Thực trạng khai thác, sử dụng vốn xã hội của các hợp tác xã tại Đồng bằng sông Cửu Long
TS. Nguyễn Trung Đông
Email: [email protected]
Hồ Huy Quốc Cường
Email: [email protected]
Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích thực trạng khai thác, sử dụng vốn xã hội của các hợp tác xã tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy các hợp tác xã thủy sản khai thác, sử dụng vốn xã hội tốt hơn các hợp tác xã khác. Mặc dù vậy, các hợp tác xã vẫn còn gặp nhiều hạn chế trong việc sử dụng vốn xã hội. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị dành cho hợp tác xã và chính quyền để nâng cao năng lực khai thác, sử dụng vốn xã hội của hợp tác xã.
Từ khóa: Hợp tác xã, vốn xã hội, Đồng bằng sông Cửu Long
This study analyzes the current situation of the mobilization and utilization of social capital by cooperatives in the Mekong Delta. The findings indicate that fisheries cooperatives exploit and utilize social capital more effectively than other types of cooperatives. Nevertheless, cooperatives still face numerous constraints in leveraging social capital. On this basis, the study proposes several recommendations for cooperatives and local authorities to enhance the capacity to mobilize and effectively utilize social capital.
Keywords: Cooperatives, social capital, Mekong Delta.
GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tập thể của nước ta với nòng cốt là các hợp tác xã (HTX) đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể về mặt quy mô. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính (2024), số lượng HTX ở nước ta trong giai đoạn 2019-2023 đã tăng từ 24.204 lên 31.825 HTX (bình quân mỗi năm tăng thêm gần 2.000 HTX). Tuy nhiên, giai đoạn 2016-2023, số lượng thành viên HTX đã giảm từ 6,28 triệu người xuống còn 5,85 triệu người và số lao động tại các HTX đang hoạt động đã giảm từ 200.900 lao động xuống còn 163.100 lao động. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tập thể qua các năm đều thấp, chỉ bằng khoảng 1/2 tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Hệ quả là tỷ trọng của khu vực kinh tế tập thể trong cơ cấu GDP đã giảm từ 8,06% (năm 2001) xuống còn 3,62% (năm 2020) (Lê Minh Khái, 2024). Ngoài ra, số liệu thống kê về hiệu quả hoạt động cũng chỉ ra rằng khu vực kinh tế tập thể của nước ta đang hoạt động kém và quy mô còn nhỏ lẻ. Năm 2022, cả nước chỉ có 15.832 HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh (chiếm khoảng 49,7% tổng số HTX) và trong số đó chỉ có 49% HTX là có lãi. Về quy mô lao động, có tới 71,7% HTX có dưới 10 lao động và HTX có từ 50 lao động trở lên chỉ chiếm 1,5% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Những kết quả trên cho thấy, khu vực kinh tế tập thể đang ngày càng kém hấp dẫn, khó thu hút sự tham gia của người dân và chưa hoạt động hiệu quả. Nguyên nhân bắt nguồn từ mức độ vốn xã hội thấp và việc sử dụng vốn xã hội (VXH) chưa hiệu quả của các HTX.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, VXH có ảnh hưởng to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của HTX bởi nó có thể giúp cho HTX đạt được nhiều lợi thế như: có cơ hội kinh doanh mới, giảm chi phí giao dịch (Liang và cộng sự, 2015), huy động tài chính dễ dàng hơn (Yu và Nilsson, 2018), thích ứng trước các cú sốc (Hua và Brown, 2024), giảm bớt mâu thuẫn do sở hữu tập thể (Deng và cộng sự, 2021), nâng cao sự tự tin và khả năng làm việc nhóm của thành viên (Tenzin và Natsuda, 2016)…
