Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 16:42 | 20/09/2026
Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân.

Lê Anh Tuấn

NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]

PGS, TS. Nguyễn Thị Minh Phượng

Trường Đại học Vinh

Tóm tắt

Nghiên cứu tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số tại tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2020-2025. Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết về chuyển đổi số khu vực công, quản trị số và giá trị công, nghiên cứu xây dựng khung phân tích gồm 6 nhóm nhân tố: năng lực lãnh đạo và thể chế; hạ tầng và nền tảng số; quản trị dữ liệu, liên thông và an toàn thông tin; chất lượng nguồn nhân lực và năng lực tổ chức; phối hợp liên cơ quan và phân bổ nguồn lực; và mức độ tham gia, khả năng tiếp cận và chấp nhận dịch vụ số của người dân, doanh nghiệp. Kết quả cho thấy Hà Tĩnh đã cải thiện đáng kể năng lực chuyển đổi số, tuy nhiên khoảng cách giữa có hạ tầng, có nền tảng và quản trị dựa trên dữ liệu, sử dụng thường xuyên và tạo giá trị công vẫn là thách thức. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất chuyển trọng tâm quản lý từ đầu tư công nghệ sang quản trị dữ liệu, hiệu quả sử dụng và kết quả đầu ra, đồng thời thiết lập cơ chế điều phối phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Từ khóa: Chính quyền số, quản lý nhà nước, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, Hà Tĩnh

Abstract

This study analyzes the factors influencing governance in the development of digital government in Ha Tinh Province during the 2020-2025 period. Based on a synthesis of theories of public-sector digital transformation, digital governance, and public value, the study develops an analytical framework comprising six groups of factors: leadership and institutional capacity; digital infrastructure and platforms; data governance, interoperability, and information security; human resource quality and organizational capacity; inter-agency coordination and resource allocation; and the level of participation, accessibility, and acceptance of digital services among citizens and enterprises. The results show that Ha Tinh has significantly improved its digital transformation capacity; however, the gap between having infrastructure and platforms and achieving data-driven governance, regular use, and public value creation remains a challenge. On this basis, the study proposes shifting the management focus from technology investment toward data governance, utilization efficiency, and outcomes, while establishing coordination mechanisms appropriate to the two-tier local government model.

Keywords: Digital government, state management, digital transformation, data governance, Ha Tinh

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chuyển đổi số (CĐS) khu vực công đang làm thay đổi căn bản cách thức nhà nước thiết kế chính sách, tổ chức bộ máy, cung cấp dịch vụ công và tương tác với xã hội. Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân. Mergel và cộng sự (2019) nhấn mạnh rằng, CĐS trong khu vực công là một quá trình mang tính toàn tổ chức, vượt ra ngoài số hóa thông tin đơn thuần; trong khi Janowski (2015) mô tả tiến trình phát triển chính phủ số từ số hóa, chuyển đổi đến tham gia và quản trị phù hợp với bối cảnh.

Ở góc độ quản trị, mục tiêu cuối cùng của chính quyền số không nên được đo bằng số lượng phần mềm hay thủ tục được đưa lên mạng, mà phải bằng giá trị công tạo ra: dịch vụ tốt hơn, chi phí hành chính thấp hơn, tính minh bạch cao hơn, niềm tin tốt hơn và khả năng tiếp cận bình đẳng hơn. Tổng quan của Twizeyimana và Andersson (2019) cho thấy các lợi ích này là những cấu phần cốt lõi của giá trị công trong chính phủ điện tử. OECD (2020) cũng chuyển trọng tâm đánh giá từ sử dụng công nghệ sang 6 đặc trưng của chính phủ số trưởng thành: định hướng kỹ thuật số, khu vực công dựa trên dữ liệu, chính phủ như một nền tảng, mặc định mở, lấy người dùng làm trung tâm và tính chủ động.

Tại Việt Nam, Chương trình CĐS quốc gia được phê duyệt tại Quyết định 749/QĐ-TTg năm 2020 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số tại Quyết định 942/QĐ-TTg năm 2021 đã hình thành khung chính sách quan trọng để địa phương chuyển từ ứng dụng công nghệ thông tin sang quản trị số (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2021). Hà Tĩnh tiếp tục cụ thể hóa bằng Nghị quyết 05-NQ/TU năm 2021 về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo CĐS giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 (Tỉnh ủy Hà Tĩnh, 2021).

Thực tiễn Hà Tĩnh cho thấy một quá trình chuyển biến đáng chú ý. Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) tổng thể của Tỉnh từ vị trí 59/63 năm 2020 tăng lên 22/63 năm 2021, sau đó biến động xuống 37/63 năm 2022, cải thiện lên 25/63 năm 2023 và 11/63 năm 2024. Năm 2025, mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối 100% cơ quan nhà nước; hệ thống quản lý văn bản được triển khai toàn Tỉnh; nhiều nền tảng dữ liệu, định danh và dịch vụ công được liên thông.

Tuy nhiên, thành công về hạ tầng và thứ hạng không đồng nghĩa với quản trị số đã đạt mức trưởng thành cao. Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh chỉ rõ năng lực tích hợp và khai thác dữ liệu liên ngành còn hạn chế, hạ tầng dữ liệu lớn (Big Data), trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Đồng thời, chỉ khoảng 50% cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ. Điều này đặt ra câu hỏi nghiên cứu cốt lõi: nhân tố nào quyết định hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số và tại sao việc có hạ tầng số chưa tự động chuyển hóa thành quản trị số hiệu quả?

Nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi này từ trường hợp Hà Tĩnh, qua đó rút ra hàm ý chính sách cho giai đoạn sau năm 2025, đặc biệt trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp - Hà Tĩnh còn 69 đơn vị hành chính cấp xã; sự thay đổi về mô hình quản trị, phân cấp và phân quyền đặt ra yêu cầu thiết kế lại phương thức điều hành số giữa cấp tỉnh và cấp xã.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết

Theo tiếp cận của nghiên cứu này, quản lý trong phát triển chính quyền số được hiểu là tổng thể hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm hoạch định chiến lược, xây dựng thể chế và tiêu chuẩn, tổ chức hạ tầng và dữ liệu, huy động nguồn lực, điều phối triển khai, kiểm tra giám sát, bảo đảm an toàn thông tin và đánh giá kết quả nhằm hình thành phương thức quản trị công dựa trên công nghệ và dữ liệu.

Khung nghiên cứu (Bảng 1) được tổng hợp từ Mô hình tiến hóa chính phủ số của Janowski (2015), cách tiếp cận chuyển đổi tổ chức của Mergel và cộng sự (2019), Lý thuyết giá trị công của Twizeyimana và Andersson (2019), Khung Digital Government Policy Framework của OECD (2020) và tiếp cận về chính phủ điện tử của Liên hợp quốc (UN DESA, 2024). Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc đặc biệt nhấn mạnh rằng khoảng cách số, năng lực của cán bộ địa phương, hạ tầng viễn thông, phối hợp giữa các cấp chính quyền, bảo vệ dữ liệu và an toàn mạng vẫn là những điều kiện quyết định tính bao trùm của CĐS.

Bảng 1: Khung các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số

Nhân tố

Cơ chế tác động chủ yếu

Biểu hiện quan sát

F1. Lãnh đạo và thể chế số

Xác lập ưu tiên, trách nhiệm và tính nhất quán chính sách

Nghị quyết, kế hoạch, KPI, trách nhiệm người đứng đầu

F2. Hạ tầng và nền tảng số

Tạo năng lực kết nối, xử lý và cung cấp dịch vụ

Băng rộng, 5G, mạng chuyên dùng, cloud, nền tảng dùng chung

F3. Dữ liệu, liên thông và an toàn thông tin

Chuyển từ quản lý theo hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu

CSDL dùng chung, LGSP/NGSP, tái sử dụng dữ liệu, ATTT

F4. Nhân lực và năng lực tổ chức

Quyết định khả năng sử dụng thực chất công nghệ

Kỹ năng số, mức độ sử dụng hệ thống, thay đổi quy trình

F5. Phối hợp và nguồn lực

Hạn chế cát cứ số, đầu tư trùng lặp, phân tán trách nhiệm

Phối hợp sở - xã, ngân sách, mua sắm, vận hành

F6. Người dùng và bao trùm số

Quyết định mức độ chuyển đổi từ “cung cấp” sang “sử dụng”

Hồ sơ trực tuyến, định danh số, kỹ năng và khả năng tiếp cận

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Janowski (2015), Mergel và cộng sự (2019), Twizeyimana và Andersson (2019), OECD (2020), UN DESA (2024)

Khung này đặt giả định rằng hiệu quả quản lý chính quyền số không phụ thuộc một nhân tố riêng lẻ mà được tạo ra từ tính bổ sung giữa thể chế, hạ tầng, dữ liệu, con người, phối hợp, người dùng. Một tỉnh có hạ tầng mạnh nhưng dữ liệu phân mảnh hoặc cán bộ ít sử dụng thì hiệu quả vẫn thấp. Ngược lại, thể chế tích cực nhưng hạ tầng và năng lực số không tương xứng cũng khó tạo ra giá trị công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp phân tích định tính và thống kê mô tả. Khoảng thời gian nghiên cứu là 2020-2025. Nguồn dữ liệu gồm: báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 do UBND tỉnh Hà Tĩnh - Sở Tài chính tổng hợp; dữ liệu DTI quốc gia; văn bản chính sách của Trung ương và Tỉnh; cùng các nghiên cứu quốc tế có liên quan. Báo cáo quy hoạch được sử dụng là tài liệu nền quan trọng của nghiên cứu.

Ba kỹ thuật được áp dụng: phân tích chuỗi thời gian để nhận diện biến động DTI; đối sánh không gian giữa Hà Tĩnh và các địa phương Bắc Trung Bộ; và đối chiếu bằng chứng thực tiễn với 6 nhóm nhân tố của khung lý thuyết.

Cần nhấn mạnh rằng, nghiên cứu không sử dụng điều tra sơ cấp và không ước lượng mô hình nhân quả, do đó các nhận định về “ảnh hưởng” được hiểu theo nghĩa bằng chứng hội tụ trong nghiên cứu trường hợp, không phải hệ số tác động kinh tế lượng. Đây là giới hạn cần được tuân thủ để tránh suy diễn từ tương quan thành quan hệ nhân quả.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thực trạng chuyển đổi số tại Hà Tĩnh giai đoạn 2020-2025

Bảng 2: Thực trạng phát triển chính quyền số Hà Tĩnh

Năm

DTI tổng thể

Xếp hạng

Hoạt động/chính quyền số

2020

0,2775

59/63

0,2732; hạng 60

2021

0,3272

22/63

0,3860; hạng 23

2022

0,5676

37/63

0,5962

2023

0,6993

25/63

0,7807; hạng 23

2024

0,7629

11/63

0,6331; hạng 16

Nguồn: Tổng hợp từ DTI quốc gia và Cổng TTĐT tỉnh Hà Tĩnh

Bảng 2 cho thấy quá trình phát triển không hoàn toàn tuyến tính. Hà Tĩnh có bước nhảy lớn năm 2021 nhưng thứ hạng giảm vào năm 2022, sau đó tăng trở lại trong 2 năm 2023-2024. Vì phương pháp và hệ thống chỉ tiêu DTI có sự điều chỉnh qua các kỳ, không nên đọc sự thay đổi điểm số như một chuỗi hoàn toàn đồng nhất; thứ hạng, cấu phần và bằng chứng vận hành cần được phân tích đồng thời.

Kết quả năm 2024 đáng lưu ý: Hà Tĩnh đạt điểm tối đa ở nhận thức số, thể chế số, nhân lực số và an toàn thông tin, nhưng hạ tầng số chỉ xếp thứ 51/63; hoạt động chính quyền số xếp thứ 16 và xã hội số thứ 36. Điều này củng cố nhận định rằng ưu thế về quyết tâm chính trị và tổ chức thực thi chưa hoàn toàn được chuyển hóa thành chất lượng hạ tầng, mức sử dụng và kết quả xã hội số tương ứng.

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng

Ảnh hưởng của năng lực lãnh đạo và thể chế

Đây là nhân tố có bằng chứng rõ nhất trong trường hợp Hà Tĩnh. Việc ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU từ năm 2021 đã chuyển CĐS từ nhiệm vụ chuyên môn của ngành công nghệ thông tin thành nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị (Tỉnh ủy Hà Tĩnh, 2021). Sự thay đổi này phù hợp với OECD (2020), theo đó CĐS thành công phải được gắn với chiến lược cải cách công, cơ chế điều phối và trách nhiệm thực thi, chứ không đặt riêng trong cơ quan công nghệ.

Sự cải thiện từ hạng 59 năm 2020 lên 22 vào năm 2021 và sau đó lên 11 vào năm 2024 cho thấy vai trò quan trọng của năng lực điều hành thể chế. Tuy nhiên, chính sách giai đoạn tiếp theo cần chuyển từ quản lý theo nhiệm vụ đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra: thay vì hỏi cơ quan đã xây dựng bao nhiêu phần mềm, cần đo tỷ lệ dữ liệu được tái sử dụng, thời gian xử lý giảm bao nhiêu, chi phí tuân thủ giảm thế nào và người dân có thực sự sử dụng dịch vụ số hay không.

Hạ tầng và nền tảng số

Đến năm 2025, Hà Tĩnh có 287.775 thuê bao băng rộng cố định; khoảng 73,5% hộ gia đình kết nối băng rộng cố định; trên 6.000 km cáp quang và 100% xã, phường được kết nối cáp quang. Mạng băng rộng di động có khoảng 1,159 triệu thuê bao, tương đương 86 thuê bao/100 dân; toàn Tỉnh có 3.819 trạm BTS và đã triển khai 5G tại 333 vị trí.

Đối với khu vực công, mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối 100% cơ quan nhà nước; hệ thống hội nghị trực tuyến kết nối tới 69 xã, phường. Đây là nền móng quan trọng giúp chính quyền 2 cấp tại địa phương vận hành trong không gian địa lý rộng hơn.

Tuy nhiên, DTI 2024 cho thấy hạ tầng số của Hà Tĩnh xếp 51/63 dù nhiều cấu phần khác đạt mức cao. Mâu thuẫn bề ngoài này thực chất phản ánh sự khác biệt giữa độ phủ kết nối và độ trưởng thành của hạ tầng số. Một chính quyền số hiện đại còn cần trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, năng lực xử lý dữ liệu thời gian thực, AI, IoT và khả năng dự phòng - phục hồi. Báo cáo của Tỉnh cũng thừa nhận các hạ tầng này còn hạn chế.

Quản trị dữ liệu và liên thông

Năm 2025, Hà Tĩnh quản lý và vận hành 124 nền tảng, phần mềm và cơ sở dữ liệu; trong đó có 56 nền tảng/cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia được triển khai và 68 hệ thống của địa phương. Trong 28 nền tảng, cơ sở dữ liệu dùng chung của Tỉnh, 16 nền tảng đã được kết nối liên thông với nền tảng dữ liệu quốc gia.

Kết quả số hóa thủ tục hành chính rất cao với 21,5/22 điểm về số hóa hồ sơ; tỷ lệ cấp kết quả điện tử đạt 99,8%, số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết đạt 99,87%, khai thác và tái sử dụng dữ liệu số hóa đạt 96,19%.

Song tồn tại cốt lõi lại nằm ở tầng quản trị dữ liệu. Báo cáo của Tỉnh xác định dữ liệu chuyên ngành còn phân tán, chưa hình thành đầy đủ kho dữ liệu mở, năng lực tích hợp và chia sẻ giữa các sở, ngành còn hạn chế. Như vậy, giai đoạn tới không nên tiếp tục coi “số hóa hồ sơ” là đích đến; trọng tâm phải là nguyên tắc nhập một lần - dùng nhiều lần, chuẩn hóa danh mục dữ liệu, xác lập chủ sở hữu dữ liệu và sử dụng dữ liệu cho dự báo, giám sát và ra quyết định.

Nhân lực số và năng lực tổ chức

Đây là một phát hiện có ý nghĩa quản trị. Hà Tĩnh đã cấp trên 16.873 tài khoản thư điện tử cho cán bộ, công chức, viên chức, nhưng báo cáo ghi nhận chỉ khoảng 50% thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ.

Sự khác biệt này cho thấy tỷ lệ cung cấp tài khoản hoặc thiết bị không thể đại diện đầy đủ cho năng lực số. Theo Mergel và cộng sự (2019), CĐS liên quan trực tiếp đến thay đổi văn hóa, quy trình và cách thức làm việc của tổ chức. Do đó, đào tạo cán bộ số cần chuyển từ tập huấn công cụ sang năng lực sử dụng dữ liệu, thiết kế lại quy trình, quản lý dự án số, an toàn dữ liệu và sử dụng AI có trách nhiệm.

Đặc biệt trong chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã trở thành nơi trực tiếp xử lý khối lượng lớn thủ tục và dữ liệu. Nếu không xây dựng đội ngũ công chức xã có năng lực số thực chất, nguy cơ hình thành nút thắt cuối cùng của chính quyền số là rất lớn.

Sự tham gia của người dân và khoảng cách số

Đến cuối năm 2025, Hà Tĩnh đã thu nhận 1.120.897 tài khoản định danh điện tử và hướng dẫn kích hoạt, sử dụng hơn 1,029 triệu tài khoản mức 2; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 97,02%, cao hơn 14,32 điểm phần trăm so với bình quân cả nước (82,7%) và dẫn đầu khu vực Bắc Trung Bộ.

Tuy nhiên, 73,5% hộ gia đình có kết nối băng rộng cố định đồng nghĩa vẫn còn dư địa đáng kể về khả năng tiếp cận. Kinh nghiệm quốc tế cũng cảnh báo rằng khoảng cách về hạ tầng, kỹ năng và khả năng sử dụng giữa đô thị, nông thôn có thể chuyển khoảng cách số thành khoảng cách tiếp cận dịch vụ công (UN DESA, 2024).

Do vậy, quản lý nhà nước không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệ thủ tục có thể làm trực tuyến, mà phải đánh giá tỷ lệ người dân tự thực hiện được, tỷ lệ phải nhờ cán bộ hỗ trợ, số lần phải khai lại dữ liệu, thời gian hoàn thành giao dịch và mức độ hài lòng.

Hàm ý chính sách

Thứ nhất, chuyển từ quản lý CĐS sang quản trị chính quyền số dựa trên kết quả. Bộ KPI cấp tỉnh và cấp xã cần giảm các chỉ tiêu “có/không” như có nền tảng, có cơ sở dữ liệu, có tài khoản, đồng thời tăng chỉ tiêu về thời gian giải quyết, tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu, chi phí tiết kiệm, mức độ hài lòng, tỷ lệ dịch vụ thực sự được sử dụng trực tuyến.

Thứ hai, xác lập dữ liệu là một loại tài sản công chiến lược. Hà Tĩnh cần xây dựng kiến trúc quản trị dữ liệu thống nhất: danh mục dữ liệu chủ, tiêu chuẩn chất lượng, cơ quan chịu trách nhiệm, quyền truy cập, cơ chế chia sẻ và quy trình kiểm toán dữ liệu. Kho dữ liệu dùng chung phải trở thành hạ tầng ra quyết định chứ không chỉ là kho lưu trữ.

Thứ ba, tái cấu trúc chính quyền số theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp tỉnh nên tập trung kiến trúc, tiêu chuẩn, nền tảng dùng chung, an toàn thông tin và phân tích dữ liệu; cấp xã tập trung tác nghiệp, cập nhật dữ liệu và phục vụ công dân. Không nên để từng xã mua sắm hoặc phát triển hệ thống độc lập, vì sẽ tái tạo tình trạng phân mảnh số.

Thứ tư, chuyển chính sách nhân lực từ đào tạo kỹ năng công nghệ thông tin sang năng lực quản trị số. Vị trí lãnh đạo, chuyên viên tham mưu và cán bộ tại trung tâm phục vụ hành chính công cần được đánh giá về năng lực khai thác dữ liệu, thiết kế quy trình số và quản lý rủi ro mạng. Tỷ lệ sử dụng thực tế phải trở thành KPI thay cho tỷ lệ được cấp tài khoản.

Thứ năm, đầu tư hạ tầng theo nguyên tắc dùng chung và ưu tiên những lớp còn thiếu. Hà Tĩnh đã đạt độ phủ kết nối tương đối cao; do đó vốn đầu tư mới nên ưu tiên cloud, trung tâm dữ liệu, nền tảng phân tích dữ liệu, API, AI, khả năng phục hồi hệ thống và an toàn dữ liệu hơn là tiếp tục phát triển các phần mềm đơn chức năng.

Thứ sáu, đặt người dân và doanh nghiệp vào trung tâm của đánh giá chính quyền số. Một dịch vụ chỉ thực sự số khi người dùng có thể hoàn tất toàn bộ hành trình mà không phải bổ sung giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu nhà nước.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh giai đoạn 2020-2025 đã có sự chuyển biến đáng kể. DTI của Tỉnh từ hạng 59/63 năm 2020 lên 11/63 năm 2024; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến năm 2025 đạt 97,02%; mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối 100% cơ quan nhà nước; nhiều nền tảng và cơ sở dữ liệu được tích hợp; tỷ lệ số hóa hồ sơ thủ tục hành chính đạt 99,87%. Những kết quả này phản ánh tác động tích cực của quyết tâm lãnh đạo, thể chế, đầu tư hạ tầng, nhân lực và quá trình chuẩn hóa các nền tảng dùng chung.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra 3 khoảng cách cần đặc biệt lưu ý: Một là khoảng cách giữa hạ tầng kết nối và hạ tầng dữ liệu; Hai là khoảng cách giữa được trang bị công cụ số và sử dụng số thường xuyên; Ba là khoảng cách giữa số hóa quy trình và quản trị thực sự dựa trên dữ liệu. Đây là lý do việc đánh giá chính quyền số trong giai đoạn mới không nên chỉ dựa vào số lượng phần mềm, tài khoản hoặc thủ tục trực tuyến.

Sáu nhóm nhân tố: lãnh đạo và thể chế; hạ tầng; dữ liệu và an toàn thông tin; nhân lực; phối hợp, nguồn lực; và mức độ tham gia của người dùng có mối quan hệ bổ trợ. Không nhân tố nào có thể thay thế nhân tố khác. Vì vậy, ưu tiên của Hà Tĩnh đến năm 2030 cần chuyển từ giai đoạn xây dựng chính quyền có công nghệ số sang vận hành chính quyền bằng dữ liệu số. Đây cũng là điều kiện để chính quyền địa phương 2 cấp giảm tầng nấc trung gian nhưng không làm giảm năng lực quản trị, đồng thời tạo ra giá trị công rõ ràng hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Hạn chế của nghiên cứu nằm ở việc sử dụng chủ yếu dữ liệu thứ cấp và phân tích trường hợp, chưa kiểm định định lượng quan hệ nhân quả giữa các nhân tố. Nghiên cứu tiếp theo nên xây dựng thang đo, khảo sát cán bộ, doanh nghiệp và người dân với mẫu đủ lớn, sử dụng SEM/PLS-SEM hoặc mô hình SEM đa nhóm để lượng hóa mức độ tác động, đồng thời so sánh nhóm phường/đô thị, xã đồng bằng/ven biển, xã miền núi/biên giới trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). CĐS tỉnh Hà Tĩnh - Kết quả DTI năm 2020-2021. Tài liệu về CĐS địa phương.

2. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh (2026). Hà Tĩnh lấy khoa học, công nghệ và CĐS làm động lực phát triển.

3. Cục CĐS quốc gia (2025). Hệ thống đánh giá và xếp hạng Chỉ số CĐS cấp tỉnh - DTI, dữ liệu các năm 2022-2024. Bộ Khoa học và Công nghệ.

4. Janowski, T. (2015). Digital government evolution: From transformation to contextualization. Government Information Quarterly, 32(3), 221-236. DOI: 10.1016/j.giq.2015.07.001

5. Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), 101385. DOI: 10.1016/j.giq.2019.06.002

6. OECD (2020). OECD Digital Government Index (DGI): Methodology and 2019 Results. OECD Working Papers on Public Governance.

7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

9. Tỉnh ủy Hà Tĩnh (2021). Nghị quyết số 05-NQ/TU về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo CĐS tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

10. Twizeyimana, J. D., & Andersson, A. (2019). The public value of E-Government - A literature review. Government Information Quarterly, 36(2), 167-178. DOI: 10.1016/j.giq.2019.01.001

11. UBND tỉnh Hà Tĩnh & Sở Tài chính (2026). Báo cáo tổng hợp Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

12. United Nations Department of Economic and Social Affairs - UN DESA (2024). United Nations E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development. United Nations.

Ngày nhận bài: 29/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/9/2026; Ngày duyệt đăng: 18/9/2026

Các tin khác

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Mua trước trả sau cho phép người tiêu dùng nhận hàng trước rồi thanh toán sau hoặc chia thành nhiều kỳ. Sự thuận tiện này cải thiện thanh khoản ngắn hạn nhưng cũng có thể làm mờ cảm nhận về tổng nghĩa vụ.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Đông Nam Bộ trong kỷ nguyên mới

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh/thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh, đặt ra yêu cầu mới về tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng quy mô và tốc độ phát triển.
Mô hình nghiên cứu các thành tố tiếp thị liên kết tác động đến hành vi mua nông sản vùng miền của người tiêu dùng đô thị Việt Nam

Mô hình nghiên cứu các thành tố tiếp thị liên kết tác động đến hành vi mua nông sản vùng miền của người tiêu dùng đô thị Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, tiếp thị liên kết được xem là một công cụ marketing số có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ thúc đẩy tiêu thụ nông sản thông qua mạng lưới người giới thiệu, nền tảng số và cơ chế chia sẻ lợi ích dựa trên hiệu quả chuyển đổi.
Khả năng hỗ trợ của công nghệ thông tin và niềm tin đối với nền tảng thương mại xã hội trong ngành hàng thời trang: Phương pháp SEM Bayesian

Khả năng hỗ trợ của công nghệ thông tin và niềm tin đối với nền tảng thương mại xã hội trong ngành hàng thời trang: Phương pháp SEM Bayesian

Thương mại xã hội đã trở thành một kênh bán lẻ chiếm ưu thế trong ngành hàng thời trang, nơi các quyết định mua hàng phụ thuộc vào tương tác xã hội và các tính năng của nền tảng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tata Coffee Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tata Coffee Việt Nam

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt và dòng chuyển dịch lao động trở nên mạnh mẽ, nguồn nhân lực đã được xác định là tài sản chiến lược quan trọng nhất của bất kỳ tổ chức nào.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp tại TP. Đồng Nai

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của du lịch nông nghiệp tại TP. Đồng Nai

Trong bối cảnh du lịch nông nghiệp, năng lực cạnh tranh còn phụ thuộc vào các cơ chế mềm nhưng có tính quyết định.
Năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp

Năng lực chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp

Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), năng lực chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt do hạn chế về nguồn lực nhưng phải thích ứng nhanh với thị trường.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức của hộ kinh doanh cá thể tại TP. Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức của hộ kinh doanh cá thể tại TP. Hà Nội

Hộ kinh doanh cá thể là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, có vai trò tạo việc làm, duy trì sinh kế và bổ sung nguồn cung hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế đô thị. Tuy nhiên, hộ kinh doanh cá thể vẫn gặp nhiều hạn chế khi tiếp cận tín dụng chính thức.
Phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa địa phương tại khu du lịch sinh thái Cồn Sơn, TP. Cần Thơ

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa địa phương tại khu du lịch sinh thái Cồn Sơn, TP. Cần Thơ

Trong xu thế du lịch toàn cầu, du lịch cộng đồng khẳng định vai trò là công cụ chiến lược thúc đẩy kinh tế bền vững, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Cồn Sơn (Cần Thơ) là một điển hình nghiên cứu tiêu biểu tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp tại Công ty Bao bì Minh Ngọc

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp tại Công ty Bao bì Minh Ngọc

Sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng duy trì quan hệ hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.