Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới
ThS. Hồ Thị Minh Hòa
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong 3 đột phá chiến lược được Đảng xác định cho giai đoạn phát triển mới. Vùng Đông Nam Bộ - sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 gồm TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh - giữ vai trò “đầu tàu kinh tế” của cả nước, đóng góp khoảng 31,40% vào tăng trưởng GDP quốc gia năm 2025. Bài viết phân tích những yêu cầu mới về nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao của Vùng và đề xuất 5 nhóm giải pháp đột phá, nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 đưa vùng Đông Nam Bộ trở thành trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và tài chính quốc tế thuộc nhóm đầu của khu vực và thế giới.
Từ khóa: Nguồn nhân lực chất lượng cao, vùng Đông Nam Bộ, kỷ nguyên mới, đột phá chiến lược, Nghị quyết số 24-NQ/TW
Abstract
Developing high-quality human resources is one of the three strategic breakthroughs identified by the Party for the new development period. The Southeast region, following the provincial administrative restructuring under Resolution No. 202/2025/QH15, comprising Ho Chi Minh City, Dong Nai, and Tay Ninh, holds the role of the country’s “economic engine”, contributing about 31.40% to national GDP growth in 2025. The paper analyzes new requirements for high-quality human resources in the context of the nation's rising era, evaluates the current state of the region's high-quality human resources, and proposes five groups of breakthrough solutions. These recommendations aim to realize the goal of turning the Southeast Region by 2030 into a regional and global top-tier center for science, technology, innovation, high-tech industry, logistics, and international finance.
Keywords: High-quality human resources, Southeast Region, new era, strategic breakthrough, Resolution No. 24-NQ/TW
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đông Nam Bộ giữ vai trò là vùng kinh tế động lực hàng đầu của Việt Nam. Năm 2025, Vùng đạt tốc độ tăng GRDP ước 7,98% và đóng góp 31,40% vào tăng trưởng GDP cả nước (Cục Thống kê, 2026a). Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh/thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh (Chính phủ, 2025), đặt ra yêu cầu mới về tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng quy mô và tốc độ phát triển.
Trước đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW xác định mục tiêu đến năm 2030: “Đông Nam Bộ trở thành vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực” (Bộ Chính trị, 2022). Định hướng này tiếp tục được khẳng định và cụ thể hóa tại Nghị quyết số 306/NQ-CP, trong đó xác định phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân vùng Đông Nam Bộ đạt khoảng 10%/năm giai đoạn 2026-2030, đồng thời nhấn mạnh vai trò đầu tàu của vùng trong chiến lược phát triển không gian kinh tế - xã hội quốc gia (Chính phủ, 2025).
Tuy nhiên, như Nghị quyết số 24-NQ/TW đã chỉ ra, một trong những hạn chế cốt yếu của Vùng là “chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển”. Đây là điểm nghẽn lớn nhất cần được khắc phục để Vùng có thể hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược. Vì vậy, việc phân tích yêu cầu, thực trạng và đề xuất các giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới là cần thiết.
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực
Vùng Đông Nam Bộ sau sắp xếp có quy mô dân số lớn nhất cả nước, trong đó TP. Hồ Chí Minh (hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu) có khoảng 14 triệu người, Đồng Nai (hợp nhất với Bình Phước) có hơn 4,49 triệu người và Tây Ninh (hợp nhất với Long An) có hơn 3,25 triệu người, đưa tổng dân số toàn Vùng lên trên 21,7 triệu người. Trong đó, 9,05 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên của Vùng là lợi thế quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội. Về chất lượng nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của toàn Vùng đạt 30,3% vào năm 2025, xếp thứ hai sau vùng Đồng bằng sông Hồng. Tỷ lệ dân số trình độ đại học trở lên đạt khoảng 7%. Tuy nhiên, có sự chênh lệch chất lượng lao động giữa các địa phương: TP. Hồ Chí Minh có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất với 34,9%; tiếp theo là tỉnh Đồng Nai mới đạt 24,3%; trong khi tỉnh Tây Ninh chỉ đạt 19%. Sự chênh lệch này gắn liền với mạng lưới hạ tầng đào tạo phân bố không đồng đều. Trong khi TP. Hồ Chí Minh tập trung hệ thống Đại học Quốc gia và hàng trăm trường đại học, viện nghiên cứu lớn; Đồng Nai cũ sở hữu 5 trường đại học và 10 trường cao đẳng chuyên sâu kỹ thuật công nghiệp; thì Tây Ninh trước khi hợp nhất là vùng “trắng” trường đại học, hạ tầng đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào sự kết nối với hệ thống của Long An và các cực trung tâm lân cận, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về đầu tư mạng lưới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cho địa bàn này sau sáp nhập.