Các nghiên cứu của Nguyễn Trung Đông và cộng sự (2024a, 2024b) tại các HTX ở ĐBSCL nhìn chung cho thấy các HTX có mức độ VXH chưa cao, nhiều thành viên của HTX chưa nhận thức rõ về VXH, chưa có sự tin tưởng vào HTX; đồng thời, sự hợp tác, tham gia vào các hoạt động còn hạn chế. Tiếp nối từ các nghiên cứu trên, nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng khai thác, sử dụng VXH trong các hoạt động của các HTX ở ĐBSCL nhằm làm sáng tỏ mức độ hiệu quả sử dụng VXH. Từ đó, đề xuất các khuyến nghị phù hợp cho HTX và chính quyền nhằm nâng cao năng lực sử dụng VXH, cải thiện hiệu quả hoạt động của HTX, góp phần thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của kinh tế tập thể nước ta.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực hiện phân tích, đánh giá dựa trên nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập được từ quá trình điều tra, khảo sát các HTX tại ĐBSCL. Tổng cộng có 128 HTX thuộc 5 lĩnh vực (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, chế biến - bảo quản, thương mại tổng hợp) tại 6 tỉnh ĐBSCL cũ (gồm Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Cà Mau) được lựa chọn để khảo sát trong năm 2024. Tại mỗi HTX, 4 hộ thành viên sẽ được chọn để phỏng vấn, tổng là 512 hộ, nhưng sau quá trình làm sạch, loại bỏ dữ liệu không đáng tin cậy, dữ liệu chỉ còn 490 hộ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng thực hiện thảo luận nhóm với các lãnh đạo và thành viên của 4 HTX tại mỗi tỉnh để thu thập thêm các ý kiến, đánh giá của các HTX.
Trong nghiên cứu này, các hoạt động của HTX bao gồm hoạt động dịch vụ (cung ứng đầu vào sản xuất, hàng tiêu dùng, tư vấn kỹ thuật và tổ chức tiêu thụ sản phẩm cho thành viên), hoạt động sản xuất (tự sản xuất các vật tư, đầu vào cho hoạt động sản xuất chính, hàng tiêu dùng, thực hiện chế biến, bảo quản nông sản cho thành viên) và hoạt động kinh doanh (mua bán hàng hóa, vật tư, chế biến, bảo quản nông sản cho người không phải thành viên).
THỰC TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trong hoạt động dịch vụ
Kết quả khảo sát tại Bảng 1 cho thấy có sự khác biệt giữa các HTX trong các lĩnh vực về mức độ khai thác, sử dụng VXH trong hoạt động dịch vụ. Cụ thể:
Tỷ lệ thành viên có tham gia đóng góp ý kiến để giúp cho HTX tổ chức, thực hiện dịch vụ hiệu quả hơn tại HTX thủy sản là cao nhất, lên tới gần 60%, tiếp đến là các HTX thuộc lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, thương mại tổng hợp và thấp nhất là HTX thương mại tổng hợp. Kết quả này cho thấy các HTX thủy sản đã tạo dựng được môi trường thuận lợi để thành viên cất lên tiếng nói, tích cực đóng góp ý kiến để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX và qua đó, VXH của HTX được củng cố thông qua tăng cường sự chia sẻ giữa các thành viên.
Đối với việc góp vốn và tài sản để tổ chức hoạt động dịch vụ, HTX thủy sản có tỷ lệ thành viên đóng góp cao nhất khi có tới 100% thành viên góp vốn và 17,5% thành viên góp tài sản, thể hiện sự tin tưởng và cam kết mạnh mẽ của các thành viên đối với các HTX này. Tỷ lệ góp vốn và tài sản ở những HTX cũng ở mức cao và trung bình, cho thấy các thành viên ít nhiều cũng có sự tham gia tích cực để phát triển HTX.
HTX thủy sản cũng có tỷ lệ thành viên tham gia tạo dịch vụ cao nhất trong các HTX, lên tới 17,5%, trong khi HTX thương mại tổng hợp có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 3%.
Tỷ lệ thành viên HTX mua và sử dụng dịch vụ do HTX cung ứng tại các HTX thuộc lĩnh vực chăn nuôi, chế biến - bảo quản và thương mại tổng hợp là cao nhất, xấp xỉ khoảng 90% trong khi tỷ lệ này ở lĩnh vực trồng trọt và thủy sản chỉ ở mức trung bình, đạt gần 60%. Nguyên nhân của sự chênh lệch này đến từ việc nhiều HTX trồng trọt và thủy sản chưa thể cung cấp dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thành viên và nhiều thành viên ưu tiên sử dụng dịch vụ cung cấp bởi bên ngoài do mối quan hệ sẵn có từ trước. Phần lớn thành viên hài lòng với chất lượng và giá cả dịch vụ cung cấp bởi HTX
Bảng 1: Kết quả khảo sát về khai thác, sử dụng vốn xã hội trong hoạt động dịch vụ của HTX
Đơn vị: %
|
Tiêu chí |
HTX trồng trọt |
HTX chăn nuôi |
HTX thủy sản |
HTX chế biến - bảo quản |
HTX thương mại tổng hợp |
|---|---|---|---|---|---|
|
Tỷ lệ thành viên tham gia ý kiến để HTX tổ chức dịch vụ hiệu quả hơn. |
26,6 |
38,5 |
58,8 |
8,3 |
15,0 |
|
Tỷ lệ thành viên tham gia góp vốn để tổ chức hoạt động dịch vụ. |
55,6 |
61,5 |
100,0 |
76,0 |
78,0 |
|
Tỷ lệ thành viên tham gia góp tài sản để tổ chức hoạt động dịch vụ. |
17,7 |
17,7 |
17,5 |
13,5 |
7,0 |
|
Tỷ lệ thành viên tham gia tạo dịch vụ phục vụ cho HTX. |
6,5
|
13,5 |
17,5 |
11,5 |
3,0 |
|
Tỷ lệ thành viên tham gia mua và sử dụng dịch vụ do HTX cung ứng. |
68,5 |
90,6 |
57,7 |
90,6 |
88,0 |
|
Tỷ lệ thành viên hài lòng về chất lượng dịch vụ của HTX. |
58,9 |
66,7 |
54,6 |
65,6 |
72,0 |
|
Tỷ lệ thành viên hài lòng về giá dịch vụ của HTX. |
54,0 |
76,0 |
11,3 |
82,3 |
67,0 |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Trong hoạt động sản xuất
Đối với hoạt động sản xuất của HTX, kết quả khảo sát tại Bảng 2 nhìn chung cho thấy, các HTX thuộc các lĩnh vực đều có phần lớn thành viên đồng tình việc tổ chức hoạt động sản xuất, trong đó HTX thủy sản có tỷ lệ thành viên đồng tình cao nhất, đạt hơn 90%. Riêng HTX trồng trọt có tỷ lệ thành viên đồng tình thấp hơn hẳn, chỉ đạt khoảng 66%. Nguyên nhân là do một số thành viên cảm thấy sự thiếu minh bạch trong quá trình quản lý sản xuất và có sự xung đột lợi ích giữa thành viên và ban quản lý HTX.
Tỷ lệ thành viên đóng góp ý kiến để hoạt động sản xuất hiệu quả hơn tại các HTX nhìn chung đều khá thấp, trong đó HTX thủy sản tiếp tục có tỷ lệ cao nhất, đạt khoảng 38% và thấp nhất là HTX chế biến - bảo quản với tỷ lệ là 5,2%, cho thấy các HTX thủy sản có môi trường thuận lợi để thành viên chia sẻ, đóng góp ý kiến hơn các HTX khác.
HTX thủy sản cũng có tỷ lệ thành viên đóng góp tài sản, công cụ và trực tiếp tham gia sản xuất cao nhất trong số các HTX, phản ánh sự tin tưởng và trách nhiệm cao của thành viên đối với HTX. Ngược lại, các HTX chăn nuôi và chế biến - bảo quản có tỷ lệ thành viên góp tài sản và trực tiếp sản xuất thấp hơn đáng kể do không có tài sản phù hợp và niềm tin đối với HTX còn thấp.
Tại các HTX, tỷ lệ thành viên mua và sử dụng hàng hóa do HTX sản xuất đều khá cao, đạt từ khoảng 50%-85%, cho thấy phần lớn các thành viên tin tưởng và ủng hộ hàng hóa của HTX và xu hướng này cũng được thể hiện qua tỷ lệ thành viên hài lòng với hoạt động sản xuất của HTX.
Tỷ lệ thành viên đề nghị tăng quy mô sản xuất của HTX chăn nuôi là cao nhất trong khi tỷ lệ này ở HTX chế biến - bảo quản là thấp nhất, cho thấy có sự khác biệt đáng kể về kỳ vọng của thành viên giữa các HTX.
Bảng 2: Kết quả khảo sát về khai thác, sử dụng vốn xã hội trong hoạt động sản xuất của HTX
Đơn vị: %
|
Tiêu chí |
HTX trồng trọt |
HTX chăn nuôi |
HTX thủy sản |
HTX chế biến - bảo quản |
|---|---|---|---|---|
|
Tỷ lệ thành viên đồng tình HTX tổ chức hoạt động sản xuất. |
66,1 |
90,6 |
88,7 |
88,5 |
|
Tỷ lệ thành viên có đóng góp ý kiến để HTX tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. |
14,5 |
8,3 |
38,1 |
5,2 |
|
Tỷ lệ thành viên tham gia góp tài sản để HTX tổ chức sản xuất. |
66,1 |
9,4 |
89,7 |
7,3 |
|
Tỷ lệ thành viên trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất của HTX. |
68,5 |
79,2 |
80,4 |
65, |
|
Tỷ lệ thành viên mua và sử dụng hàng hóa do HTX sản xuất ra. |
50,8 |
84,4 |
68,0 |
80,2 |
|
Tỷ lệ thành viên hài lòng về hoạt động sản xuất của HTX. |
37,9 |
65,6 |
41,2 |
60,4 |
|
Tỷ lệ thành viên đề nghị tăng quy mô hoạt động sản xuất của HTX. |
21,8 |
60,4 |
41,2 |
9,4 |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Trong hoạt động kinh doanh
Đối với hoạt động kinh doanh của HTX, kết quả khảo sát (Bảng 3) cho thấy, hầu hết các thành viên HTX đều tán thành hoạt động kinh doanh, trong đó tỷ lệ cao nhất là ở HTX chăn nuôi và thấp nhất ở HTX trồng trọt do sự thiếu minh bạch và xung đột lợi ích giữa thành viên với lãnh đạo HTX.
Tỷ lệ thành viên đóng góp ý kiến cho hoạt động kinh doanh của tất cả các HTX đều thấp, đa số ở mức từ 8%-1%, cho thấy các thành viên của các HTX có thể chưa dành nhiều sự quan tâm cho hoạt động kinh doanh.
Xu hướng này cũng được thể hiện qua việc tỷ lệ thành viên góp tài sản cho hoạt động kinh doanh của các HTX (trừ HTX chăn nuôi) thấp hơn tỷ lệ thành viên góp tài sản cho hoạt động dịch vụ và sản xuất.
Tỷ lệ thành viên hài lòng với hoạt động kinh doanh của các HTX ở mức trung bình và khá, chủ yếu dao động từ 50%-70%, cho thấy hoạt động kinh doanh của các HTX cơ bản hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của thành viên.
HTX trồng trọt có tỷ lệ thành viên đề nghị tăng quy mô hoạt động kinh doanh cao nhất trong số các HTX, đạt tới 54,8% mặc dù có tỷ lệ thành viên hài lòng thấp nhất, gợi ý rằng các hoạt động kinh doanh hiện hữu chưa thỏa mãn được kỳ vọng của các thành viên HTX. Ngược lại, những HTX có tỷ lệ thành viên hài lòng cao hơn lại ít đòi hỏi mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, cho thấy các thành viên HTX sẽ có xu hướng duy trì hiện trạng kinh doanh một khi đã hài lòng.
Bảng 3: Kết quả khảo sát về khai thác, sử dụng vốn xã hội trong hoạt động kinh doanh của HTX
Đơn vị: %
|
Tiêu chí |
HTX trồng trọt |
HTX chăn nuôi |
HTX thủy sản |
HTX chế biến - bảo quản |
HTX thương mại tổng hợp |
|---|---|---|---|---|---|
|
Tỷ lệ thành viên tán thành hoạt động kinh doanh của HTX. |
66,1 |
91,7 |
85,6 |
69,8 |
83,0 |
|
Tỷ lệ thành viên đóng góp ý kiến để HTX tổ chức kinh doanh hiệu quả hơn. |
8,9 |
8,3 |
8,3 |
4,2 |
11,0 |
|
Tỷ lệ thành viên góp tài sản để HTX tổ chức kinh doanh. |
2,4 |
22,9 |
12,4 |
3,1 |
7,0 |
|
Tỷ lệ thành viên hài lòng về hoạt động kinh doanh của HTX. |
46,0 |
55,2 |
54,6 |
59,4 |
73,0 |
|
Tỷ lệ thành viên đề nghị HTX tăng quy mô hoạt động kinh doanh. |
54,8 |
11,5 |
9,3 |
2,1 |
16,0 |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Nhìn chung, đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng VXH trong các hoạt động của HTX cho thấy HTX thủy sản đã khai thác, sử dụng VXH tốt hơn các HTX khác. Mặc dù vậy, các HTX vẫn còn gặp một số hạn chế, khó khăn trong việc tạo dựng và tận dụng hiệu quả nguồn VXH. Nhiều thành viên HTX không ủng hộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX do sự thiếu minh bạch và xung đột lợi ích giữa thành viên với ban quản lý HTX. Bên cạnh đó, tỷ lệ tham gia của các thành viên trong việc đóng góp ý kiến, tài sản, lao động cho HTX vẫn còn thấp, cho thấy nhiều HTX vẫn chưa khơi dậy được niềm tin, sự cam kết của thành viên đối với HTX, dẫn tới mức độ VXH thấp và khó chuyển đổi chúng thành các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển của HTX. Tỷ lệ thành viên hài lòng với các hoạt động dịch vụ và sản xuất, kinh doanh của HTX chỉ ở mức trung bình và khá, gợi ý rằng HTX sẽ cần phải cải thiện nhiều hơn để nâng cao sự hài lòng và niềm tin của thành viên đối với HTX.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nghiên cứu chỉ ra rằng, VXH là nguồn lực quan trọng hàng đầu của HTX bởi sự gắn kết, niềm tin và mối quan hệ của các thành viên là nền tảng để HTX tồn tại và phát triển. Khi HTX chưa thể khai thác, sử dụng VXH một cách hiệu quả, hiệu quả hoạt động của HTX cũng vì thế mà suy giảm theo, đồng thời làm xói mòn hơn nữa VXH của HTX do thành viên mất dần niềm tin, sự cam kết với HTX. Để nâng cao năng lực khai thác, sử dụng VXH của HTX, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị như sau:
Đối với HTX
Thứ nhất, các HTX cần dành sự ưu tiên cho việc phát triển và sử dụng VXH của HTX một cách hiệu quả. Theo đó, lãnh đạo và thành viên HTX cần nhận thức rõ rằng VXH có thể giúp cho HTX giải quyết được vấn đề thiếu thốn các loại vốn cần cho phát triển như: vốn tài chính, vốn tự nhiên (đất đai, ao hồ…), vốn vật chất (máy móc, công cụ…) thông qua việc huy động nguồn lực đóng góp từ thành viên và từ bên ngoài (chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ…).
Thứ hai, cải thiện tính minh bạch trong quá trình quản trị HTX. Để cải thiện được VXH, nhất là về các khía cạnh niềm tin, sự cam kết của thành viên và các tác nhân bên ngoài, HTX trước hết cần phải nâng cao sự minh bạch trong quản trị HTX bởi đây là yếu tố ảnh hưởng lớn niềm tin, thái độ của thành viên và các tác nhân bên ngoài tới HTX. Một số giải pháp mà HTX có thể thực hiện để cải thiện tính minh bạch gồm: (i) Đặt ra điều lệ, quy định tường minh và phổ biến chúng tới tất cả thành viên; (ii) Lãnh đạo HTX phải có trách nhiệm giải trình cao, giải thích rõ ràng các quyết định đưa ra để thành viên hiểu; (iii) Tích cực sử dụng các công cụ công nghệ trong điều hành hoạt động HTX bởi chúng có khả năng lưu trữ thông tin, thuận lợi để giám sát, kiểm tra.
Thứ ba, tăng cường sự chia sẻ, giao tiếp trong nội bộ HTX. Các HTX cần chủ động thúc đẩy sự chia sẻ thông tin và giao tiếp thường xuyên giữa các thành viên cũng như giữa thành viên với ban lãnh đạo HTX, bởi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng lòng tin, củng cố sự gắn kết và gia tăng VXH nội bộ. Để nâng cao sự chia sẻ, giao tiếp của thành viên, HTX có thể thực hiện một số giải pháp như: tổ chức định kỳ các buổi sinh hoạt cộng đồng, thiết lập các kênh trao đổi trực tuyến, triển khai các hoạt động giao lưu tập thể như: thể thao, văn nghệ.…
Đối với chính quyền
Một là, nâng cao năng lực phát triển và sử dụng VXH của HTX thông qua việc đào tạo và truyền thông. Cho tới nay, phần lớn các HTX vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức rõ về VXH và ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển của HTX. Do đó, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh việc đào tạo, truyền thông cho các HTX về VXH và vai trò của chúng thông qua các lớp tập huấn, hội thảo, tọa đàm… để nâng cao hơn nữa nhận thức của HTX.
Hai là, hỗ trợ hình thành các không gian sinh hoạt chung và tăng sự kết nối giữa các HTX. Chính quyền các cấp cần tạo điều kiện để các thành viên HTX tăng cường tương tác, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và tham gia thảo luận về hoạt động của HTX thông qua việc hỗ trợ xây dựng hội quán, hội nghề nghiệp, đồng thời đóng vai trò trung gian kết nối các HTX trong và ngoài địa phương. Qua đó, VXH giữa các thành viên và giữa các HTX được củng cố và tích lũy bền vững hơn.
Thứ ba, hỗ trợ có điều kiện dựa trên mức độ phát triển VXH của HTX. Theo đó, các chính sách hỗ trợ của chính quyền cần phải có thêm các điều kiện về mức độ phát triển VXH để thúc đẩy sự quan tâm của HTX đối với VXH, đảm bảo nguồn lực hỗ trợ đến được với HTX có năng lực khai thác, sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tình trạng HTX phụ thuộc vào chính sách hỗ trợ của chính quyền mà bỏ bê việc phát triển nguồn lực nội sinh của HTX là VXH.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Sách trắng HTX năm 2024. Nxb Thống kê.
2. Deng, W., Hendrikse, G., and Liang, Q. (2021). Internal social capital and the life cycle of agricultural cooperatives. Journal of Evolutionary Economics, 31(1), 301-323.
3. Hua, H. H., and Brown, P. R. (2024). Social capital enhances the resilience of agricultural cooperatives: Comparative case studies in the Mekong Delta, Vietnam. World Development Sustainability, 5.
4. Lê Minh Khái (2024). Để kinh tế tập thể, nòng cốt là HTX, phát triển bền vững, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. https://tapchicongsan.org.vn/media-story//asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/de-kinh-te-tap-the-nong-cot-la-hop-tac-xa-phat-trien-ben-vung-gop-phan-quan-trong-trong-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-cua-dat-nuoc
5. Liang, Q., Huang, Z., Lu, H., and Wang, X. (2015). Social Capital, Member Participation, and Cooperative Performance: Evidence from China’s Zhejiang. International Food and Agribusiness Management Review, 18(1), 49-78.
6. Nguyễn Trung Đông, Lê Hữu Quang, Khúc Hoàng Giang, Lưu Nguyên Trung (2024a). Đánh giá thực trạng VXH trong các HTX trồng trọt ở ĐBSCL giai đoạn 2015-2022. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 326(2), 124-132.
7. Nguyễn Trung Đông, Lê Hữu Quang, Khúc Hoàng Giang, Lưu Nguyên Trung (2024b). Nhận diện thực trạng VXH trong các HTX thủy sản ở ĐBSCL giai đoạn 2015-2022. Tạp chí Khoa học Đại học Công thương, 25(1), 18-26.
8. Tenzin, G., and Natsuda, K. (2016). Social capital, household income, and community development in Bhutan: A case study of a dairy cooperative. Development in Practice, 26(4), 467-480.
9. Yu, L., and Nilsson, J. (2018). Social capital and the financing performance of farmer cooperatives in Fujian Province, China. Agribusiness, 34(4), 847-864.
| Ngày nhận bài: 25/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/2/2026; Ngày duyệt đăng: 26/2/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách