị nhân lực tương đối phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động quốc tế, trong đó đào tạo và hợp tác quốc tế có những kết quả tích cực. Tuy nhiên, hệ thống đánh giá theo năng lực, phát triển nghề nghiệp và chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực vẫn cần được hoàn thiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực hội nhập của doanh nghiệp.

Từ khóa: Phát triển nguồn nhân lực, hội nhập quốc tế, quản trị nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, Công ty MEDIA

Abstract

This study analyzes the current state of human resource development at MEDIA Company across six dimensions: recruitment and talent attraction, training and competency development, performance evaluation, career development, technology adoption, and international cooperation. The findings indicate that the company has established a relatively appropriate human resource management foundation in response to the requirements of the international labor market, with notable progress in training and international cooperation. However, its competency-based performance evaluation system, career development practices, and digital transformation in human resource management remain in need of further improvement. From these findings, the study proposes solutions to enhance human resource quality and strengthen the company’s capacity for international integration.

Keywords: Human resource development, international integration, human resource management, human resource quality, MEDIA Company

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh ngày càng gia tăng, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đào tạo và cung ứng nhân lực quốc tế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi đội ngũ nhân sự phải đồng thời đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng thích ứng với môi trường đa văn hóa và các chuẩn mực quốc tế. Trong khi đó, sự thay đổi nhanh của thị trường lao động, công nghệ và nhu cầu tuyển dụng xuyên biên giới đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và phát triển nguồn nhân lực.

Thực tiễn này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ chú trọng tuyển dụng và đào tạo mà còn phải hoàn thiện hệ thống đánh giá, phát triển nghề nghiệp, ứng dụng công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA là cần thiết nhằm nhận diện mức độ đáp ứng các yêu cầu hiện nay, qua đó đề xuất giải pháp phù hợp với định hướng phát triển và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Phát triển nguồn nhân lực là một nội dung trung tâm của quản trị nguồn nhân lực, có vai trò nâng cao kiến thức, kỹ năng, năng lực và khả năng thích ứng của người lao động, qua đó góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Dessler (2020), phát triển nguồn nhân lực cần được triển khai theo hướng liên kết giữa tuyển dụng, đào tạo, đánh giá kết quả thực hiện công việc và phát triển nghề nghiệp.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực không chỉ giới hạn ở chuyên môn mà còn bao gồm ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa. Armstrong và Taylor (2023) cho rằng, phát triển nguồn nhân lực cần gắn với sự thay đổi của công nghệ và yêu cầu của thị trường lao động. Vì vậy, đối với doanh nghiệp đào tạo và cung ứng nhân lực quốc tế, phát triển nguồn nhân lực cần được xem xét như một quá trình tổng thể, gắn với cả yêu cầu nội tại của doanh nghiệp và yêu cầu của thị trường lao động quốc tế.

Trên cơ sở các quan điểm trên và đặc điểm hoạt động của Công ty MEDIA, nghiên cứu tiếp cận phát triển nguồn nhân lực theo 6 nhóm nội dung gồm: (i) tuyển dụng và thu hút nhân lực; (ii) đào tạo và phát triển năng lực; (iii) đánh giá kết quả thực hiện công việc; (iv) phát triển nghề nghiệp; (v) ứng dụng công nghệ trong quản trị nguồn nhân lực; và (vi) hợp tác quốc tế trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Các nhóm nội dung này có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành quá trình từ thu hút, đào tạo, đánh giá đến phát triển và nâng cao chất lượng nhân lực, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu hội nhập quốc tế của doanh nghiệp.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu từ cán bộ quản lý và người lao động đang làm việc tại Công ty MEDIA trong thời gian từ tháng 3-5/2026. Mẫu khảo sát được lựa chọn nhằm bảo đảm sự tham gia của các nhóm công việc và cấp quản lý khác nhau, qua đó phản ánh tương đối đa dạng thực tiễn phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp.

Phiếu khảo sát được thiết kế theo khung phân tích của nghiên cứu, gồm 6 nhóm nội dung: tuyển dụng và thu hút nhân lực, đào tạo và phát triển năng lực, đánh giá kết quả thực hiện công việc, phát triển nghề nghiệp, ứng dụng công nghệ trong quản trị nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế. Các tiêu chí được đo lường bằng thang Likert 5 mức, từ 1 “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 “Hoàn toàn đồng ý”.

Sau khi thu thập, dữ liệu được mã hóa, tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tuyển dụng và thu hút nguồn nhân lực

Kết quả tại Bảng 1 cho thấy nhóm tiêu chí tuyển dụng và thu hút nguồn nhân lực đạt 4,05/5,00, phản ánh mức đánh giá tương đối tích cực. Trong đó, tiêu chí tuyển dụng chú trọng năng lực ngoại ngữ có điểm cao nhất (4,25), tiếp đến là tiêu chuẩn tuyển dụng phù hợp với yêu cầu công việc và tuyển đúng người, đúng vị trí việc làm cùng đạt 4,12. Kết quả này cho thấy Công ty MEDIA đã chú trọng tương đối rõ đến sự phù hợp giữa yêu cầu vị trí và năng lực của người lao động, đặc biệt là ngoại ngữ, phù hợp với đặc thù hoạt động trong lĩnh vực đào tạo và cung ứng nhân lực quốc tế.

Các tiêu chí người lao động nhanh chóng thích nghi sau tuyển dụng và quy trình tuyển dụng công khai, minh bạch lần lượt đạt 4,00 và 3,98 điểm, cho thấy quy trình tuyển dụng nhìn chung đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, chính sách thu hút nhân lực có tính cạnh tranh chỉ đạt 3,80 điểm, thấp nhất trong nhóm.

Bảng 1: Kết quả đánh giá hoạt động tuyển dụng và thu hút nguồn nhân lực

Tiêu chí đánh giá

Rất không đồng ý

Không đồng ý

Bình thường

Đồng ý

Hoàn toàn đồng ý

Mean

SD

Tiêu chuẩn tuyển dụng phù hợp với yêu cầu công việc

0

2

8

31

19

4,12

0,77

Tiêu chí tuyển dụng chú trọng năng lực ngoại ngữ

0

1

6

30

23

4,25

0,71

Quy trình tuyển dụng công khai, minh bạch

1

3

10

28

18

3,98

0,87

Tuyển đúng người, đúng vị trí việc làm

0

2

7

33

18

4,12

0,74

Người lao động nhanh chóng thích nghi sau tuyển dụng

1

3

9

29

18

4,00

0,85

Chính sách thu hút nhân lực có tính cạnh tranh

2

5

11

27

15

3,80

0,96

Trung bình nhóm tiêu chí

4,05

0,82

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát

Đào tạo, đánh giá thực hiện công việc và phát triển nghề nghiệp

Kết quả Bảng 2 cho thấy nhóm tiêu chí đào tạo và phát triển năng lực đạt mức cao, trong đó nổi bật là đào tạo ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hội nhập (4,37), đào tạo kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu đối tác (4,32) và chương trình đào tạo phù hợp yêu cầu công việc (4,28). Điều này cho thấy hoạt động đào tạo tại Công ty MEDIA được định hướng tương đối sát với yêu cầu công việc và đặc thù cung ứng nhân lực quốc tế. Nội dung đào tạo văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản cũng đạt 4,25 điểm, phản ánh sự chú trọng đến khả năng thích ứng với môi trường làm việc cụ thể.

Ở chiều ngược lại, các tiêu chí thuộc đánh giá kết quả thực hiện công việc và phát triển nghề nghiệp có mức điểm thấp hơn. Tiêu chí tiêu chí đánh giá công việc rõ ràng và kết quả đánh giá phản ánh đúng năng lực cùng đạt 3,95 điểm, trong khi kết quả đánh giá được sử dụng cho đào tạo và cơ hội phát triển nghề nghiệp chỉ đạt 3,83 điểm. Kết quả này cho thấy hoạt động đào tạo đã được quan tâm tương đối tốt, nhưng sự liên kết giữa đào tạo, đánh giá năng lực và phát triển nghề nghiệp vẫn chưa thật sự chặt chẽ.

Bảng 2: Kết quả đánh giá hoạt động đào tạo, đánh giá thực hiện công việc và phát triển nghề nghiệp

Tiêu chí đánh giá

Điểm

Mean

SD

1

2

3

4

5

Chương trình đào tạo phù hợp yêu cầu công việc

0

1

5

30

24

4,28

0,69

Nội dung đào tạo được cập nhật thường xuyên

0

2

7

29

22

4,18

0,75

Đào tạo ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hội nhập

0

1

4

27

28

4,37

0,65

Đào tạo kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu đối tác

0

1

5

28

26

4,32

0,67

Đào tạo văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản

0

2

6

27

25

4,25

0,73

Tiêu chí đánh giá công việc rõ ràng

1

3

10

30

16

3,95

0,85

Kết quả đánh giá phản ánh đúng năng lực

1

4

9

29

17

3,95

0,88

Kết quả đánh giá được sử dụng cho đào tạo

2

4

11

28

15

3,83

0,93

Có cơ hội phát triển nghề nghiệp

2

5

10

27

16

3,83

0,95

Chính sách khuyến khích học tập nâng cao trình độ

1

3

9

29

18

4,00

0,84

Trung bình nhóm tiêu chí

4,10

0,79

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát

Đánh giá mức độ phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Kết quả tổng hợp tại Bảng 3 cho thấy mức độ phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế tại Công ty MEDIA đạt 4,01/5,00, tương ứng 80,1%. Trong đó, đào tạo và phát triển năng lực có điểm cao nhất (4,28), tiếp đến là hợp tác quốc tế (4,17) và tuyển dụng, thu hút nguồn nhân lực (4,05). Kết quả này cho thấy doanh nghiệp đã chú trọng khá rõ đến đào tạo, nâng cao năng lực và kết nối với các đối tác quốc tế.

Ngược lại, ứng dụng công nghệ trong quản trị nguồn nhân lực có điểm thấp nhất (3,70), đồng thời có SD = 0,99 và CV = 26,8%, cao nhất trong sáu nhóm tiêu chí. Điều này cho thấy mức độ đánh giá giữa các đối tượng khảo sát có sự phân tán tương đối lớn đối với nội dung chuyển đổi số trong quản trị nhân lực. Hai nhóm đánh giá kết quả thực hiện công việc và phát triển nghề nghiệp cũng thấp hơn mức trung bình chung, lần lượt đạt 3,91 và 3,92 điểm. Nhìn chung, kết quả cho thấy nền tảng phát triển nguồn nhân lực của Công ty MEDIA đã được hình thành, song mức độ đồng bộ giữa các chức năng vẫn còn khác biệt, đặc biệt ở ứng dụng công nghệ, đánh giá và phát triển nghề nghiệp.

Bảng 3: Tổng hợp kết quả đánh giá phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Nhóm tiêu chí

Số biến

Mean

SD

Hệ số biến thiên (CV, %)

Tỷ lệ đáp ứng (%)

Tuyển dụng và thu hút nguồn nhân lực

6

4,05

0,82

20,2

81,0

Đào tạo và phát triển năng lực

5

4,28

0,70

16,4

85,6

Đánh giá kết quả thực hiện công việc

3

3,91

0,89

22,8

78,2

Chính sách phát triển nghề nghiệp

2

3,92

0,90

23,0

78,4

Ứng dụng công nghệ trong quản trị nhân lực

4

3,70

0,99

26,8

74,0

Hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực

4

4,17

0,75

18,0

83,4

Chung

24

4,01

0,84

21,0

80,1

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Nghiên cứu cho thấy phát triển nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA đã hình thành nền tảng tương đối phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế, với mức đánh giá chung đạt 4,01/5,00. Trong đó, đào tạo và phát triển năng lực đạt kết quả cao nhất, tiếp đến là hợp tác quốc tế và tuyển dụng, thu hút nhân lực. Đây là những nội dung phù hợp với đặc thù doanh nghiệp đào tạo và cung ứng nhân lực quốc tế, trong đó ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với môi trường làm việc quốc tế được chú trọng.

Tuy nhiên, mức độ phát triển giữa các chức năng chưa đồng đều. Đánh giá kết quả thực hiện công việc và phát triển nghề nghiệp có mức điểm thấp hơn mức chung, cho thấy mối liên kết giữa đào tạo, đánh giá và phát triển nhân sự chưa thật sự chặt chẽ. Ứng dụng công nghệ trong quản trị nguồn nhân lực có kết quả thấp nhất và mức độ phân tán đánh giá cao nhất, phản ánh sự chưa đồng đều trong triển khai quản trị nhân sự số. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực của Công ty cần chuyển từ chú trọng từng hoạt động riêng lẻ sang hoàn thiện một hệ thống quản trị có tính liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Nhóm tác giả đưa ra một số định hướng cụ thể sau:

Một là, chuẩn hóa khung năng lực theo yêu cầu của thị trường lao động quốc tế. Khung năng lực cần xác định rõ các yêu cầu về chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa cho từng vị trí. Đây là cơ sở thống nhất tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và sử dụng nhân lực trong toàn doanh nghiệp.

Hai là, hoàn thiện hệ thống đào tạo theo định hướng năng lực. Nội dung đào tạo cần bám sát tiêu chuẩn của đối tác tiếp nhận lao động, tăng tỷ trọng thực hành, cập nhật yêu cầu nghề nghiệp và kỹ năng số. Hiệu quả đào tạo cần được đánh giá thông qua mức độ đáp ứng công việc và kết quả thực hiện sau đào tạo.

Ba là, đổi mới cơ chế đánh giá và phát triển nghề nghiệp. Hệ thống đánh giá cần được lượng hóa theo kết quả và năng lực thực hiện công việc, bảo đảm tính minh bạch và khả năng đo lường. Kết quả đánh giá cần được sử dụng làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo, quy hoạch nhân sự và phát triển nghề nghiệp.

Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản trị nguồn nhân lực. Cơ sở dữ liệu nhân sự cần được chuẩn hóa và tích hợp trên một nền tảng đồng bộ, hỗ trợ quản lý toàn bộ quá trình tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và phát triển nhân lực. Việc khai thác dữ liệu phục vụ dự báo nhu cầu nhân lực và lập kế hoạch nhân sự sẽ nâng cao hiệu quả quản trị.

Năm là, mở rộng hợp tác quốc tế theo hướng phát triển năng lực. Quan hệ hợp tác cần được mở rộng từ tuyển dụng và cử lao động sang xây dựng chương trình đào tạo, cập nhật tiêu chuẩn nghề nghiệp, trao đổi chuyên gia và chia sẻ kinh nghiệm quản trị. Sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, đối tác nước ngoài và cơ sở đào tạo tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Becker, B. E., & Huselid, M. A. (2006). Strategic human resources management: Where do we go from here? Journal of Management, 32(6), 898–925.

2. Brewster, C., Sparrow, P., Vernon, G., & Houldsworth, E. (2016). International human resource management (4th ed.). CIPD.

3. Dessler, G. (2020). Human resource management (16th ed.). Pearson.

4. Armstrong, M., & Taylor, S. (2023). Armstrong's handbook of human resource management practice: A guide to the theory and practice of people management (16th ed.). Kogan Page.

Ngày nhận bài: 17/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/9/2026; Ngày duyệt đăng: 18/9/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu hành vi theo thời gian thực, các nền tảng số đang ngày càng có khả năng cung cấp những trải nghiệm được cá nhân hóa cụ thể như việc gợi ý sản phẩm phù hợp, đưa nội dung thích ứng và khả năng tương tác với khách hàng cũng được điều chỉnh theo từng cá nhân.
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Kể từ khi Thỏa thuận Xanh châu Âu được thông qua, EU đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các chuẩn mực tự nguyện về ESG sang nghĩa vụ pháp lý có gắn chế tài và có tác động xuyên biên giới.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Bước vào những năm 2010, khái niệm AI đã vượt khỏi phạm trù khoa học máy tính thuần túy và bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nghề yêu cầu kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu.
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, những hạn chế về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực đã bộc lộ rõ.
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững, việc áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001 được xem là một chiến lược phổ biến giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình vận hành và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Smart Technology (Công nghệ thông minh) - Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo) - Robotics (Người máy) - Algorithms (Thuật toán) (STARA) đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống hàng ngày (Brougham và Haar, 2018). Với những lợi ích của việc tăng hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra khác biệt hóa, nâng cao trải nghiệm khách hàng và cuối cùng là cải thiện hiệu suất tổng thể, nhiều công ty đã áp dụng công nghệ STARA vào hoạt động của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành dịch vụ đang có mức độ ứng dụng công nghệ rất cao nhằm tối ưu hóa hoạt động kinh doanh (Bandoim, 2019).
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân.
Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Mua trước trả sau cho phép người tiêu dùng nhận hàng trước rồi thanh toán sau hoặc chia thành nhiều kỳ. Sự thuận tiện này cải thiện thanh khoản ngắn hạn nhưng cũng có thể làm mờ cảm nhận về tổng nghĩa vụ.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh/thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh, đặt ra yêu cầu mới về tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng quy mô và tốc độ phát triển.