Năng suất lao động và thu nhập
Năng suất lao động của vùng Đông Nam Bộ thuộc nhóm cao nhất cả nước, tăng từ 251 triệu đồng/lao động (2020) lên 342,7 triệu đồng/lao động (2025), cao hơn mức bình quân cả nước (244,8 triệu đồng/lao động năm 2025) (Cục Thống kê, 2026b). Tuy nhiên, năng suất lao động giữa các địa phương trong Vùng có sự phân hóa lớn: TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu với mức 396,8 triệu đồng/lao động (năm 2025), cao gấp 1,95 lần so với tỉnh Tây Ninh (203,4 triệu đồng), trong khi Đồng Nai đạt 274,2 triệu đồng (Cục Thống kê, 2026b).
Khoảng cách năng suất lao động trực tiếp tác động đến mức thu nhập thực tế của người lao động và mức sống dân cư toàn vùng. Thu nhập bình quân một lao động đang làm việc của Vùng đạt 10,09 triệu đồng/tháng (năm 2025), cao nhất trong 6 vùng kinh tế - xã hội. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người một tháng (tính theo cơ cấu 3 tỉnh, thành phố mới), chỉ đạt 7,5 triệu đồng/tháng, tương đương khoảng 90 triệu đồng/người/năm (Cục Thống kê, 2026b). Tuy nhiên, giữa các địa phương có sự chênh lệch rất lớn: TP. Hồ Chí Minh đạt 8,06 triệu đồng/tháng (nhóm 1 nghèo nhất chỉ đạt 4,08 triệu đồng, nhóm 5 giàu nhất đạt đến 14,39 triệu đồng, tức chênh lệch 3,52 lần); Đồng Nai đạt 7,17 triệu đồng/tháng; Tây Ninh chỉ đạt 5,41 triệu đồng/tháng. Những con số này cho thấy nguy cơ giãn rộng khoảng cách giàu nghèo nội vùng sau hợp nhất nếu thiếu chính sách an sinh xã hội và nâng cao chất lượng việc làm cho nhóm yếu thế.
Nhân lực phục vụ các ngành mũi nhọn
Hiện nay, vùng Đông Nam Bộ có lực lượng lao động tại doanh nghiệp đạt 6.021.902 người, tăng liên tục từ mức 5,097 triệu người năm 2020. Trong đó, doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh sử dụng 5.003.334 người, chiếm tới 83,08% tổng nhân lực doanh nghiệp toàn Vùng. Đây cũng là địa phương tập trung nhân lực công nghệ cao và dịch vụ tài chính quy mô bậc nhất cả nước. Tỉnh Đồng Nai sở hữu lực lượng lao động doanh nghiệp đạt 811.479 người, chủ yếu tập trung vào các ngành chế biến, chế tạo, cơ khí lắp ráp phục vụ các chuỗi cung ứng. Tỉnh Tây Ninh sở hữu lực lượng lao động doanh nghiệp đạt 567.597 người, đóng vai trò vùng đệm chuyển tiếp công nghiệp dịch vụ (Cục Thống kê, 2026b).
Toàn Vùng hiện có 350.685 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh, dẫn đầu cả nước. Trong đó, phân theo quy mô lao động, Đông Nam Bộ là trung tâm của các siêu tập đoàn với 88 doanh nghiệp có quy mô trên 5.000 lao động và 633 doanh nghiệp từ 1.000 đến 4.999 lao động. Bên cạnh đó, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng thâm dụng lao động cực kỳ lớn, thu hút đến hơn 60% tổng lao động doanh nghiệp (Cục Thống kê, 2026a). Thực trạng này chứng tỏ nhân lực phục vụ công nghiệp mũi nhọn của Vùng hiện đang định hình rất vững chắc dựa trên sự dẫn dắt của dòng vốn ngoại, tuy nhiên lại bộc lộ hạn chế lớn về khả năng tự chủ công nghệ, thiếu hụt chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng độc lập, kỹ sư nghiên cứu và phát triển (R&D) trình độ cao.
Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ
Thứ nhất, mất cân đối giữa cung và cầu nhân lực. Theo Nghị quyết số 24-NQ/TW, “khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa đóng góp nhiều vào đổi mới mô hình tăng trưởng; chưa làm chủ được công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ nguồn trong những ngành chủ lực”. Lực lượng lao động doanh nghiệp toàn Vùng rất lớn (khoảng 6 triệu người) nhưng tỷ lệ qua đào tạo có bằng cấp chỉ đạt 30,3%. Sự thiếu hụt trầm trọng kỹ sư thiết kế vi mạch, chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI), chuyên viên dịch vụ tài chính quốc tế đang kìm hãm trực tiếp tiến trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế sang các ngành có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, chênh lệch lớn giữa các địa phương trong Vùng. Việc thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 đặt ra thách thức cực lớn về hài hòa chất lượng nhân lực giữa vùng lõi đô thị trung tâm và vùng nông nghiệp biên giới (như Đồng Nai cũ sáp nhập Bình Phước cũ có năng suất chênh lệch 1,4 lần; Tây Ninh cũ sáp nhập Long An cũ có hạ tầng đào tạo đại học mỏng). Sự chênh lệch này nếu không có cơ chế bù đắp sẽ làm gia tăng bất bình đẳng phát triển nội vùng.
Thứ ba, cạnh tranh thu hút nhân tài quốc tế gay gắt. Đông Nam Bộ nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng đang nỗ lực xây dựng các trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo toàn cầu, tuy nhiên lại thiếu hụt các thể chế, chính sách đãi ngộ đột phá về thuế, nhà ở và môi trường làm việc học thuật tự do để cạnh tranh thu hút chuyên gia kiều bào và quốc tế so với các trung tâm tài chính đối thủ trong khu vực như Singapore hay Bangkok.
Thứ tư, yêu cầu mới về năng lực số và năng lực sáng tạo. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, lực lượng lao động cần có năng lực số ở mức cao - bao gồm năng lực sử dụng dữ liệu, hiểu biết về AI, an ninh mạng. Do đó, thách thức về năng lực số và sáng tạo đối với vùng Đông Nam Bộ không nằm ở việc thiếu quy định hay chính sách ở bậc phổ thông, mà chủ yếu tập trung ở khoảng cách giữa giáo dục STEM phổ thông và yêu cầu ứng dụng chuyên sâu tại các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo nghề trong vùng, nơi chương trình đào tạo vẫn còn chậm cập nhật các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và an ninh mạng.
Thứ năm, cơ chế chính sách thu hút và sử dụng nhân tài chưa đột phá. Mặc dù đã có nhiều chính sách thu hút nhân tài được ban hành, nhưng việc triển khai còn nhiều hạn chế. Hạn chế này thể hiện rõ nhất trong khu vực công, nơi cơ chế tài chính, đãi ngộ, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến chưa đủ sức cạnh tranh với khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngay trên địa bàn vùng Đông Nam Bộ. Thực tế cho thấy, một bộ phận đáng kể nhân lực chất lượng cao sau khi được đào tạo từ ngân sách nhà nước hoặc hưởng các ưu đãi của khu vực công đã dịch chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn đa quốc gia - một dạng “chảy máu chất xám nội vùng” từ khu vực công sang tư - hoặc ra nước ngoài làm việc. Đây là thách thức mang tính hệ thống, đòi hỏi phải cải cách đồng bộ cả cơ chế tuyển dụng, tiền lương, đánh giá năng lực và trao quyền tự chủ cho các đơn vị sử dụng nhân tài trong khu vực nhà nước, song song với việc tạo điều kiện để khu vực tư nhân trong vùng ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ, theo tác giả, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và chính sách đột phá thu hút, trọng dụng nhân tài. Cần xây dựng và ban hành cơ chế tài chính đặc thù cho vùng Đông Nam Bộ trong việc thu hút nhân tài và chuyên gia trình độ cao, bao gồm: chính sách thuế thu nhập cá nhân ưu đãi cho chuyên gia nước ngoài và Việt kiều; chế độ tiền lương, thưởng và đãi ngộ tương đương khu vực trong các vị trí then chốt; hỗ trợ về nhà ở, giáo dục cho con em, dịch vụ y tế chất lượng cao.
Về thủ tục hành chính cho chuyên gia nước ngoài, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai cơ chế một cửa, trong đó UBND Thành phố được trao quyền trực tiếp giải quyết các thủ tục liên quan đến giấy phép lao động cho người nước ngoài theo Nghị định số 84/2024/NĐ-CP; đồng thời quy định tại Nghị định số 219/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 7/8/2025) xác định thời hạn giải quyết cấp giấy phép lao động tối đa là 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ. Đây là bước tiến quan trọng cần được tiếp tục nhân rộng và hoàn thiện. Trong thời gian tới, cần tập trung vào việc tích hợp đồng bộ các thủ tục liên ngành (visa, giấy phép lao động, đăng ký cư trú, thẻ tạm trú) thành một quy trình thống nhất, đồng thời xây dựng trung tâm phục vụ chuyên biệt dành cho chuyên gia và nhân tài quốc tế với dịch vụ hỗ trợ đa ngôn ngữ, đảm bảo tính thuận tiện và chuyên nghiệp ở tầm khu vực.
Bên cạnh đó, cần xây dựng Quỹ phát triển nhân tài vùng Đông Nam Bộ để cấp học bổng nghiên cứu sinh tiến sĩ ở các trường đại học hàng đầu thế giới, với cam kết trở về phục vụ vùng trong một thời gian nhất định.
Hai là, tái cấu trúc hệ thống đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động. Cần đẩy mạnh tự chủ đại học và xây dựng các đại học theo định hướng nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò trung tâm. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định yêu cầu đổi mới căn bản tư duy quản lý giáo dục đại học: chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học, thị trường lao động và hội nhập quốc tế; đồng thời ưu tiên đầu tư ngân sách cho giáo dục đại học. Triển khai tinh thần đó tại vùng Đông Nam Bộ, cần tăng cường liên kết “ba nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) trong xác định nhu cầu, thiết kế chương trình và đánh giá chất lượng đào tạo, hướng tới mô hình quản trị đại học hiện đại, thực sự tự chủ và có trách nhiệm giải trình cao. Đặc biệt, cần thúc đẩy mô hình đào tạo “đặt hàng” theo nhu cầu cụ thể của các doanh nghiệp lớn trong vùng (Samsung, Intel, Bosch, các tập đoàn FDI…), trong đó doanh nghiệp tham gia vào thiết kế chương trình, cung cấp thực hành và cam kết tuyển dụng sau tốt nghiệp.
Đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp, cần ưu tiên đầu tư cho các trường cao đẳng nghề chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế, đặc biệt là các trường tại Đồng Nai (sau hợp nhất) - nơi có Sân bay quốc tế Long Thành và nhiều khu công nghiệp lớn. Mục tiêu là đến năm 2030, TP. Hồ Chí Minh đạt tỷ lệ 89% lao động qua đào tạo và toàn vùng đạt tỷ lệ tương đương.
Ba là, ưu tiên đào tạo nhân lực cho các ngành công nghiệp mũi nhọn. Tập trung nguồn lực đào tạo nhân lực cho 3 nhóm ngành chiến lược: (i) Công nghiệp bán dẫn và AI, cần đặt mục tiêu đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư bán dẫn và chuyên gia AI trong giai đoạn 2026-2030, thông qua mở rộng quy mô các chương trình đào tạo hiện có tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và liên kết với các trường đại học hàng đầu thế giới; (ii) Tài chính quốc tế và công nghệ tài chính, đào tạo nhân lực phục vụ Trung tâm Tài chính quốc tế TP. Hồ Chí Minh, bao gồm chuyên gia về thị trường vốn, quản trị rủi ro, tuân thủ pháp lý quốc tế, công nghệ blockchain và tiền số; (iii) Logistics, hàng không và kinh tế biển, chuẩn bị nhân lực cho Sân bay quốc tế Long Thành và phát triển hệ sinh thái logistics, cảng biển hiện đại tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ).
Bốn là, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là môi trường thực hành tốt nhất để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mới. Vùng Đông Nam Bộ cần đẩy mạnh xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng, kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm. Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, Khu Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, các khu công nghệ tại Đồng Nai và Bình Dương (cũ) cần được kết nối thành một mạng lưới đổi mới sáng tạo thống nhất, với cơ chế chia sẻ cơ sở hạ tầng, dữ liệu nghiên cứu và nhân lực.
Đồng thời, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dành riêng cho sinh viên, nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ trong Vùng, bao gồm: cấp vốn hạt giống không hoàn lại; cung cấp không gian làm việc, cố vấn chuyên môn và kết nối với nhà đầu tư; cơ chế khoan dung đối với thất bại trong khởi nghiệp để khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo.
Năm là, tăng cường liên kết vùng và hội nhập quốc tế trong phát triển nhân lực. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, vùng Đông Nam Bộ chỉ còn 3 địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ chế phối hợp vùng hiệu quả hơn. Cần thành lập Hội đồng phát triển nhân lực vùng Đông Nam Bộ với sự tham gia của lãnh đạo các tỉnh, thành phố, đại diện các trường đại học hàng đầu và các tập đoàn kinh tế lớn. Hội đồng có chức năng điều phối: chia sẻ thông tin về thị trường lao động vùng; thống nhất tiêu chuẩn kỹ năng nghề; xây dựng cơ sở dữ liệu chung về nhân lực chất lượng cao; tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng liên tỉnh. Cơ chế phối hợp này cần được xây dựng đồng bộ với xu hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ đang được thể chế hóa, trong đó chính quyền địa phương được trao quyền chủ động hơn trong quyết định đầu tư phát triển nhân lực gắn với đặc thù và nhu cầu của từng địa phương trong vùng, tương tự như tinh thần được đề xuất trong các chính sách thí điểm cơ chế đặc thù cho các đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm. Về hội nhập quốc tế, cần mở rộng hợp tác đào tạo với các trường đại học hàng đầu thế giới (Hoa Kỳ, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU) thông qua các chương trình đào tạo song bằng, đào tạo trao đổi và các phòng thí nghiệm liên kết.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 7/10/2022 về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 5/10/2025 về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
3. Cục Thống kê (2026a). Thông cáo báo chí về kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố năm 2025.
4. Cục Thống kê (2026b). Niên giám Thống kê 2025 (Statistical Yearbook 2025). https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/07/NG-TOAN-QUOC-2025_WM-1.pdf
| Ngày nhận bài: 5/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/9/2026; Ngày duyệt đăng: 15/9/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách